Muhammad bin Nayef

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Muhammad bin Nayef
Prince Mohammed bin Naif bin Abdulaziz 2013-01-16.jpg
Mohammed bin Nayef Al Saud
Thái tử Saudi Arabia
Phó thủ tướng thứ nhất
29 tháng 4 năm 2015 – 21 tháng 6 năm 2017
Tiền nhiệm Muqrin bin Abdulaziz
Quân chủ Salman
Kế nhiệm Mohammad bin Salman
Bộ trưởng Nội vụ
Đương chức 5 tháng 11 năm 2012 – 21 tháng 6 năm 2017
Tiền nhiệm Ahmed bin Abdulaziz
Kế nhiệm Abdulaziz bin Saud Al Saud
Phó thái tử Saudi Arabia
Phó thủ tướng
Đương chức 23 tháng 1 năm 2015 – 29 tháng 4 năm 2015
Tiền nhiệm Muqrin bin Abdulaziz
Quân chủ Salman
Kế nhiệm Mohammad bin Salman
Thông tin chung
Phối ngẫu Reema bint Sultan Al Saud
Tên đầy đủ Muhammad bin Nayef bin Abdulaziz bin Abdul Rahman bin Faisal bin Turki bin Abdullah bin Muhammad bin Saud
Thân phụ Prince Nayef bin Abdulaziz Al Saud
Thân mẫu Al Jawhara bint Abdulaziz bin Musaed bin Jiluwi
Sinh 30 tháng 8, 1959 (58 tuổi)
Jeddah, Saudi Arabia
Tôn giáo Hồi giáo Sunni

Muhammad bin Nayef bin Abdulaziz Al Saud (tiếng Ả Rập:

محمد بن نايف بن عبد العزيز آل سعود

; sinh ngày 30 tháng 8 năm 1959) là một thành viên nổi bật dòng họ Saud, là người cháu của vua Salman và cháu nội của người sáng lập hoàng gia.[1][2] Ông từng là Phó Thủ tướng thứ nhất và Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ả Rập Saudi[3] và Chủ tịch Hội đồng Chính trị và An ninh. Vào ngày 29 tháng 4 năm 2015, ông được vua Salman sắc phong làm Thái tử, do đó ông trở thành người đầu tiên xếp hàng đến ngôi vua Ả-rập Xê-út. Ông bị truất phế tước Thái tử vào ngày 21 tháng 6 năm 2017, và thay thế bởi Hoàng tử Mohammad bin Salman.[4] Ông cũng được giải thoát khỏi tất cả các vị trí theo lệnh của hoàng gia.[5]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tử Muhammad sinh ra ở Jeddah vào ngày 30 tháng 8 năm 1959.[2][6] Ông là người con trai thứ nhì trong gia đình mười con của hoàng thân và là một trong mười người con của hoàng thân Nayef.[7][8]. Ông có một anh trai, Hoàng tử Saud, và một em trai, Hoàng tử Saud. Mẹ của họ là Al Jawhara bin Abdulaziz bin Musaed Al Jiluwi,[8][9] một thành viên của nhánh Al Jiluwi của họ Saud.

Cha của Muhammad, Nayef, là một trong bảy Sudairi, một tổ chức quyền lực của các con trai của người sáng lập vương quốc, vua Abdelaziz (được biết đến ở phương Tây với tên Ibn Saud), và Hussa bint Ahmed Al Sudairi. Như vậy, hoàng tử Muhammad có một vị trí đặc quyền đặc biệt trong nhà của nhà Saud: một cháu nội của hoàng đế sáng lập và con của một trong những đứa con yêu thích của nhà vua. Hai trong số những người bạn của Hoàng tử Muhammad, Fahd và Salman, đã cai trị là vua trong suốt cuộc đời của Muhammad.

Muhammad bin Nayef học tại Hoa Kỳ. Ông đã theo học tại trường Lewis & Clark College nhưng không nhận bằng. Ông tham dự các khóa học an ninh của FBI từ năm 1985 đến năm 1988, và được đào tạo với các đơn vị chống khủng bố của Scotland Yard từ năm 1992 đến năm 1994.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Saudi Arabia's king appoints new interior minister”. BBC. Ngày 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  2. ^ a ă “Council of Ministers: Membership”. Royal Embassy, Washington DC. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2015. 
  3. ^ “Saudi King Salman resolves succession by appointing nephew”. The Daily Star. Ngày 23 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2015. 
  4. ^ CNN, Nicole Chavez, Tamara Qiblawi and James Griffiths. “Saudi Arabia's king replaces nephew with son as heir to throne”. CNN. 
  5. ^ Kalin, Stephen (ngày 21 tháng 6 năm 2017). “Saudi king removes crown prince”. The Independent (London). 
  6. ^ “Royal Grandson Mohammed bin Nayef: A King in Waiting”. Al Akhbar. Ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2016. 
  7. ^ Stig Stenslie (ngày 21 tháng 8 năm 2012). Regime Stability in Saudi Arabia: The Challenge of Succession. Routledge. tr. 39. ISBN 978-1-136-51157-8. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2012. 
  8. ^ a ă Caryle Murphy (ngày 5 tháng 6 năm 2008). “The heir apparent”. Global Post. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2012. 
  9. ^ “Family Tree of Nayif bin Abdulaziz bin Abdul Rahman Al Saud”. Datarabia. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2012.