Nón lá

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nón lá che nắng che mưa cho người lao động ngoài đồng ruộng.
Nón lá được bày bán như là đồ lưu niệm tại Việt Nam.

Nón lá chính là một loại nón đội đầu truyền thống của các dân tộc Đông Á & Đông Nam Á như Nhật Bản, Lào, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam...

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nón lá đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ,Trống Đồng Đông Sơn, trên thạp đồng Đào Thịnh từ 2500-3000 năm về trước công nguyên. Người Việt cổ từ xưa đã biết lấy lá buộc lại làm vật che mưa, nắng. Ngày xưa nón được sử dụng rất rộng rãi, phổ biến...Chiếc nón lá có lịch sử rất lâu đời. Hình ảnh tiền thân của chiếc nón lá đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lữ, thạp đồng Đào Thịch vào khoảng 2500 – 3000 năm trước công nguyên. Từ xa xưa, nón lá đã hiện diện trong đời sống hằng ngày của người Việt Nam trong cuộc chiến đấu giữ nước, qua nhiều chuyện kể & tiểu thuyết. Trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, nghề chằm nón vẫn được duy trì & tồn tại đến ngày nay. Ở huế hiện nay có một số làng nghề chằm nón truyền thống như làng Đồng Di (Phú Vang), Dạ Lê (Hương Thủy) đặc biệt là làng nón Phủ Cam (huế),..Những làng nghề này đã tạo ra các sản phẩm công phu cũng là một trong những điểm thu hút khách du lịch.

Cấu tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Nón thường được đan bằng các loại lá khác nhau như lá cọ, lá nón, lá buông, rơm, tre, lá cối, lá hồ, lá du quy diệp chuyên làm nón v.v...Nón có thể có hoặc không có dây đeo làm bằng vải mềm hoặc nhung, lụa để giữ trên cổ.

Nón thường có hình chóp nhọn hay hơi tù, tuy nhiên vẫn có một số loại nón rộng bản & làm phẳng đỉnh. Lá nón được xếp trên một cái khung gồm các nan tre nhỏ uốn thành hình vòng cung, được ghim lại bằng sợi chỉ, hoặc các loại sợi tơ tằm,... giữ cho lá với khung bền chắc...

Cách làm[sửa | sửa mã nguồn]

Nón làm bằng nhiều vật liệu khác nhau nhưng chủ yếu bằng lá nón, chiếc nón được chuốt từng thanh tre mảnh, nhỏ & dẻo dai rồi uốn thành vòng tròn có đường kính to nhỏ khác nhau thành những cái vành nón, vành nón to nhất có đường kính rộng khoảng 40 xen- ti- mét, cái tiếp theo nhỏ dần. Có đến 16 cái vành, cái nhỏ nhất tròn bằng đồng xu. Tất cả được xếp tiếp nhau trên một cái khuôn hình chóp. Những chiếc lá nón được lấy về từ rừng đem phơi khô cho trắng được xếp từng cái chồng khít lên nhau cất trong những túi ni lông cho đỡ mốc. Khi đem ra làm nón người phụ nữ, thợ thủ công lấy từng chiếc lá, làm cho phẳng rồi lấy kéo cắt chéo đầu trên lấy kim xâu chúng lại với nhau chừng 24-25 chiếc lá cho một lượt sau đó xếp đều trên khuôn nón. Lá nón mỏng và cũng chóng hư khi gặp mưa nhiều nên các thợ thủ công nghĩ ngay ra tận dụng bẹ tre khô để làm lớp giữa hai lớp lá nón làm cho nón vừa cứng lại vừa bền. Khâu đoạn tiếp, thợ thủ công lấy dây cột chặt lá nón đã trải đều trên khuôn với khung nón rồi họ mới bắt đầu khâu. Người thợ đặt lá lên sườn nón rồi dùng dây cước & kim khâu để chằm nón thành hình chóp. Nón sau khi thành hình được quét một lớp dầu bóng để tăng độ bền & tính thẩm mĩ(có thể kể thêm trang trí mĩ thuật cho nón nghệ thuật).

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Nón lá Việt Nam.

Nón lá có nhiều loại như nón ngựa hay nón Gò Găng (sản xuấtBình Định, làm bằng lá dứa, thường dùng khi đội đầu cưỡi ngựa), nón quai thao (người miền Bắc Việt Nam thường dùng khi lễ hội), nón bài thơ (ở Huế, là thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hoặc một vài câu thơ), nón dấu (nón có chóp nhọn của lính thú thời phong kiến); nón rơm (nón làm bằng cọng rơm ép cứng); nón cời (loại nón xé te tua ở viền nón); nón gõ (nón làm bằng rơm, ghép cho lính thời phong kiến); nón lá sen (còn gọi là nón liên diệp); nón thúng (nón là tròn bầu giống cái thúng, thành ngữ "nón thúng quai thao"); nón khua (nón của người hầu các quan lại thời phong kiến); nón chảo (nón mo tròn trên đầu như cái chảo úp, nay ở Thái Lan còn dùng),..... Nhưng thông dụng nhất vẫn là nón hình chóp.

Công dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Nón lá của một lão nông Việt Nam

Che nắng, mưa, gắn liền với hình ảnh người nông dân ra đồng, thậm chí làm quạt khi nóng,đôi khi có thể múc nước rửa mặt. Ngày nay nón lá cũng được xem làm món quà đặc biệt cho du khách khi đến tham quan Việt Nam, một món trang sức hết sức mộc mạc, giản dị mang đậm bản sắc dân tộc.

Trong nghệ thuật, tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện nét dịu dàng, mềm mại kín đáo của người phụ nữ Việt Nam đã nhiều lần xuất hiện & đều nhận được những tràng pháo tay tán thưởng của khán giả. [cần dẫn nguồn] cách bảo quản: Quét lên mặt ngoài nón một lớp dầu bóng (loại chuyên dụng) hoặc bọc nón lại bằng một lớp ni - lông trong suốt...làm thế thì nón sẽ được bền hơn.

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]