Nữ vương Tsuguko

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nữ vương Tsuguko
Nữ vương Cao Viên cung
Princess Tsuguko cropped 2 The New Year Greeting 2011 at the Tokyo Imperial Palace.jpg
Nữ vương Tsuguko xuất hiện trước công chúng nhân dịp đón chào năm mới 2011
Thông tin chung
Hoàng tộcHoàng thất Nhật Bản
Thân phụThân vương Norihito
Thân mẫuHisako Tottori
Sinh8 tháng 3, 1986 (35 tuổi)
Bệnh viện Aiiku, Minami-Azabu, Tokyo, Nhật Bản

Nữ vương Tsuguko (承子女王 (Cao Viên cung Thừa tử Nữ vương) Tsuguko Joō?, sinh ngày 8 tháng 3,1986) là thành viên của Hoàng gia Nhật Bản nhánh Cao Viên cung và là trưởng nữ của Thân vương NorihitoThân vương phi Hisako.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ vương Tsuguko xuất hiện trước công chúng tại Điện Trường Hòa (ngày 2 tháng 1 năm 2009)

Nữ vương Tsuguko sinh ngày 8 tháng 3 năm 1986 tại Bệnh viện Aiiku ở Minami-Azabu, Tokyo. Cô tốt nghiệp trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trung học phổ thông khoa nữ sinh của trường Gakushuin. Sau đó, cô vào Khoa nghiên cứu liên văn hóa của trường đại học nữ Gakushuin, nhưng đã bỏ học khoa này vào tháng 3 năm 2005. Cô theo học Đại học EdinburghScotland từ ngày 13 tháng 4 năm 2004 đến ngày 1 tháng 7 năm 2008, và cô đã được học ngành tâm lý học và xã hội học hình sự,[1][2] nhưng sau cũng từ bỏ khóa học này.[3][4][5]

Năm 2006, Nữ vương Tsuguko đại diện cho Hoàng gia Nhật Bản tham dự lễ kỷ niệm đám cưới bạc của Đại công tước HenriNữ đại công tước Maria Teresa của Luxembourg.

Năm 2008, cô được xếp hạng thứ 15 trong danh sách "Top 20 Thành viên Hoàng gia trẻ tuổi nổi tiếng nhất" do tạp chí Forbes tổng hợp và đưa ra danh sách những thành viên hoàng gia trẻ tuổi theo phương diện "sức hút với truyền thông quốc tế cũng như thế lực tài chính của gia tộc hoàng thất".[1]

Vào tháng 5 năm 2015, cô đã đến thăm thị trấn Watari, huyện Watari, tỉnh Miyagi, nơi đã bị hư hại do trận động đất và sóng thần Tōhoku năm 2011, với mẹ của cô là Thân vương phi Hisako. Cô đã đến thăm và giám sát Trụ sở Cảnh sát biển Vùng 2 của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản. Sau đó, cô cũng đến thăm Cứu hộ hàng hải Miyagi,nơi tổ chức khu vực của Cứu hộ hàng hải Nhật Bản mà mẹ cô là chủ tịch danh dự [6], cô đã tặng hoa cho các nạn nhân và bày tỏ sự cảm thông đối với họ.[7] Vào tháng 8 năm 2011, cô đã tham dự Triển lãm nghệ thuật toàn diện về người khuyết tật Tokyo lần thứ 28 được tổ chức tại cửa hàng chính của Cửa hàng bách hóa Seibu ở Ikebukuro, Toshima, Tokyo, với mẹ của cô. Cô cũng được chụp ảnh với người đoạt giải.[8]

Vào tháng 3 năm 2013, Nữ vương Tsuguko tốt nghiệp Trường Giáo dục các môn khai phóng Quốc tế, Đại học Waseda với bằng cử nhân.[9] Cô đã tham gia Ủy ban UNICEF Nhật Bản từ tháng 4 năm 2013.[10] Cô cũng tham dự các nghi lễ truyền thống tại Cung điện Hoàng gia và cùng mẹ cô đến một số sự kiện chính thức khác.[11] Vào tháng 8 năm 2013, cô đã đến thăm Sri Lanka theo lời mời của Tổng thống Mahinda Rajapaksa. Trước đó,vào năm 2012, Nhật Bản và Sri Lanka đã tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Nữ vương Tsuguko đã được Đệ nhất phu nhân Shiranthi Rajapaksa tiếp đón nồng hậu.[12]

Tước hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cách xưng hô với
Nữ vương Tsuguko
Takamado no miya mon

Hoàng nữ Tsuguko đã được phong làm Cao Viên cung Nữ vương.

Danh dự[sửa | sửa mã nguồn]

Danh dự quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bậc 2 của Huân chương Vương miện quý giá - JPN Hokan-sho 2Class BAR.svg

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b “The 20 Hottest Young Royals - 15. Princess Tsuguko”. Forbes. ngày 27 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2008. Không cho phép mã đánh dấu trong: |publisher= (trợ giúp)
  2. ^ “Personal History of Her Imperial Highness Princess Takamado and her family”. Imperial Household Agency. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2009. Không cho phép mã đánh dấu trong: |publisher= (trợ giúp)
  3. ^ 天皇 ・ 11 〜 平 20 年) Cơ quan hộ gia đình hoàng gia
  4. ^ Agency 『 Agency Cơ quan hộ gia đình hoàng gia
  5. ^ 承 子 MSN - MSN 産 経 ニ ュ ー スSankei Digital ngày 1 tháng 7 năm 2008
  6. ^ “名誉総裁 日本水難救済会”. Public Interest Incorporated Association Marine Rescue Japan. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016. Không cho phép mã đánh dấu trong: |publisher= (trợ giúp)
  7. ^ “「日本水難救済会名誉総裁・高円宮妃久子殿下及び承子女王殿下が 宮城県にお成りになり水難救済会をお見舞いされました」” (PDF). Public Interest Incorporated Association Marine Rescue Japan. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016. Không cho phép mã đánh dấu trong: |publisher= (trợ giúp)“ご献花,お見舞い及び被災状況ご視察(宮城県水難救済会亘理救難所仮事務所(亘理町))”. Imperial Household Agency. ngày 30 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016. Không cho phép mã đánh dấu trong: |publisher= (trợ giúp)
  8. ^ “東京都福祉保健局ホームページ「福祉保健2011年8月号」”. Tokyo Metropolitan Government. tháng 8 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016. Không cho phép mã đánh dấu trong: |publisher= (trợ giúp)
  9. ^ “承子さま、絢子さまが今月大学ご卒業 - 産経ニュース”. Sankei News (bằng tiếng Japanese). Sankei Shimbun. ngày 4 tháng 3 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2016.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  10. ^ “高円宮家の承子さま 日本ユニセフ協会に就職へ”. Tele-Asa news (bằng tiếng Japanese). TV Asahi. ngày 15 tháng 3 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2016.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  11. ^ “Imperial Family Attends Spring Garden Party”. Royal Hats blog. ngày 18 tháng 4 năm 2014.
  12. ^ “Japanese Princess Visits Sri Lanka”. Royal Hats blog. ngày 21 tháng 8 năm 2013.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]