NGC 2808

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
NGC 2808
NGC 2808 HST.jpg
NGC 2808 chụp bởi Kính thiên văn Hubble (HST)
Credit: HST/NASA/ESA.
Dữ liệu quan sát (Kỷ nguyên J2000)
Kiểu quang phổI[1]
Chòm saoThuyền Để
Xích kinh09h 12m 03.10s[2]
Xích vĩ–64° 51′ 48.6″[2]
Khoảng cách31,3 kly (9,6 kpc)[3]
Cấp sao biểu kiến (V)6.2[4]
Kích thước (V)13′.8[4]
Đặc trưng vật lý
Khối lượng142×106[3] M
Độ kim loại = –1.14[3] dex
Tuổi dự kiến10.2 tỷ năm[5]
Tên gọi khácGCl 13, Melotte 95[6]
Xem thêm: Cụm sao cầu, Danh sách cụm sao cầu

NGC 2808cụm sao cầu [6] trong chòm sao Thuyền Để. Cụm sao thuộc dải Ngân hà và là một trong những cụm khổng lồ nhất của thiên hà chúng ta, chứa hơn một triệu ngôi sao. Ước tính là 12,5 tỷ năm tuổi.

Thế hệ sao[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta đã nghĩ rằng NGC 2808, giống như các cụm sao cầu điển hình, chỉ chứa một thế hệ sao được hình thành đồng thời từ cùng một vật liệu. Vào năm 2007, một nhóm các nhà thiên văn học do Giampaolo Piotto của Đại học Padua ở Ý đã điều tra hình ảnh Kính viễn vọng Không gian Hubble của NGC 2808 được chụp vào năm 2005 và 2006 với Máy ảnh Khảo sát Nâng cao của Hubble. Thật bất ngờ, họ phát hiện ra rằng cụm sao này gồm có ba thế hệ sao, tất cả được sinh ra trong vòng 200 triệu năm kể từ khi hình thành cụm sao.[7]

Các nhà thiên văn học đã lập luận rằng các cụm sao cầu chỉ có thể tạo ra một thế hệ sao, bởi vì bức xạ từ các sao thế hệ thứ nhất sẽ đẩy khí dư không được tiêu thụ trong pha tạo sao đầu tiên ra khỏi cụm. Tuy nhiên, khối lượng lớn của một cụm như NGC 2808 có thể đủ để chống lại sự mất mát của vật chất khí. Do đó, một thế hệ sao thứ hai và thứ ba có thể hình thành.

Một lời giải thích khác cho ba thế hệ NGC 2808 là nó thực sự có thể là tàn dư của một thiên hà lùn va chạm với Dải Ngân hà, có tên Thiên hà Xúc xích.[8]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Shapley, Harlow; Sawyer, Helen B. (tháng 8 năm 1927), “A Classification of Globular Clusters”, Harvard College Observatory Bulletin, 849 (849): 11–14, Bibcode:1927BHarO.849...11S
  2. ^ a b Goldsbury, Ryan; và đồng nghiệp (tháng 12 năm 2010), “The ACS Survey of Galactic Globular Clusters. X. New Determinations of Centers for 65 Clusters”, The Astronomical Journal, 140 (6): 1830–1837, arXiv:1008.2755, Bibcode:2010AJ....140.1830G, doi:10.1088/0004-6256/140/6/1830.
  3. ^ a b c Boyles, J.; và đồng nghiệp (tháng 11 năm 2011), “Young Radio Pulsars in Galactic Globular Clusters”, The Astrophysical Journal, 742 (1): 51, arXiv:1108.4402, Bibcode:2011ApJ...742...51B, doi:10.1088/0004-637X/742/1/51
  4. ^ a b “Data for NGC 2808”. NGC/IC Project. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2013.
  5. ^ Koleva, M.; và đồng nghiệp (tháng 4 năm 2008), “Spectroscopic ages and metallicities of stellar populations: validation of full spectrum fitting”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society, 385 (4): 1998–2010, arXiv:0801.0871, Bibcode:2008MNRAS.385.1998K, doi:10.1111/j.1365-2966.2008.12908.x
  6. ^ a b “NGC 2808”. SIMBAD. Trung tâm dữ liệu thiên văn Strasbourg.
  7. ^ Piotto, G. (tháng 5 năm 2007). “A Triple Main Sequence in the Globular Cluster NGC 2808”. The Astrophysical Journal. 661 (1): L53–L56. arXiv:astro-ph/0703767. Bibcode:2007ApJ...661L..53P. doi:10.1086/518503. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  8. ^ C., Myeong, G.; W., Evans, N.; V., Belokurov; L., Sanders, J.; E., Koposov, S. (2018). “The Sausage Globular Clusters” (bằng tiếng Anh). Bibcode:2018arXiv180500453M. Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)