Natri monofluorophosphate

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sodium monofluorophosphate

Sodium monofluorophosphate.svg

Danh pháp IUPAC

Disodium phosphorofluoridate

Tên khác

Sodium fluorophosphate, disodium monofluorophosphate

Nhận dạng
Số CAS

10163-15-2

PubChem

24266

Số EINECS

233-433-0

ChEBI

86431

Số RTECS

TE6130000

Ảnh Jmol-3D

ảnh

SMILES
InChI

1/FH2O3P.2Na/c1-5(2,3)4;;/h(H2,2,3,4);;/q;2*+1/p-2

Thuộc tính
Công thức phân tử

Na2PFO3

Khối lượng mol

143.95 g/mol

Bề ngoài

white powder

Điểm nóng chảy

625 °C (898 K; 1.157 °F)

Điểm sôi

Độ hòa tan trong nước

25 g/100 mL

Độ hòa tan

không hòa tan trong ethanol, ether

Dược lý học
Các nguy hiểm
NFPA 704

NFPA 704.svg

0
2
1
 
Điểm bắt lửa

Không bắt lửa

LD50

502 mg/kg (đường miệng, chuột)

Natri monofluorophosphate, thường được viết tắt là MFP, là một hợp chất vô cơ có công thức hóa học Na2PO3F. Điển hình cho muối, MFP không có mùi, không màu và tan trong nước. Muối này là một thành phần trong một số loại kem đánh răng.[1]

Sử dụng MFP [sửa | sửa mã nguồn]

MFP được biết đến như là một thành phần trong một số loại kem đánh răng[2]. Nó hoạt động như một nguồn florua thông qua phản ứng thủy phân sau đây:

PO3F2− + OH → HPO42− + F

Fluoride bảo vệ men răng khỏi bị tấn công bởi các vi khuẩn gây sâu răng (sâu răng). Mặc dù đã được phát triển bởi một nhà hóa học tại Procter và Gamble, việc sử dụng nó trong kem đánh răng (kem đánh răng Colgate) được Colgate-Palmolive cấp bằng chứng, vì Procter và Gamble đã tham gia vào việc tiếp thị kem đánh răng Crest (có chứa florua stannua, được quảng cáo là "Fluoristan"). Vào đầu những năm 1980, Crest được định dạng lại để sử dụng MFP, dưới nhãn hiệu "Fluoristat"; kem đánh răng Crest ngày nay sử dụng natri florua.  

MFP cũng được sử dụng trong một số loại thuốc điều trị loãng xương.

Năm 1991, Calgon đã phát hiện ra natri monofluorophosphate để ức chế sự giải phóng chì trong nước uống khi dùng trong các nồng độ giữa 0.1 mg / L và 500 mg / L.[3]

Điều chế và cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Natri monofluorophosphate được sản xuất công nghiệp bằng phản ứng của natri florua với Natri metaphosphate:

NaPO3 + NaF → Na2PO3F

Quá trình này liên quan đến việc phân chia một liên kết pyrophosphate, tương tự như quá trình thủy phân. NaMFP cũng có thể được điều chế bằng cách điều trị tetrasodium pyrophosphate hoặc Natri(II) phosphate với hydrogen fluoride.

Trong phòng thí nghiệm, MFP có thể được điều chế bằng cách thủy phân các ion diflorophosphate với natri hydroxyd pha loãng:

PO2F2 + 2 NaOH → Na2PO3F + H2O + F

Cấu túc[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu trúc của anion florophosphate bao gồm phốt pho ở trung tâm của tứ diện được xác định bởi ba nguyên tử oxy và một flo. Biểu hiện chính thức mô tả một liên kết đôi giữa một nguyên tử oxy và phốt pho, với các liên kết duy nhất cho hai nguyên tử oxy khác và flo. Trong mô tả chính thức này, điện tích âm được định vị trên các nguyên tử O của các liên kết P-O đơn lẻ. MFP tương tự và isoelectronic với Na2SO4. Anion có đối xứng C3v.

Độ an toàn[sửa | sửa mã nguồn]

MFP trong kem đánh răng thường chiếm 0,76%. Hợp chất được sử dụng thay cho natri florua vì nó ít độc hại hơn, mặc dù cả hai đều có độc tính khá nhẹ. Muối này có tác dụng hạn chế về tính cơ vận động và hô hấp.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Klaus Schrödter, Gerhard Bettermann, Thomas Staffel, Friedrich Wahl, Thomas Klein, Thomas Hofmann "Phosphoric Acid and Phosphates" in Ullmann’s Encyclopedia of Industrial Chemistry 2008, Wiley-VCH, Weinheim. doi:10.1002/14356007.a19_465.pub3
  2. ^ Wolfgang Weinert "Oral Hygiene Products" in Ullmann’s Encyclopedia of Industrial Chemistry 2000, Wiley-VCH, Weinheim. doi:10.1002/14356007.a18_209
  3. ^ Peter Meiers Monofluorophosphate History
  4. ^ Sodium monofluorophosphate, Environmental Working Group Skin Deep Cosmetics Database (retrieved 17 November 2012)