Duyên hải Nam Trung Bộ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Nam Trung Bộ)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Các vùng miền Việt Nam

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ thuộc Miền Trung Việt Nam, với thành phố trọng điểm và lớn nhất là thành phố Đà Nẵng.

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ tiếp giáp Đông Nam Bộ ở phía nam thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Đông Nam Bộ trong quá trình phát triển giáp với Tây Nguyên và là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên, Campuchia, Thái Lan, thuận lợi giao lưu phát triển kinh tế và hình thành nền kinh tế mở.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có vị trí địa lý kinh tế rất thuận lợi, nằm trên các trục giao thông đường bộ, sắt, đường hàng không và đường biển, gần khu tam giác kinh tế trọng điểm miền Đông Nam Bộ; cửa ngõ của Tây Nguyên, của đường xuyên Á ra biển nối với đường hàng hải quốc tế.

Về mặt hành chính, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hiện nay bao gồm 8 tỉnh thành với diện tích hơn 4,5 triệu ha (tỷ lệ 13,6% so với tổng diện tích cả nước) với trên 10 triệu dân (tỷ lệ 10,7% so với tổng dân số cả nước), bình quân 230 người trên 1 cây số vuông.

Lịch sử hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam.[1][2]

Theo cách chia Trung Bộ thành 4 phần Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên thì Duyên hải Nam Trung Bộ gồm 3 tỉnh: Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên cùng với các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế hợp thành vùng (Duyên hải) Trung Trung Bộ. Thành phố trung tâm và lớn nhất là thành phố Đà Nẵng.

Hiện nay, hầu hết các đô thị vốn trước đây là thị xã tỉnh lỵ của các tỉnh trong vùng đều đã trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh (ngoại trừ thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương từ đầu năm 1997). Trong đó, tỉnh Quảng Nam có hai thành phố là Tam KỳHội An, tỉnh Khánh Hòa có hai thành phố là Nha TrangCam Ranh.

Trong suốt thời kỳ từ sau năm 1975 cho đến năm 1986, toàn vùng Nam Trung Bộ chỉ có hai thành phố là Đà NẵngNha Trang. Từ năm 1986 đến nay, lần lượt các thị xã được nâng cấp trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh.

Các thành phố trước năm 1986:

Các thành phố từ năm 1986 đến nay:

  • Thành phố Quy Nhơn: thành lập thị xã ngày 20/10/1898, dưới triều Thành Thái, đến 03 tháng 07 năm 1986 nâng cấp lên thành phố theo Nghị định số 81/HĐBT[3]. Hiện nay là đô thị loại 1, và là một trong các trung tâm lớn của vùng.
  • Thành phố Phan Thiết: thành lập thị xã theo chỉ dụ của nhà Nguyễn năm 1898. Đến ngày 25 tháng 08 năm 1999 thành lập thành phố theo Nghị định số 81/1999/NĐ-CP[4]
  • Thành phố Tuy Hòa: lập ngày 05 tháng 01 năm 2005 theo Nghị định số 03/2005/NĐ-CP[5]
  • Thành phố Quảng Ngãi: lập ngày 26 tháng 08 năm 2005 theo Nghị định số 112/2005/NĐ-CP[6]
  • Thành phố Tam Kỳ: lập ngày 29 tháng 09 năm 2006 theo Nghị định số 113/2006/NĐ-CP[7]
  • Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm: lập ngày 08 tháng 02 năm 2007 theo Nghị định số 21/2007/NĐ-CP[8]
  • Thành phố Hội An: lập ngày 29 tháng 01 năm 2008 theo Nghị định số 10/2008/NĐ-CP[9]
  • Thành phố Cam Ranh: lập ngày 23 tháng 12 năm 2010 theo Nghị định số 65/NQ-CP[10]

Hiện nay, ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có 3 đô thị loại I: thành phố Đà Nẵng (trực thuộc Trung ương), thành phố Quy Nhơn (thuộc tỉnh Bình Định), thành phố Nha Trang (thuộc tỉnh Khánh Hòa). Các thành phố là đô thị loại II: thành phố Tam Kỳ (thuộc tỉnh Quảng Nam), thành phố Quảng Ngãi (thuộc tỉnh Quảng Ngãi), thành phố Tuy Hòa (thuộc tỉnh Phú Yên), thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (thuộc tỉnh Ninh Thuận), thành phố Phan Thiết (thuộc tỉnh Bình Thuận). Các thành phố còn lại hiện nay đều là các đô thị loại III trực thuộc tỉnh.

Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình: Các vùng gò, đồi thuận lợi chăn nuôi bò, dê, cừu. Đồng bằng Tuy Hòa màu mỡ thuận lợi sản xuất lương thực thực phẩm.

Tài nguyên lớn nhất của vùng là kinh tế biển. Kinh tế biển nói ở đây bao gồm: Nguồn lợi hải sản (chiếm gần 20% sản lượng đánh bắt của cả nước) và nuôi trồng thủy sản, nhất là các loại đặc sản (tôm, tôm hùm, cá mú, ngọc trai...) với diện tích có thể nuôi trồng là 60.000 ha trên các loại thủy vực: mặn, ngọt, lợ. Vận tải biển trong nước và quốc tế. Chùm cảng nước sâu đảm bảo tàu có trọng tải lớn vào được, có sẵn cơ sở hạ tầng và nhiều đất xây dựng để xây dựng các khu công nghiệp tập trung gắn với các cảng nước sâu và với vị trí địa lý của mình có thể chọn làm cửa ngõ ra biển cho đường "xuyên Á". Có triển vọng về dầu khí ở thềm lục địa.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ nằm trong khu vực có tiềm năng về khoáng sản của nước ta, đáng chú ý là sa khoáng nặng, cát trắng (cho phép vùng trở thành trung tâm phát triển công nghiệp thuỷ tinh, kính quang học), đá ốp lát, nước khoáng, vàng...

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có nhiều sân bay quốc tế và có nhiều cảng biển nước sâu có thể đón được các loại tàu biển có trọng tải lớn như cảng Cam Ranh, Khánh Hòa, một trong những cảng biển nước sâu lớn nhất cả nước. Đồng bằng Quảng Ngãi rộng khoảng 1200 km2 bao gồm cả thung lũng sông Trà Khúc và sông Vệ cũng được cấu tạo tương tự đồng bằng Quảng Nam. Nhưng vào mùa khô sông Trà Khúc và sông Vệ đều cạn nước đến mức người ta có thể lội qua, hiện nay trên sông Trà Khúc đã có công trình thủy nông Thạch Nham ngăn sông, xây dựng hệ thống kênh mương chuyển nước phục vụ sản xuất cho nhiều huyện.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Du lịch biển, đảo và di tích lịch sử văn hoá dân tộc là nguồn lực quan trọng, là một trong 3 trung tâm du lịch của cả nước (ngoài thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh), trong đó nổi bật là dải Đà Nẵng - Hội An, Quy Nhơn - Phú Yên, Nha Trang - Cam Ranh - Ninh Chữ, và Mũi Né. Sân bay quốc tế Đà Nẵng và Cam Ranh là 2 sân bay lớn trong vùng, đón lượng lớn khách du lịch nước ngoài cũng như trong nước. Bên cạnh đó, sân bay Phù Cát ở Bình Định cũng tăng trưởng liên tục về lượng khách thông quan trong nhiều năm qua, hiện đang đúng thứ 3 về lưu lượng khai thác. Và đang mở thêm các đường bay mới trong nước cũng như ra quốc tế (đến Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan).

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều bãi tôm, bãi cá. Đặc biệt ở vùng cực Nam Trung Bộ. Có ngư trường lớn ở Hoàng Sa (TP Đà Nẵng) và Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa).

Sản lượng đánh bắt hải sản năm 2006 đã hơn 624.000 tấn, trong đó sản lượng cá chiếm 420.000 tấn.

Vùng có nhiều vũng, vịnh, đầm phá... có lợi cho việc nuôi trồng thủy sản. Nuôi tôm hùm, tôm sú đang phát triển mạnh, nhất là ở Phú Yên và Khánh Hòa.

Tương lai ngành thủy hải sản sẽ giải quyết được vấn đề lương thực của vùng và cung cấp được nhiều sản phẩm giúp chuyển dịch cơ cấu nông thôn ven biển.

Tuy nhiên, việc khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (nhất là Hoàng Sa - Trường Sa) là rất cấp bách.

Du lịch hàng hải[sửa | sửa mã nguồn]

Duyên Hải Nam Trung Bộ là vùng có nhiều điều kiện thuận lợi nhất để xây dựng các cảng nước sâu bờ vịnh khúc khuỷu nhiều vịnh nước sâu.

Hiện tại có một số cảng lớn do Trung ương quản lý như: Đà Nẵng, Quy Nhơn (sản lượng hàng hoá lớn thứ 3 cả nước), Cam Ranh ... cảng nước nước sâu Dung Quất. Ở vịnh Vân Phong sẽ hình thành cảng trung chuyển quốc tế lớn nhất nước, và cạnh tranh với các cảng lớn trong khu vực.

Ngành du lịch phát triển mạnh nhờ có nhiều bãi biển ký tưởng, thắng cảnh đẹp, di tích lịch sử, văn hoá đa dạng.

Đà Nẵng và Quy Nhơn là một trong những đầu mối giao thông đường biển quan trọng nhất của cả nước.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ có số dân là 10,4 triệu người. Ba tỉnh Quảng Nam, Bình Thuận và Bình Định có dân số đông nhất, dân số của riêng ba tỉnh chiếm gần một nửa dân số của vùng (47.7%)[11]

Có khoản 3,9 triệu người (38% dân số) sinh sống ở các thành phố và khu dân cư. Đà Nẵng, Khánh Hòa,Bình Định và Bình Thuận là 4 địa phương có đa số dân cư sống ở thành thị. Trong khi đó đa số dân cư Quảng Nam, Quảng Ngãi lại sống ở nông thôn.[11]

Từ năm 2000 đến 2017, tỉ lệ tăng dân số trung bình hằng năm của vùng là 1,22%. Trong đó Đà Nẵng là địa phương tăng nhanh nhất - 1,95%; Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định tăng chậm nhất - khoảng 1%. Bốn tỉnh còn lại có tốc độ tăng từ 1,26% (Khánh Hòa) đến 1,59% (Ninh Thuận).[11]

Như các vùng khác, dân tộc chiếm đa số của vùng là dân tộc Kinh. Có một vài dân tộc thiểu số, trong đó đáng chú ý là dân tộc Chăm. Họ sống chủ yếu ở xung quanh thành phố Phan Rang Tháp Chàm (tỉnh lị Ninh Thuận) và phía bắc tỉnh Bình Thuận. Họ cũng sống rải rác ở một số nơi khác, như phía nam tỉnh Bình Định. Những dân tộc thiểu số khác sống ở phần đồi núi phía tây của vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ. Vùng sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn một nửa diện tích của tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 8 tháng 1 năm 2021, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có:

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

TỈNH QUẢNG NAM

TỈNH QUẢNG NGÃI

TỈNH BÌNH ĐỊNH

TỈNH PHÚ YÊN

TỈNH KHÁNH HÒA

TỈNH NINH THUẬN

TỈNH BÌNH THUẬN

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]