NSV

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
NSV
NSVT (2).JPG
Khẩu NSVT gắn trên chiếc APC của Phần Lan
Loại Súng máy hạng nặng
Quốc gia chế tạo  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ 1971 – Nay
Sử dụng bởi Xem các nước sử dụng
Cuộc chiến tranh
  • Chiến tranh Afghanistan (1978–1992)
  • Chiến tranh Nagorno-Karabakh
  • Chiến tranh vùng Vịnh
  • Chiến tranh Iraq
  • Lược sử chế tạo
    Người thiết kế G.I. Nikitin, Y.S. Sokolov, V.I. Volkov
    Năm thiết kế 1969
    Các biến thể NSVT
    Thông số
    Khối lượng
  • 25 kg (chỉ có súng)
  • 41 kg (với bệ chống ba chân)
  • 11 kg (dây đạn 50 viên)
  • Chiều dài 1.560 mm

    Đạn 12,7x108mm
    Cơ cấu hoạt động Nạp đạn bằng khí nén
    Tốc độ bắn 700–800 viên/phút
    Vận tốc mũi 845 m/s
    Tầm bắn hiệu quả
  • 1,5 km khi phòng không
  • 2 km khi tấn công các mục tiêu mặt đất
  • Chế độ nạp Dây đạn 50 viên

    NSV (tiếng Nga: НСВ viết tắc của Никитина-Соколова-Волкова) là một loại súng máy hạng nặng sử dụng loại đạn 12.7x108mm của Liên Xô, được thiết kế bởi G. I. Nikitin (Г. И. Никитин), Y. S. Sokolov (Ю. М. Соколов) và V. I. Volkov (В. И. Волков). NSV được thiết kế để thay thế khẩu DShK và đã được đưa vào sử dụng trong quân đội Liên Xô năm 1971.

    NSV có trọng lượng 55 kg và có tốc độ bắn 13 viên/giây với tầm hiệu quả là 1.500 m. Dây đạn 50 viên đầy đạn của nó có trọng lượng 11 kg. Sức công phá của NSV tương tự như khẩu DShK (do dùng chung cỡ đạn), nhưng trọng lượng của NSV nhẹ hơn đáng kể, giúp bộ binh dễ dàng hơn trong việc mang vác.

    NSV thường được gắn trên xe tăng T-72 trong khi phiên bản NSVT gắn trên xe tăng T-64T-80.

    Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

    Quân đội Xô Viết bắt đầu tìm kiếm một loại súng HMG mới thay thế cho các khẩu SG-43 GoryunovRPD vào đầu những năm 1950. Quân đội Xô Viết thích một thiết kế giống như khẩu MG 42 của Đức một loại vũ khí đa năng có thể gắn ở bất cứ đâu vào chiến đấu trong nhiều tình huống. Hai nhà thiết kế vũ khí đã được nhờ để thiết kế một loại vũ khí có thể tận dụng mọi nguyên tắc tương ứng.

    Tuy nhiên có một mẫu khác được thí nghiệm và đã được phê duyệt do Mikhail Kalashnikov phát triển, nó được đánh giá là rẻ và đáng tin cậy hơn thiết kế của Grigory Nikitin và Yuri Sokolov. Mẫu súng máy của Kalashnikov đã trở thành loại súng máy tiêu chuẩn và được đặc tên là PK.

    Dù vậy thiết kế của Nikitin và Sokolov không bị lãng quên. Nó được chuyển thành súng HMG NSV 10 năm sau đó và trở thành loại thay thế cho DShK/DShKM. Nó được đưa vào phục vụ trong quân đội Xô Viết năm 1971. bản quyền chế tạo loại súng này cũng được trao cho Bulgaria, Ấn Độ, Ba LanYugoslavia. Phiên bản sản xuất tại Yugoslavian có tên Zastava M87.

    Sau khi Liên Xô tan rã, bản quyền sản xuất NSV thuộc về UkrainaKazakhstan. Do quân đội Nga cần một loại HMG chính xác hơn và việc tìm các phụ tùng thay thế cho NSV khá khó vì Nga không còn bản quyền sản xuất, họ đã tự thiết kế và sản xuất HMG Kord để thay thế NSV trong biên chế.

    NSV cũng được sản xuất tại Bulgaria, Ấn Độ, Ba LanYugoslavia dưới giấy phép sản xuất có bản quyền.

    Các biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

    • M87 NSVT mẫu sản xuất ở Serbian bởi Zastava Arms. M87 được thấy sử dụng trong quân đội Yugoslav.
    • WKM-B mẫu do Ba Lan sản xuất sử dụng loại đạn .50 BMG tiêu chuẩn của NATO.

    Các nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

    Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]