Nalanda

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Trường Đại học Phật giáo Nalanda
Nalanda University India ruins.jpg
Phế tích của Nalanda Mahavihara
Nalanda trên bản đồ Ấn Độ
Nalanda
Vị trí trên bản đồ Ấn Độ
Vị tríNalanda, Bihar, Ấn Độ
Tọa độ25°08′12″B 85°26′38″Đ / 25,13667°B 85,44389°Đ / 25.13667; 85.44389Tọa độ: 25°08′12″B 85°26′38″Đ / 25,13667°B 85,44389°Đ / 25.13667; 85.44389
LoạiTrung tâm học thuật
Chiều dài800 ft (240 m)
Chiều rộng1.600 ft (490 m)
Diện tích12 ha (30 mẫu Anh)
Lịch sử
Thành lậpThế kỷ 5
Bị bỏ rơiThế kỷ 13
Nền văn hóaPhật giáo, đôi khi học về Ấn Độ giáo
Sự kiệnCó thể bị phá hủy bởi Bakhtiyar Khalji vào năm k. 1200 CE
Các ghi chú về di chỉ
Khai quật ngày1915–1937, 1974–1982[1]
Các nhà khảo cổ họcDavid B. Spooner, Hiranand Sastri, J.A. Page, M. Kuraishi, G.C. Chandra, N. Nazim, Amalananda Ghosh[2]
Mở cửa công chúng
WebsiteASI
ASI No. N-BR-43[3]
Tên chínhĐịa điểm khảo cổ Nalanda Mahavihara (Đại học Nalanda) tại Nalanda, Bihar
Tiêu chuẩnVăn hóa: iv, vi
Tham khảo1502
Công nhận2016 (Kỳ họp 40)
Diện tích23 ha
Vùng đệm57,88 ha

Nālandā (Bản mẫu:IAST3; /naːlən̪d̪aː/, phiên âm Hán-Việt: Na Lan Đà) là một trung tâm học tập bậc cao thời cổ đại, một tu viện Phật giáo lớn nằm ở vương quốc cổ Magadha, ngày nay thuộc tiểu bang Bihar, Ấn Độ. Địa điểm này nằm cách Patna chừng 95 kilômét (59 mi) về phía đông nam, gần thành phố Bihar Sharif và là một trung tâm học thuật quan trọng từ thế kỷ thứ 5 đến phát triển rực rỡ trong giai đoạn từ thời vua Śakrāditya (danh tánh của người này chưa được chắn chắn, có thể là triều vua Kumara Gupta I hoặc Kumara Gupta II) đến năm 1197. Ngày nay, Nalanda là một Di sản thế giới được UNESCO công nhận từ năm 2016.[4][5]

Tên nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Có một số giả thuyết về sự tồn tại của cái tên Nālandā. Theo một cao tăng hành hương Trung Quốc thời nhà Đường là Huyền Trang thì tên của nó xuất phát từ Na al,lllam dā có nghĩa là "Tài năng vô tận" hay "Long khoan dung không bao giờ ngừng". Còn theo một nhà sư khác là Nghĩa Tịnh, cái tên bắt nguồn từ Nāga Nanda đề cập đến tên của một con rắn trong bể chứa nước lớn địa phương.[6] Nhà khảo cổ học Ấn Độ Hiranand Sastri, người đứng đầu trong các cuộc khai quật di tích, cho rằng cái tên của nó xuất phát từ sự phong phú nālas (cây sen) trong khu vực và Nalanda đại diện cho người đã đưa cây sen đến đây.[7]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nalanda nhận được sự bảo hộ của các vị hoàng đế theo Ấn giáo thời Đế quốc Gupta cũng như các vị hoàng đế theo Phật giáo như Harsha và những hoàng đế của Đế quốc Pala thời kỳ sau đó.[8]

Khu phức hợp Nalanda được xây dựng bằng gạch đỏ, ngày nay phế tích này nằm trên một diện tích rộng 14 héc-ta (488×244 mét).[9] Vào thời hoàng kim của mình, Viện Đại học Nalanda thu hút học giả và sinh viên từ cả các vùng xa xôi như Tây Tạng, Trung Quốc, Hy Lạp, và Ba Tư.[10] Nalanda bị một đội quân Hồi giáo người Turk do Bakhtiyar Khilji chỉ huy tàn phá vào năm 1193. Thư viện của Viện Đại học Nalanda lớn đến mức mất đến ba tháng mới cháy hết khi nó bị những kẻ xâm lăng châm lửa đốt, tàn phá các tự viện, và đuổi các tu sĩ ra khỏi khu vực. Năm 2006, Singapore, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, và các nước khác tuyên bố một dự án tôn tạo và phục hồi địa điểm cổ xưa này.

Các nhân vật lịch sử gắn với Nalanda[sửa | sửa mã nguồn]

Cả MahaviraThích-ca Mâu-ni đều đã đến thăm Nalanda trong thế kỷ 6 và 5 TCN[1]. Nó cũng là nơi sinh ra và nơi nhập niết bàn của Xá-lợi-phất (Shariputra), một trong số các môn đồ nổi tiếng của Phật Thích Ca[11]. Nhiều học giả và nhân vật lịch sử cũng gắn liền với Nalanda, chẳng hạn như,

  • Aryabhata (476–550): nhà toán học và thiên văn học người Ấn Độ.[12]
  • Aryadeva (thế kỷ thứ 3; danh xưng khác: Kanadeva, Đề Bà [Bồ Tát], Thánh Thiên Tôn Giả, Phiến Mục Thiên): môn đồ của Nagarjuna (Long Thụ).[13] :43
  • Atisa (980–1054; Nhiên Đăng Cát Tường Trí)
  • Chandrakirti (Nguyệt Xứng), môn đồ của Nagarjuna.
  • Dharmakirti (Pháp Xứng), luận sư Phật giáo[14]
  • Dharmapala (Hộ pháp)
  • Dinnaga (Trần-na Bồ Tát, Đại Vực Long), luận sư của Duy thức tông.
  • Jinamitra
  • Đại Thành Tựu Giả Saraha
  • Nagarjuna:43
  • Padmasambhava (Liên-hoa-sinh), đại sư truyền Kim cương thừa (vajrayana) vào Tây Tạng
  • Shantarakshita, một cao tăng của Trung quán tông, người thành lập tăng đoàn Phật giáo đầu tiên tại Tây Tạng, và cùng với Liên-hoa-sinh lập ngôi chùa Phật giáo đầu tiên tại Tây Tạng.
  • Shilabhadra (Giới Hiền, Thi-la Bạt-đà-la), thầy dạy của sư Huyền Trang (Đường Tăng)[15]
  • Huyền Trang, cao tăng thời Đường, từng hành hương tới Ấn Độ[16] :191
  • Nghĩa Tịnh, cao tăng đời Đường, dịch giả nổi tiếng trong việc dịch kinh sách Phật từ tiếng Phạn sang tiếng Trung [16]:197
  • Liên Hoa Giới lụân sư
  • Naropa, đại thành tựu giả của Ấn Độ, đã từng học tập tại đây

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Nalanda”. Archaeological Survey of India. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp) Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “asi1” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  2. ^ Le 2010, tr. 59.
  3. ^ “Alphabetical List of Monuments – Bihar”. Archaeological Survey of India. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  4. ^ “Four sites inscribed on UNESCO’s World Heritage List”. whc.unesco.org (bằng tiếng Anh). UNESCO World Heritage Centre. 15 tháng 7 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  5. ^ “Chandigarh's Capitol Complex makes it to UNESCO's World Heritage List”. Economic Times. 18 tháng 7 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  6. ^ Ghosh 1965, tr. 3.
  7. ^ Hiranand Sastri 1986, tr. 3–4.
  8. ^ Sukumar Dutt (1962). Buddhist Monks And Monasteries of India: Their History And Contribution To Indian Culture. George Allen and Unwin Ltd, London. tr. 329. ISBN 81-208-0498-8. 
  9. ^ The First Spring: The Golden Age of India – Abraham Eraly – Google Boeken. Books.google.com. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2013.
  10. ^ Nalanda Digital Library. “Nalanda Digital Library-Nalanda Heritage-Nalanda,the first residential international University of the World”. Nalanda.nitc.ac.in. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010. 
  11. ^ Jayapalan N. (2000). History Of Education In India. Atlantic Publishers & Dist. tr. 29–33. ISBN 8171569226. 
  12. ^ Jarzombek, Mark M.; Prakash, Vikramaditya; Ching, Francis D.K. (2011). A Global History of Architecture. John Wiley & Sons. tr. 312. ISBN 0470902450. 
  13. ^ Wayman, Alex (1984). Buddhist Insight: Essays. Motilal Banarsidass. tr. 470. ISBN 8120806751. 
  14. ^ Collins, Randall (2000). The sociology of philosophies: a global theory of intellectual change. Volume 30, Issue 2 of Philosophy of the social sciences. Nhà in Đại học Harvard. tr. 240. ISBN 978-0-674-00187-9. 
  15. ^ Joshi, Lal Mani (1977). Studies in the Buddhistic Culture of India During the Seventh and Eighth Centuries A.D. Motilal Banarsidass Publications. ISBN 8120802810. 
  16. ^ a ă Sankalia, Hasmukhlal Dhirajlal (1934). The University of Nālandā. B. G. Paul & co. tr. 259. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]