Ngô Du

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
NGÔ DZU
Tiểu sử
Sinh 1926
Bình Định, Việt Nam
Mất 1987 (61 tuổi)
California, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1949-1974
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị ARVN 7th Division SSI.svg Sư đoàn 4 Dã chiến[1]
QD II VNCH.jpg Quân đoàn 2 và QK 2[2]
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
ARVN 2nd Division SSI.svg Sư đoàn 2 Bộ binh
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
QD IV VNCH.jpg Quân đoàn IV và QK 4
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Công việc khác Trưởng đoàn VNCH
Ban Liên hợp 4 bên

Ngô Dzu (1926-1987), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Quốc gia do Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra ở miền Trung Việt Nam. Tốt nghiệp được chọn về đơn vị Bộ binh. Ông đã theo hệ thống sĩ quan chỉ huy bắt đầu từ chức vụ Trung đội trưởng và tuần tự lên đến chỉ huy cấp Sư đoàn, Sau cùng ông cũng được đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh cấp Quân đoàn. Ông được thăng cấp cũng khá nhanh, lên tướng khi tuổi đời chưa đến 40.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 1 tháng 1 năm 1926 tại trong một gia đình thương nhân khá giả tại Quy Nhơn, Bình Định, miền Trung Việt Nam. Thời niên thiếu, ông học Tiểu học và Trung học theo chương trình Pháp tại Quy Nhơn. Năm 1945, ông tốt nghiệp Phổ thông với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó được bổ dụng làm Công chức ngoại ngạch ở Quy Nhơn cho đến ngày gia nhập Quân đội.

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1949, thi hành lệnh đông viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 46/200.744. Theo học khoá 2 Quang Trung tại trường Võ bị Quốc gia Huế, khai giảng ngày 25 tháng 9 năm 1949. Ngày 24 tháng 6 năm 1950 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được chọn về đơn vị Bộ binh Việt Nam đồn trú ở miền Bắc, giữ chức vụ Trung đội trưởng.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1952, chính thức chuyển sang phục vụ Quân đội Quốc gia, ông được thăng cấp Trung úy làm Đại đội trưởng đơn vị Bộ binh. Sau ngày ký Hiệp định Genève (20 tháng 7 năm 1954), Cùng đơn vị di chuyên vào Nam, ông được thăng cấp Đại úy giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bộ binh.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 10 năm 1955, Quân đội Quốc gia được đổi tên thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Chuyển biên chế qua cơ cấu mới, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Đầu năm 1957, ông được thăng cấp Trung tá và được cử làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 4 Dã chiến. Tháng 4 cùng năm ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 4 Dã chiến thay thế Đại tá Tôn Thất Xứng.[3] Ngày 17 tháng 3 năm 1958, bàn giao Sư đoàn 4 lại cho Đại tá Trần Thiện Khiêm. sau đó, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Đầu tháng 10 cùng năm mãn khóa học về nước phục vụ tại Bộ Tổng Tham mưu. Cuối năm 1962, ông được chuyển ra Cao nguyên Trung phần giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn II.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963 nổ ra cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông không trực tiếp tham gia nhưng đã đồng lòng với các tướng lãnh cầm đầu phe đảo chính, nên ngày 3 tháng 11 ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Một tháng sau, ông nhận lệnh bàn giao chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn II lại cho Trung tá Nguyễn Văn Hiếu để về Trung ương giữ chức vụ Trưởng phòng 1 Bộ Tổng Tham mưu thay thế Trung tá Đỗ Ngọc Nhận[4]

Đầu năm 1964, ông ủng hộ tướng Nguyễn Khánh cầm đầu Cuộc Chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964, ông được tướng Khánh bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh thay thế Thiếu tướng Tôn Thất Xứng được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng 1 Chiến thuật. Ngày 29 tháng 5, ông thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.[5] Hai tháng sau ngày được thắng cấp tướng, ông nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 2 lại cho Đại tá Nguyễn Thanh Sằng.[6] Sau đó, ông được chuyển ra về miền Đông Nam phần giữ chức vụ Phụ tá cho Tư lệnh Quân đoàn III. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1966, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Sau đó, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh phó lãnh thổ Quân đoàn III và Vùng 3 Chiến thuật.

Ngày 4 tháng 5 năm 1970: ông được chuyển về miền Tây Nam phần và được bổ nhiệm Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4 thay thế Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh[7] Gần bốn tháng sau ngày 27 tháng 8, ông bàn giao Quân đoàn IV lại cho Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng (nguyên Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh). Sau đó lại một nữa, ông trở lại Cao nguyên Trung phần giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu 2 thay thế Trung tướng Lữ Lan.[8] Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.

Tháng 3 năm 1972, sau "Mùa hè đỏ lửa", ông xin từ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II do cơn bệnh đau tim. Sau đó, bàn giao Bộ tư lệnh Quân đoàn lại cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn.

Đầu năm 1973, ông được cử làm Trưởng đoàn Quân sự 4 bên cấp Trung ương tại Trại Davis ở căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt cho đến tháng 3 năm 1974 ông được giải ngũ.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4, ông cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó được sang định cư ở Thành phố Sacramento, California, Hoa Kỳ.

Năm 1987, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 61 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Ngô Khuông (Năm 1975 trở về trước là một Thương gia xuất nhập khẩu nổi tiếng, có nhiều cơ sở kinh doanh phát đạt, khởi đầu từ Quy Nhơn và phát triển rộng trên toàn miền Nam Việt Nam).
  • Nhạc phụ: Cụ Võ Thân (Nguyên Đại úy Chỉ huy trường Hạ sĩ quan An Cựu, Huế thời kỳ Quân đội Liên hiệp Pháp và Quân đội Quốc gia. Năm 1951 tử trận tại Phong Điền, Thừa Thiên.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sư đoàn 4 Dã chiến được lấy nòng cốt từ Liên đoàn 31 Lưu động (giải tán ngày 15 tháng 12 năm 1954) của Quân đội Liên hiệp Pháp để thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1955 tại Tam Kỳ, Quảng Nam (sau là Quảng Tín) với danh xưng ban đầu là Sư đoàn 31 Bộ binh do Trung tá Nguyễn Hữu Có làm Tư lệnh đầu tiên. Ngày 1 tháng 8 năm 1955 đổi tên thành Sư đoàn Dã chiến số 31. Ba tuần sau đổi tên thành Sư đoàn Dã chiến số 11. Ngày 1 tháng 10 năm 1955, đổi tên lần nữa thành Sư đoàn Dã chiến số 4. Ngày 1 tháng 12 năm 1958 đổi tên lần cuối cùng thành Sư đoàn 7 Bộ binh.
  2. ^ Hai lần phục vụ ở Quân đoàn II và Vùng 2 Chiến thuật: Lần thứ nhất Trung tá Tham mưu trưởng (1962-1963), lần thứ hai Thiếu tướng rồi Trung tướng Tư lệnh (1970-1972)
  3. ^ Đại tá Tôn Thất Xứng sinh năm 1923 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp Võ bị quốc gia Huế K1, sau cùng là Thiếu tướng Chỉ huy trưởng trường Chỉ huy và Tham mưu, giải ngũ năm 1967.
  4. ^ Trung tá Đỗ Ngọc Nhận sinh năm 1930, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K3, sau cùng là Đại tá Cục trưởng Cục Quân cụ, rồi Chỉ huy phó Tổng cục Quân huấn
  5. ^ Cùng được thăng cấp Chuẩn tướng với Đại tá Ngô Dzu ngày 29 tháng 5 năm 1964 còn có các Đại tá:
    -Nguyễn Chánh Thi (đang là Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh)
    -Phạm Văn Đỗng (đang tùng sự tại Bộ Tổng Tham mưu)
    -Bùi Hữu Nhơn (đang Chỉ huy trưởng trường Võ khoa Thủ Đức)
    -Cao Hảo Hớn (đang là Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh).
  6. ^ Đại tá Nguyễn Thanh Sằng, nguyên Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung.
  7. ^ Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh bị tử nạn trực thăng khi đang bay thị sát mặt trận liên tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường gần biên giới Việt-Miên, được truy thăng Trung tướng.
  8. ^ Trung tướng Lữ Lan được chuyển về Bộ Tổng Tham mưu làm Tổng Thanh tra Quân lực.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.