Ngô Việt Trung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ngô Việt Trung
Chức vụ
Nhiệm kỳ2007 – 2013
Tiền nhiệmHà Huy Khoái
Kế nhiệmLê Tuấn Hoa
Phó viện trưởngLê Tuấn Hoa
Ngô Đắc Tân
Nguyễn Việt Dũng
Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học các nước Thế giới thứ 3
Thông tin chung
Sinh8 tháng 5, 1953 (66 tuổi)
Học sinh trườngTrường Trung học phổ thông Việt Đức
Trang webThông tin riêng

Ngô Việt Trung (sinh ngày 08/05/1953) là một nhà Toán học người Việt Nam. Ông là Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam từ 2007 tới 2013, là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới thứ ba.[1] Ông được giới Toán học đánh giá là nhà toán học tiêu biểu đương đại của Việt Nam.

Quê ông ở xã Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam. Ông là con trai của Ngô Điền, nguyên đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Campuchia trong thời kì Khơ-me đỏ. Hồi 3 tuổi, ông bị bại liệt. Mẹ ông là y tá quân đội đã cấp cứu ông kịp thời, giữ lại được mạng sống nhưng nửa người bên trái của ông bị liệt hoàn toàn. Về sau nhờ tập luyện ông đã hồi phục nhưng cái chân trái vẫn bị liệt suốt đời.

Ông từng là học sinh chuyên Toán Trường trung học phổ thông Việt Đức (Hà Nội). Năm 1969, ông giành giải nhất cuộc thi học sinh giỏi Toán toàn Miền Bắc. Sau đó, ở tuổi 16, ông sang Đức học đại học về Toán. Tại Đức, ông tổt nghiệp đại học xuất sắc và được học tiếp lên Tiến sĩ. Sau khi về nước năm 1978, ông làm việc trong Viện Toán học cho đến nay. Năm 1983, ông được phong hàm Phó Giáo sư khi vừa tròn 30 tuổi, và đến năm 38 tuổi, ông được phong hàm Giáo sư, là giáo sư trẻ nhất thời đó.

Năm 2009, ông được trao Giải thưởng Nhân tài Đất Việt trong lĩnh vực Khoa học tự nhiên về Toán học. Năm 2016 ông được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ (cùng với GS Nguyễn Tự Cường, GS Lê Tuấn Hoa) về cụm công trình "Các bất biến và cấu trúc của vành địa phương và vành phân bậc"[2]

Ông chia sẻ:"Lớp trẻ bây giờ phần nhiều học một cách thụ động, ít người chủ động tìm hiểu xem mình phải học gì và học như thế nào cho tốt. Đặc biệt phải chịu khó mở rộng kiến thức của mình. Đã làm khoa học thì phải kiên trì mới thành công. Trong cuộc đời, được theo đuổi niềm đam mê của mình là một hạnh phúc không phải ai cũng có được."


Một số công trình tiêu biểu:

HD Nguyen, NV Trung, Depth functions of symbolic powers of homogeneous ideals, Inventiones mathematicae 218 (3), 2019, 779-827.

N Terai, NV Trung, Cohen–Macaulayness of large powers of Stanley–Reisner ideals, Advances in Mathematics 229 (2), 2012, 711-730.

J Herzog, T Hibi, NV Trung, Symbolic powers of monomial ideals and vertex cover algebras, Advances in Mathematics 210 (1), 2007, 304-322.

SD Cutkosky, J Herzog, NV Trung, Asymptotic behaviour of the Castelnuovo-Mumford regularity, Compositio Mathematica 118 (3), 1999, 243-261.

NV Trung, Reduction exponent and degree bound for the defining equations of graded rings, Proceedings of the American Mathematical Society, 1999, 229-236.

N Trung, The Castelnuovo regularity of the Rees algebra and the associated graded ring, Transactions of the American Mathematical Society 350 (7), 1998, 2813-2832.

W Bruns, J Gubeladze, NV Trung, Normal polytopes, triangulations, and Koszul algebras, Journal fur die reine und angewandte Mathematik 485, 1997, 123-160.

B Sturmfels, NV Trung, W Vogel, Bounds on degrees of projective schemes, Mathematische Annalen 302 (1), 1995, 417-432.

J Herzog, NV Trung, Gröbner bases and multiplicity of determinantal and Pfaffian ideals, Advances in Mathematics 96 (1), 1992, 1-37.

NV Trung, Toward a theory of generalized Cohen-Macaulay modules, Nagoya Mathematical Journal 102, 1986, 1-49.

NV Trung, LT Hoa, Affine semigroups and Cohen-Macaulay rings generated by monomials, Transactions of the American Mathematical Society 298 (1), 1986, 145-167.

P Schenzel, NV Trung, NT Cuong, Verallgemeinerte Cohen-Mavaulay‐Moduln, Mathematische Nachrichten 85 (1), 1978, 57-73.


Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]