NGC 3147

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
NGC 3147
Dữ liệu quan sát
Xem thêm: Thiên hà, Danh sách thiên hà

NGC 3147 là một thiên hà xoắn ốc nằm trong chòm sao Draco. Nó nằm ở khoảng cách khoảng 130 triệu năm ánh sáng từ Trái đất, với kích thước rõ ràng, có nghĩa là NGC 3147 có chiều dài khoảng 140.000 năm ánh sáng. Nó được phát hiện bởi William Herschel vào ngày 3 tháng 4 năm 1785.[1] Đó là một thiên hà Seyfert loại II.

Kết cấu[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên hà có một hạt nhân nhỏ và sáng và quấn chặt nhiều nhánh xoắn ốc. Diện mạo tổng thể của thiên hà giống với NGC 488, tuy nhiên độ phồng hạt nhân nhỏ hơn. Các cánh tay bao gồm các phân đoạn xoắn ốc phân nhánh sau khoảng một phần tư của một cuộc cách mạng. Vùng HII có thể được giải độc trong vòng tay.[2]

Hạt nhân thiên hà hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

NGC 3147 đã được đặc trưng như một thiên hà Seyfert II. Nó được coi là ứng cử viên tốt nhất để trở thành thiên hà Seyfert loại II thực sự,[3] các thiên hà có phổ quang/UV thiếu các vạch phát xạ rộng do thiếu vùng rộng hơn là che khuất, vì hạt nhân được nhìn thấy đồng thời không bị che khuất trong tia X.[4]

Thiên hà đã được quan sát đồng thời trong phổ quang học và tia X của Bianchi et al. và kết luận rằng phổ tia X không được hấp thụ trong khi phổ quang học của nó thiếu các vạch rộng, một sự sai lệch đối với Mô hình Hợp nhất.[5] Birghtman và cộng sự. đã xác nhận phát hiện của họ và cũng lưu ý rằng thông lượng tia X cứng giảm theo hệ số ∼2 giữa quan sát của Chandra (2001) và XMM-Newton (2006).[6] Sự thay đổi thông lượng tiếp theo đã được Suzaku quan sát vào năm 2010, xác nhận tính biến đổi của nguồn.[3] Sự phát xạ hạt nhân trong dải UV cho thấy sự biến động không đáng kể.[7] Shi et al. sử dụng dữ liệu từ Kính viễn vọng Không gian Spitzer và các quan sát quang phổ quang học trên mặt đất và quan sát thấy thiếu các vạch phát xạ rộng phân cực trong NGC 3147.[8] NGC 3147 được NuSTAR quan sát thấy ở phổ tia X 3-40 keV, được đặc trưng bởi một định luật điện đơn giản, với tiêu chuẩn Γ ∼ 1.7 và một vạch phát xạ sắt, không cần thêm bất kỳ thành phần nào lên đến ∼ 40 keV.[4]

Có một cuộc tranh luận về việc thiếu phát hiện đường rộng quan sát được với NGC 3147 có phải do sự hiện diện của cột dày Compton với sự hiện diện của một vật phản xạ bị ion hóa cao để giải thích cho phổ tia X hay không.[4] Bianchi và cộng sự đã từ chối sự hiện diện của cột dày Compton với lý do chiều rộng tương đương thấp của dòng Kα sắt (30130 eV) và tỷ lệ lớn giữa thông lượng tia X cứng và [O III].[5] Birghtman và cộng sự. xác nhận phát hiện của họ bằng dữ liệu từ XMM-Newton và Chandra. Họ cũng nhận thấy rằng thông lượng tia X là thay đổi, có nghĩa là hạt nhân có thể được quan sát trực tiếp. Tuy nhiên, họ lưu ý rằng sự hiện diện của cột dày Compton không thể loại trừ.[6] Các quan sát của Suzaku trong phổ tia X cứng không phát ra nhiều ánh sáng hơn,[3] nhưng cùng với các quan sát được thực hiện bởi XMM-Newton đặt ra các ràng buộc chặt chẽ về mật độ cột.[4]

Sau những quan sát của Nustar năm 2015, Bianchi và cộng sự kết luận rằng các tính chất phổ và độ biến thiên đáng kể trên thang thời gian chỉ trong vài tuần hỗ trợ mạnh mẽ cho tầm nhìn không bị che khuất cho hạt nhân NGC 3147 và kịch bản dày Compton bị biến dạng mạnh.[4]

Siêu tân tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn siêu tân tinh đã được phát hiện trong NGC 3147: SN 1972H (mag. 15.1 [9]), SN 1997bq (mag. 14,5, loại Ia [10]), SN 2006gi (mag 15,6, loại Ib [11]) và SN 2008fv (mag. 14.8, loại Ia [12]).

Các thiên hà gần đó[sửa | sửa mã nguồn]

NGC 3147 là thiên hà sáng nhất trong nhóm NGC 3147, bao gồm NGC 3155, UGC 5570, UGC 5686 và UGC 5689. Xa hơn một chút là NGC 3183, NGC 3348, NGC 3364 và NGC 3516.[13]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • NGC 6814 - một thiên hà tương tự

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ NGC 3147 cseligman.com
  2. ^ Sandage, A.; Bedke, J. (1994). The Carnegie Atlas of Galaxies, Volume 1. Carnegie Institution of Washington. tr. 20. 
  3. ^ a ă â Matt, G.; Bianchi, S.; Guainazzi, M.; Barcons, X.; Panessa, F. (6 tháng 4 năm 2012). “The Suzaku X-ray spectrum of NGC 3147”. Astronomy & Astrophysics 540: A111. Bibcode:2012A&A...540A.111M. arXiv:1204.0946. doi:10.1051/0004-6361/201118729. 
  4. ^ a ă â b c Bianchi, Stefano; Marinucci, Andrea; Matt, Giorgio; Middei, Riccardo; Barcons, Xavier; Bassani, Loredana; Carrera, Francisco J.; La Franca, Fabio; Panessa, Francesca (tháng 7 năm 2017). “The NuSTAR view of the true type 2 Seyfert NGC 3147”. Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 468 (3): 2740–2744. Bibcode:2017MNRAS.468.2740B. arXiv:1703.04586. doi:10.1093/mnras/stx662. 
  5. ^ a ă Bianchi, S.; Corral, A.; Panessa, F.; Barcons, X.; Matt, G.; Bassani, L.; Carrera, F. J.; Jiménez-Bailón, E. (31 tháng 1 năm 2008). “NGC 3147: a 'true' type 2 Seyfert galaxy without the broad-line region”. Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 385 (1): 195–199. Bibcode:2008MNRAS.385..195B. arXiv:0710.4226. doi:10.1111/j.1365-2966.2007.12625.x. 
  6. ^ a ă Brightman, Murray; Nandra, Kirpal (1 tháng 11 năm 2008). “On the nature of unabsorbed Seyfert 2 galaxies”. Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 390 (3): 1241–1249. Bibcode:2008MNRAS.390.1241B. arXiv:0808.2385. doi:10.1111/j.1365-2966.2008.13841.x. 
  7. ^ Andreoni, I.; D’Avanzo, P.; Campana, S.; Branchesi, M.; Bernardini, M. G.; Della Valle, M.; Mannucci, F.; Melandri, A.; Tagliaferri, G. (4 tháng 3 năm 2016). “A time domain experiment with Swift: monitoring of seven nearby galaxies”. Astronomy & Astrophysics 587: A147. Bibcode:2016A&A...587A.147A. arXiv:1601.03739. doi:10.1051/0004-6361/201527167. 
  8. ^ Shi, Yong; Rieke, George H.; Smith, Paul; Rigby, Jane; Hines, Dean; Donley, Jennifer; Schmidt, Gary; Diamond-Stanic, Aleksandar M. (1 tháng 5 năm 2010). “UNOBSCURED TYPE 2 ACTIVE GALACTIC NUCLEI”. The Astrophysical Journal 714 (1): 115–129. Bibcode:2010ApJ...714..115S. arXiv:1004.2077. doi:10.1088/0004-637X/714/1/115. 
  9. ^ “1972H - The Open Supernova Catalog”. sne.space. 
  10. ^ “1997bq - The Open Supernova Catalog”. sne.space. 
  11. ^ “2006gi - The Open Supernova Catalog”. sne.space. 
  12. ^ “2008fv - The Open Supernova Catalog”. sne.space. 
  13. ^ Makarov, Dmitry; Karachentsev, Igor (21 tháng 4 năm 2011). “Galaxy groups and clouds in the local (z∼ 0.01) Universe”. Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 412 (4): 2498–2520. Bibcode:2011MNRAS.412.2498M. arXiv:1011.6277. doi:10.1111/j.1365-2966.2010.18071.x. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]