Nam Hồng Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nam Hồng Sơn là môn võ do võ sư Nguyễn Nguyên Tộ[cần dẫn nguồn] sáng lập trên cơ sở kết hợp võ thuật Trung Hoa và võ thuật cổ truyền Việt Nam. Sau một thời gian gián đoạn, từ năm 1984 con trai trưởng của ông tiếp tục phát triển Nam Hồng Sơn trên địa bàn Hà NộiHà Tây, Việt Nam. Võ sinh Nam Hồng Sơn tập luyện bằng võ thuật Trung Hoa ở những năm đầu, sau đó mới học võ thuật cổ truyền Việt Nam, kết hợp cả võ thuật tay không và binh khí.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Nguyên Tộ (1895-1984), còn có tên là Sáu Tộ là võ sư nổi tiếng trong làng võ Hà Nội. Ông là bạn của các bậc tiền bối võ thuật Việt Nam như Ba Cát, Hàn Bái, Cử Tốn. Từ nhỏ ông đã được học võ dân tộc của những người đã dự kỳ thi võ của triều đình Huế, sau đó ông học thêm một số môn phái võ Trung Hoa để bổ sung cho môn võ của mình. Trong suốt cuộc đời, ông đã đóng góp nhiều công sức cho việc truyền bá, giảng dạy võ dân tộc.

Trưởng nam của ông, võ sư Nguyễn Văn Tỵ từ năm lên 9 tuổi đã được cha truyền dạy võ. Vào năm 1954, khi ông lên tuổi 17, ông đã dạy lớp võ đầu tiên để tự vệ quê nhà tại làng Văn Hội, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Trong thời gian chiến tranh chống Mĩ, võ sư Nguyễn Văn Tỵ phải gác võ thuật sang một bên và bước sang lĩnh vực đàn guitar, suốt từ năm 1957 đến năm 1984.

Từ năm 1984, phong trào võ thuật thủ đô được khôi phục, võ sư Nguyễn Văn Tỵ vừa dạy đàn vừa dạy võ. Sau khi Nguyễn Nguyên Tộ mất, kế thừa di huấn của ông, Nguyễn Văn Tỵ đã đưa Nam Hồng Sơn đến với thanh niên Hà Nội, Hà Tây, với hàng ngàn thanh niên tham gia trong đó có nhiều người nước ngoài. Tại các kì hội diễn võ thuật cổ truyền, môn phái Nam Hồng Sơn có nhiều tiết mục đặc sắc, có chất lượng và giành được nhiều thứ hạng cao. Nhiều người kế tục môn phái đã trở thành võ sư, huấn luyện viên tài năng.

Đặc điểm và hệ thống chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh đặc tính kết hợp võ thuật của hai dân tộc nói trên, Nam Hồng Sơn hiện nay còn gìn giữ được một số bài võ cổ thuộc chương trình thi võ của triều Nguyễn. Về mặt kĩ thuật, võ sư Nguyễn Văn Tỵ vẫn trung thành với chương trình giảng dạy của cha ông sử dụng lúc sinh thời. Ba năm đầu, môn sinh luyện tập võ thuật Trung Hoa, bao gồm tấn pháp, đòn thế và các bài quyền như: Long hổ quyền, Tứ lộ đoản quyền, Thảo mã quyền, Phượng vũ quyền, Liên hoa quyền, Hồng côn, Tề mi côn, Quý Châu kiếm, Liên hoa độc kiếm, Liên hoa song kiếm. Những năm tiếp theo, các võ sinh học võ thuật cổ truyền Việt Nam bao gồm các bài như Lão mai quyền, Ngọc trản ngân đài, Siêu xung thiên v.v. kết hợp với tập khí côngnội công.

Các võ đường[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hà Nội có 10 võ đường, trong đó đáng chú ý là các võ đường Quán Thánh và Ngọc Lâm.[1]

  1. Phân đường Văn Sử
  2. Phân đường Đăng Văn
  3. Phân đường Huy Đông
  4. Phân đường Ngọc Lâm
  5. Phân đường Khánh Hải
  6. Phân đường Khắc Trịnh
  7. Phân đường Minh Khoa
  8. Phân đường Quốc Trung
  9. Phân đường Xuân Giao
  10. Phân đường Bắc Long Biên

Nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Đức có 3 địa điểm tập luyện[2]:

  1. Bernhard-bästleinstr.22 - Berlin - Lichtenberg
  2. Kungfu 17 Marzahn - Wollenbergerstr. 1 - Berlin - Lichtenberg
  3. Anton-Saefkow-Platz 5 - 10369 Berlin

Võ phục[sửa | sửa mã nguồn]

Võ phục môn phái màu đen. Hệ thống đai đẳng bao gồm 5 màu, phân cấp theo thứ tự từ thấp đến cao là Huyền Đai, Bạch Đai, Thanh Dai, Hoàng Đai, và cao nhất là màu Hồng Đai.Riêng Hồng Đai dành cho huấn luyện viên và các võ sư.Chia làm 9 thao

Các bài quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]