Núi Bà Đen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Núi Bà Đen
Vietnamese cart with Nui Ba Den in background.jpg
Xe kéo bò (giống bò Bảy Núi) ở nông thôn Việt Nam, đằng sau là núi Bà Đen
Độ cao 996[1] m
Phần lồi 996[1] m
Vị trí
Núi Bà Đen trên bản đồ Việt Nam
Núi Bà Đen
Núi Bà Đen
Tọa độ 11°22′B 106°10′Đ / 11.367°B 106.167°Đ / 11.367; 106.167Tọa độ: 11°22′B 106°10′Đ / 11.367°B 106.167°Đ / 11.367; 106.167
Địa chất
Kiểu Núi lửa đã tắt
Leo núi
Hành trình dễ nhất Cáp treo Đi bộ đường dài

Núi Bà Đennúi nằm trong một quần thể di tích văn hóa lịch sử nổi tiếng bởi phong cảnh hữu tình và nhiều huyền thoại tại Tây Ninh. Theo Gia Định thành thông chí, tên gốc của núi Bà Đen là Bà Dinh. Những bậc kỳ lão địa phương thì cho rằng tên gốc là núi Một. Đến khoảng nửa thế kỷ XVIII mới xuất hiện tên gọi núi Bà Đênh, sau gọi trại dần thành núi Bà Đen. Cũng có người gọi là núi Điện Bà.[2]

Núi Bà Đen là ngọn núi cao nhất miền nam Việt Nam (986m) và là biểu tượng cho mảnh đất và con người Tây Ninh.

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm cách trung tâm ​​thành phố Tây Ninh 11 km, tại thành phố Tây Ninh, cách biên giới Việt Nam - Campuchia 52 km

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Linh Sơn Thiên Thạch, Một ngôi chùa trên núi Bà Đen

Núi Bà có diện tích 24 km², gồm 3 ngọn núi tạo thành: Núi Heo - Núi Phụng - Núi Bà Đen. Núi Bà Đen cao 986 m cao nhất Nam Bộ. Hệ thống chùa ở núi bà có, chùa Trung, chùa Bà, chùa Hang. Ngọn núi này thu hút khách thập phương vì cảnh núi non hùng vĩ. Đặc biệt, nơi đây còn gắn liền với truyền thuyết nàng Lý Thị Thiên Hương (Bà Đen).

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều truyền thuyết về Bà Đen:

  • Truyền thuyết thứ nhất cho rằng, ngày xưa, chủ vùng núi này là người phụ nữ Phù Nam có tên là Rê Đeng. Do người đời sau đọc trại thành Đen.
  • Truyền thuyết thứ hai cho rằng, bà Đen tên thật là Lý Thị Thiên Hương, con gái một vị quan trấn nhậm Trảng Bàng thuộc triều Nguyễn tên là Lý Thiên. Mẹ là bà Ðặng Ngọc Phụng, người gốc ở Bình Ðịnh vào Trảng Bàng lập nghiệp. Trong làng có chàng trai Lê Sĩ Triệt, mồ côi cha mẹ, văn hay võ giỏi. Lần nọ, Thiên Hương lên núi cúng chùa bị một đám côn đồ vây bắt. Giữa lúc nguy khốn thì chàng Lê Sĩ Triệt xông ra đánh đuổi, cứu được nàng. Ðể đáp ơn chàng, cha mẹ nàng Thiên Hương hứa gả nàng cho Lê Sĩ Triệt. Chưa kịp đám cưới thì Lý Thị Thiên Hương bị kẻ xấu vây bắt, toan hãm hiếp. Giữ lòng trung trinh, nàng Hương nhảy xuống khe núi tử tiết. Sau khi chết, Lý Thị Thiên Hương hiển thánh báo mộng cho vị sư trụ trì trên núi biết. Trong mộng, nàng Hương xuất hiện trong hình dáng một người phụ nữ đen đúa? Vị sư bèn đi tìm thi thể nàng đem về mai táng. Vì vậy, vị sư gọi nàng là nàng Đen. Người đời sau gọi là Bà Đen để tỏ lòng tôn kính.
  • Truyền thuyết thứ ba có ghi trong quyển "Sự tích Thánh Mẫu Phật Bà Tây Ninh" rằng: Thuở mới khai hoang vùng đất, một viên quan trấn thủ vùng chân núi Một có hai người con. Người con trai tên là Thạch Biên. Người con gái là Thạch Nương, tên thường gọi là Đênh. Khi nàng Đênh 13 tuổi, có một nhà sư tên là Trung Vân Danh, đạo hiệu Trừng Thanh tìm đến lưng chừng núi Một dựng chùa thờ Phật. Mộ đạo, nàng Đênh đã xin theo nhà sư Trừng Thanh học đạo. Thấy nàng Đênh xinh đẹp, quan trấn thủ Trảng Bàng cho người mai mối xin cưới cho con trai. Khi hai gia đình chuẩn bị lễ vật cho lễ cưới thì bất ngờ nàng mất tích. Gia đình hai bên cho người tìm kiếm khắp nơi thì phát hiện một khúc chân nghi là của nàng Đênh. Mọi người đồn đoán rằng nàng Đênh đã bị cọp vồ. Gia đình mai táng khúc chân và lập mộ cho nàng dưới chân núi.[2]

nhỏ

Leo núi Bà Đen[sửa | sửa mã nguồn]

Cáp treo lên núi Bà Đen

Có hai con đường lên đỉnh núi: Một đường mòn nằm sau lưng chùa Bà, đường này xấu, khó đi. Đoạn đường này tuy ngắn nhưng lại ẩn chứa nhiều nguy hiểm như đá lở, trơn trợt. Ở đây có 4 trạm tiếp tế thức ăn và lương thực.Tuy nhiên cung đường này lại rất thích hợp với những người đam mê phượt muốn thử thách bản lĩnh của mình. Một đường mòn khác bắt đầu từ đài Liệt sĩ đi men theo các trụ điện lên thẳng đỉnh núi. Đường này dễ đi nhưng dài, nắng, ít người qua lại và không có trạm tiếp tế. Trên đỉnh núi đặt 3 trụ phát sóng, khí hậu mát mẻ, ban đêm rất lạnh, nhiệt độ bình quân khoảng 15-17 độ vào ban đêm, không có dịch vụ chỉ có bán hai thứ là nước khoáng và mì tôm với giá bình dân. Một người bình thường mất từ 2h-4h để leo tới đỉnh.

Có một giao ước bất thành văn rằng: Khi leo núi cấm thốt tiếng "mệt". Những đoàn người hì hục leo núi, thỉnh thoảng hỏi nhau: "Mệt không?" Cả đoàn người phải đồng thanh hô lớn: "Khỏe!". Cho đến tận ngày nay giao ước này vẫn tồn tại. Họ tin rằng, đi viếng mà than thở mệt nhọc, sẽ không được Bà ban điều khấn xin, thậm chí còn gặp nguy hiểm khi leo núi.[2]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]