Ngành kỹ thuật cơ sở hạ tầng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Ngành kỹ thuật cơ sở hạ tầng là một ngành học mới phát triển tại Việt Nam trong những năm gần đây ở các trường đại học do nhu cầu bức thiết của xã hội cần quy hoạch và xây dựng đồng bộ và hiện đại hóa các công trình hạ tầng kỹ thuật. Sau khi tốt nghiệp ngành học này, người đi làm các công việc liên quan đến ngành học được gọi là kỹ sư cơ sở hạ tầng, kỹ sư kỹ thuật đô thị hay kỹ sư đô thị, và được gọi chung với các ngành kỹ thuật xây dựng khác là kỹ sư xây dựng.

Mục tiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy có sự khác nhau (nhưng không lớn) giữa các trường đại học về chương trình học và mục tiêu cụ thể. Tuy nhiên, mục tiêu tổng quát của kỹ thuật cơ sở hạ tầng vẫn là đào tạo đội ngũ kỹ sư chuyên môn có thể thực hiện được công tác quy hoạch và thiết kế mạng lưới hạ tầng kỹ thuật của dự án xây dựng hoặc quy hoạch. Ví dụ từ cầu vượt, thang máy, cáp treo cho đến hệ thống điện.

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành kỹ thuật cơ sở hạ tầng là một ngành học mới phát triển tại Việt Nam trong những năm gần đây.

Các trường đại học đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa kỹ thuật đô thị đang đào tạo trình độ đại học một ngành duy nhất với tên ngành là kỹ thuật cơ sở hạ tầng.

Khoa Kỹ thuật hạ tầng và Môi trường đô thị đào tạo một số ngành trong đó có ngành Kỹ thuật hạ tầng đô thị.

Đại học thủy lợi đang đào tạo trình độ đại học ngành này với tên gọi Kỹ thuật hạ tầng và Phát triển nông thôn.

Đại học Xây dựng Miền Tây đào tạo trình độ đại học ngành này với hai chuyên ngành là Kỹ thuật môi trường và ngành Kỹ thuật cấp - Thoát nước.

Khoa kỹ thuật hạ tầng đô thị đang đào tạo trình độ đại học ngành học kỹ thuật hạ tầng đô thị.

Trường đại học thủy lợi - cơ sở 2 đang đào tạo trình độ thạc sĩ với tên gọi Kỹ thuật cơ sở hạ tầng (Cấp thoát nước).

Trường Đại học Giao thông Vận tải đang đào tạo trình độ thạc sĩ với tên gọi Kỹ thuật hạ tầng đô thị.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]