Ngôn ngữ

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bức tranh tường ở di tích đô thị Teotihuacan, Mexico; mô tả tiếng nói trừu tượng phát ra từ mồm người đàn ông như một cuộn giấy.
Chữ hình nêm là dạng thức đầu tiên được biết đến của ngôn ngữ viết; tuy vậy, ngôn ngữ nói tồn tại trước ngôn ngữ viết ít nhất tận hàng chục ngàn năm.
Hai bé gái có bố mẹ khiếm thính đang học ngôn ngữ ký hiệu Mỹ
Chữ nổi Braille, một hệ chữ viết dựa trên xúc giác.

Ngôn ngữ là một hệ thống giao tiếp có cấu trúc, được sử dụng bởi con người. Ngôn ngữ có thể tồn tại ở dạng giọng nói hoặc cử chỉ (ngôn ngữ nói),[chú thích 1] biểu tượng hoặc chữ viết. Cấu trúc của ngôn ngữ được gọi là ngữ pháp, còn các thành phần tự do thì gọi là từ vựng. Nhiều ngôn ngữ sở hữu hệ chữ viết có chức năng ký âm hoặc ký hiệu để sau này có thể được kích hoạt lại. Trong số các hệ thống giao tiếp ở động vật, ngôn ngữ của con người độc đáo ở các điểm như: không phụ thuộc vào một phương thức truyền tải duy nhất nào, có sự khác biệt rất lớn giữa từng nền văn hóa và từng giai đoạn lịch sử, và có phạm vi biểu đạt rộng hơn nhiều so với các hệ thống khác.[1]

Ngôn ngữ con người có tính năng suất (productivity) và tính tham chiếu (displacement), đồng thời ngôn ngữ phải dựa trên quy ước xã hội và học tập.

Số lượng ngôn ngữ trên thế giới dao động trong khoảng từ 6.000 đến 7.000 thứ tiếng khác nhau, tùy thuộc vào sự phân biệt giữa ngôn ngữ và phương ngữ của từng tác giả.[2] Ngôn ngữ tự nhiên là các ngôn ngữ được nói hoặc ghi lại; bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có thể được mã hóa thành phương tiện thứ cấp tác động đến thính giác, thị giác hoặc xúc giác, ví dụ như văn bản, biển báo, chữ nổi hoặc huýt sáo. Nói cách khác, ngôn ngữ của con người độc lập khỏi phương thức biểu đạt, còn ngôn ngữ ký hiệu và ngôn ngữ viết là các phương thức để lưu giữ hoặc mã hóa tiếng nói tự nhiên hoặc cử chỉ của con người.

Khi được sử dụng như một khái niệm chung, ngôn ngữ có thể đang chỉ khả năng nhận thức để học và sử dụng các hệ thống giao tiếp phức tạp, hoặc để mô tả tập hợp các quy tắc tạo nên các hệ thống này, hoặc tập hợp các phát biểu (utterance) có thể được tạo ra từ các quy tắc đó. Mọi ngôn ngữ đều phải dựa vào quá trình semiosis để liên hệ dấu hiệu (sign) với một ý nghĩa (meaning) cụ thể. Ngôn ngữ miệng, ngôn ngữ thủ công và ngôn ngữ xúc giác đều có hệ thống âm vị (phonology) quy định sự kết hợp các biểu tượng (symbol) để tạo thành chuỗi gọi là từ hoặc hình vị và một hệ thống cú pháp quy định cách kết hợp các từ và hình vị tạo thành cụm từ và phát biểu.

Khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ học. Các xem xét phản biện về ngôn ngữ (chẳng hạn như triết học ngôn ngữ, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, v.v., chẳng hạn như 'ngôn từ đại diện cho kinh nghiệm') đã được thảo luận từ thời các triết gia GorgiasPlato của Hy Lạp cổ đại. Các nhà tư tưởng sau này như Rousseau (1712 - 1778) thì cho rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ cảm xúc, trong khi Immanuel Kant (1724 –1804) lại cho rằng ngôn ngữ có nguồn gốc từ suy nghĩ luân lý và logic. Các nhà hiền triết thế kỷ 20 như Ludwig Wittgenstein (1889 - 1951) cho rằng triết học chẳng qua chỉ là nghiên cứu ngôn ngữ. Những nhân vật chính trong ngành ngôn ngữ học đương đại hiện nay bao gồm Ferdinand de SaussureNoam Chomsky.

Ngôn ngữ được cho là đã dần dần tách ra từ hệ thống giao tiếp linh trưởng tiền khởi, khi các hominin sơ khai lĩnh hội khả năng hình thành lý thuyết về tâm trí và có chủ ý (intentonality) chung.[3][4] Sự phát triển các đặc điểm này trùng hợp với sự gia tăng khối lượng não và nhiều nhà ngôn ngữ học coi các cấu trúc của ngôn ngữ đã tiến hóa để phục vụ các chức năng giao tiếp và chức năng xã hội cụ thể. Ngôn ngữ được xử lý ở nhiều vùng khác nhau trong bộ não, tập trung ở khu vực BrocaWernicke. Một cá nhân tiếp thu ngôn ngữ thông qua giao tiếp xã hội từ thời thơ ấu; trẻ em thường nói trôi chảy vào khoảng 3 tuổi. Ngôn ngữ và văn hóa phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, bên cạnh công dụng giao tiếp, ngôn ngữ còn có những công dụng xã hội như biểu thị bản sắc nhóm, phân tầng xã hội, giải tríchải chuốt xã hội (social grooming).

Ngôn ngữ tiến hóa và đa dạng hóa theo thời gian; lịch sử phát triển của ngôn ngữ có thể được phục nguyên (reconstruction) bằng phương pháp so sánh (comparative method) các ngôn ngữ hiện đại, nhằm tìm ra điểm chung giữa chúng và suy luận ra được đặc điểm mà ngôn ngữ tổ tiên chung của chúng đã sở hữu. Một nhóm ngôn ngữ có nguồn gốc từ một tổ tiên chung được gọi là một ngữ hệ (language family); ngược lại, một ngôn ngữ mà được chứng minh là không có bất kỳ mối quan hệ với một ngôn ngữ đồng đại hoặc lịch đại nào khác thì được gọi là một ngôn ngữ biệt lập (language isolate). Hiện vẫn có những ngôn ngữ chưa được nghiên cứu phân loại, và đôi khi có các ngôn ngữ giả mạo bị báo cáo nhầm hoặc do sự cố tình lừa đảo. Giới học thuật hiện nay nhất chí cho rằng từ 50% đến 90% các ngôn ngữ còn được nói vào đầu thế kỷ 21 có lẽ sẽ tuyệt chủng vào năm 2100.[5][6][7]

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiếng Việt, "ngôn ngữ" là phiên âm Hán-Việt của cặp Hán tự 言語 (phồn thể, bính âm Quan thoại chuẩn: yányǔ). Trong tiếng Hán thượng cổ, hai từ 言語 được phát âm là *ŋan ŋaʔ (đọc gần như "ngan nga" có IPA Hà Nội là: [ŋaːn˧˧ ŋaː˧˧]) theo phục nguyên của Thượng Phương (2003).[8] Schuessler (2007) cho rằng 言 (OC: *ŋan) là danh từ phái sinh của động từ 語 (OC: *ŋaʔ, nghĩa là 'nói') vì chứa hậu tố *-n.[9] Một từ khác dùng để chỉ ngôn ngữ nói trong tiếng Việt là "tiếng", bắt nguồn từ "tiếng" của tiếng Việt trung đại và là một từ mượn có gốc Hán trung đại, 聲 (MC: ɕiᴇŋ) 'âm thanh'.

Trong tiếng Anh, "language" 'ngôn ngữ' được vay mượn từ language 'ngôn ngữ' của tiếng Pháp cổ (âm Pháp cổ là lanˈɡʷadʒə), bắt nguồn từ lingua 'lưỡi' của tiếng Latin, chính nó lại bắt nguồn từ *dn̥ǵʰwéh₂s 'lưỡi, lời nói, ngôn ngữ' của tiếng Ấn-Âu nguyên thủy.[10]

Định nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Từ "ngôn ngữ" còn được sử dụng để chỉ mật mã, cipher và các thể loại ngôn ngữ nhân tạo, ví dụ như ngôn ngữ máy tính dùng trong lập trình. Nếu hiểu theo nghĩa này, một ngôn ngữ sẽ được định nghĩa là một hệ thống các dấu hiệu nhằm mục đích mã hóa và giải mã thông tin. Bài viết này chỉ tập trung vào các tính chất của ngôn ngữ loài người tự nhiên được nghiên cứu bởi ngành ngôn ngữ học.

"Ngôn ngữ", trong vai trò là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, có hai nghĩa chính: một khái niệm trừu tượng và một hệ thống ngôn ngữ cụ thể, ví dụ: "tiếng Việt". Nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ Ferdinand de Saussure, người có công định hình nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại, là người đầu tiên phân biệt rõ ràng sự khác biệt đó. Ông sử dụng từ language để chỉ khái niệm trừu tượng, từ langue để chỉ một ví dụ cụ thể của một hệ thống ngôn ngữ và từ parole để chỉ lối sử dụng lời nói trong một ngôn ngữ cụ thể.[11]

Khi nói về ngôn ngữ như là một khái niệm chung, nhiều định nghĩa có thể được sử dụng để nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau của hiện tượng này.[12] Những định nghĩa này cũng kéo theo những phương pháp tiếp cận nghiên cứu và sự thấu hiểu về ngôn ngữ theo các cách khác nhau, dẫn đến những trường phái lý thuyết ngôn ngữ khác nhau hoặc xung khắc nhau.[13] Các cuộc tranh luận về bản chất và nguồn gốc ngôn ngữ đã tồn tại từ thời cổ đại. Các nhà triết học Hy Lạp như GorgiasPlato đã hoài nghi về mối quan hệ giữa từ ngữ, khái niệm và thực tế. Gorgias cho rằng ngôn ngữ không thể đại diện cho trải nghiệm khách quan lẫn trải nghiệm con người, và rằng giao tiếp và chân lý đều bất khả thi. Plato cho rằng ta có thể giao tiếp được vì ngôn ngữ đại diện cho các ý tưởng và khái niệm tồn tại độc lập khỏi ngôn ngữ, và tồn tại trước cả ngôn ngữ.[14]

Trong những cuộc tranh luận về nguồn gốc loài người thời kỳ Khai sáng, việc suy đoán về nguồn gốc ngôn ngữ đã trở nên rất thịnh hành. Các nhà tư tưởng như RousseauHerder cho rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ sự biểu đạt cảm xúc theo bản năng, và nó ban đầu gần với âm nhạc và thơ ca hơn là logic và tư duy lý trí. Các nhà triết học duy lý như KantDescartes lại có quan điểm ngược lại. Vào khoảng đầu thế kỷ 20, các nhà tư tưởng bắt đầu băn khoăn về vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành trải nghiệm của con người về thế giới - đặt câu hỏi liệu ngôn ngữ có phản ánh đơn giản cấu trúc khách quan của thế giới, hay liệu ngôn ngữ tạo ra những khái niệm mà nó áp đặt lên trải nghiệm về thế giới khách quan của chúng ta. Điều này lại dẫn đến câu hỏi liệu các vấn đề triết học có thực sự trước hết phải là vấn đề ngôn học hay không. Sự trỗi dậy của quan điểm cho rằng ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra và lưu thông các khái niệm, và nghiên cứu triết học về cơ bản là nghiên cứu ngôn ngữ, gắn liền với thứ được gọi là bước ngoặt ngôn học (linguistic turn) và các nhà triết học như Wittgenstein của triết học thế kỷ 20. Những cuộc tranh luận về ngôn ngữ liên quan đến ý nghĩa và tham chiếu, nhận thức và ý thức vẫn đang rất sôi nổi cho đến ngày nay.[15]

Khả năng tâm trí, cơ quan hay bản năng[sửa | sửa mã nguồn]

Một định nghĩa coi ngôn ngữ chủ yếu là khả năng tâm trí (mental faculty) cho phép con người thực hiện hành vi ngôn ngữ: tức là để học ngôn ngữ, để nói và hiểu lời nói. Định nghĩa này nhấn mạnh tính phổ quát của ngôn ngữ ở loài người và cơ sở sinh học của khả năng sử dụng ngôn ngữ như là một sự phát triển độc đáo của bộ não con người. Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng sự tiếp thu ngôn ngữ có tính bẩm sinh ở loài người, khẳng định điều này là hiển nhiên, vì tất cả trẻ em bình thường lớn lên trong một môi trường có tiếp xúc với ngôn ngữ đều có thể tiếp thu ngôn ngữ mà chẳng cần hướng dẫn. Ngôn ngữ thậm chí có thể phát triển một cách tự nhiên trong môi trường con người sống và lớn lên cùng nhau mà không có ngôn ngữ chung; ví dụ, các ngôn ngữ Creolengôn ngữ ký hiệu Nicaragua. Quan điểm này bắt nguồn từ thời các triết gia KantDescartes; quan điểm này xuất hiện trong các thuyết ngữ pháp phổ quát của Chomsky, và thuyết bẩm sinh cực độ của nhà triết học Mỹ Jerry Fodor. Định nghĩa này thường được sử dụng trong các nghiên cứu ngôn ngữ trong khuôn khổ khoa học nhận thứcngôn ngữ học thần kinh.[16][17]

Hệ thống biểu tượng hình thức[sửa | sửa mã nguồn]

Một định nghĩa khác coi ngôn ngữ là một hệ thống hình thức (formal system) các dấu hiệu tuân theo các quy tắc ngữ pháp kết hợp để truyền tải một ý nghĩa. Định nghĩa này nhấn mạnh rằng ngôn ngữ con người có thể được mô tả như một hệ thống kết cấu đóng bao gồm các quy tắc ánh xạ các dấu hiệu cụ thể tới các ý nghĩa cụ thể.[18] Quan điểm cấu trúc này được Ferdinand de Saussure đầu tiên đề xướng,[19] và thuyết cấu trúc (structuralism) của ông đã trở thành nền móng của nhiều phương pháp tiếp cận ngôn ngữ sau đó.[20]

Giới ủng hộ lý thuyết của Saussure về ngôn ngữ chủ trương đề ra một cách tiếp cận chính thức để nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ bằng cách xác định các yếu tố cơ bản rồi trình bày các quy tắc kết hợp các yếu tố đó nhằm hình thành các từ và câu hoàn chỉnh. Noam Chomsky, cha đẻ của thuyết ngữ pháp tạo sinh (generative grammar), là người ủng hộ nhiệt tình lý thuyết này. Chomsky định nghĩa ngôn ngữ là sự xây dựng các câu cú có thể được tạo ra bằng ngữ pháp chuyển đổi (transformational grammar).[21] Chomsky cho rằng các quy tắc này là đặc điểm bẩm sinh của tâm trí con người và tạo thành các nguyên lý cơ bản của ngôn ngữ.[22] Khái niệm ngữ pháp chuyển đổi cũng thường xuyên được sử dụng trong ngành logic học, ngôn ngữ học hình thứcngôn ngữ học máy tính áp dụng.[23][24]

Công cụ giao tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Một cuộc hội thoại sử dụng ngôn ngữ ký hiệu Mỹ

Một định nghĩa khác coi ngôn ngữ là một hệ thống giao tiếp cho phép con người trao đổi phát biểu lời nói (verbal) hoặc biểu tượng (symbolic). Định nghĩa này nhấn mạnh chức năng xã hội của ngôn ngữ và con người sử dụng nó để bộc lộ bản thân và thao túng các đối tượng trong môi trường. Các lý thuyết chức năng của ngữ pháp giải thích các cấu trúc ngữ pháp theo chức năng giao tiếp của chúng, và cho rằng các cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ là kết quả của một quá trình thích ứng trong đó ngữ pháp được hiệu chỉnh nhằm phục vụ nhu cầu giao tiếp của người sử dụng.[25][26]

Quan điểm này gắn liền với việc nghiên cứu ngôn ngữ trong khuôn khổ các ngành ngữ dụng học, ngôn ngữ học nhận thức, ngôn ngữ học tương tác, ngôn ngữ học xã hộinhân học ngôn ngữ. Các lý thuyết chức năng thường coi ngữ pháp như những hiện tượng động, như những cấu trúc luôn trong quá trình thay đổi khi người nói sử dụng. Quan điểm này đặt trọng tâm nghiên cứu ở ngành loại hình học ngôn ngữ (linguistic typology), tức là phân loại ngôn ngữ theo đặc điểm cấu trúc, do có thể chỉ ra rằng sự ngữ pháp hóa (grammaticalization) có xu hướng đi theo quỹ đạo phụ thuộc một phần vào loại hình học.[24] Trong triết học ngôn ngữ, quan điểm coi ngữ dụng là trung tâm của ngôn ngữ và ý nghĩa thường gắn liền với các tác phẩm của Wittgenstein và các triết gia ngôn ngữ thông thường như J.L. Austin, Paul Grice, John SearleW.O. Quine.[27]

Các độc đáo của ngôn ngữ con người[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều đặc điểm khác biệt của ngôn ngữ con người đã được Charles Hockett mô tả và được ông gọi là các đặc điểm thiết kế (design feature)[28] tách biệt ngôn ngữ con người khỏi các hệ thống giao tiếp ở các loài vật khác.

Các hệ thống giao tiếp được sử dụng bởi các loài động vật khác như ong hoặc vượn là hệ thống đóng bao gồm một số lượng hữu hạn (thường rất hạn chế) các ý tưởng khả thi có thể diễn đạt.[29] Ngược lại, ngôn ngữ của con người là hệ thống mở và năng suất, tức là nó cho phép con người tạo ra một loạt các phát biểu (utterance) từ một tập hợp hữu hạn các yếu tố (element) và cho phép ta tạo ra các từ và câu mới. Điều này khả thi bởi vì ngôn ngữ của con người dựa trên một mã kép (dual code), trong đó một số lượng hữu hạn các yếu tố ban đầu là vô nghĩa (ví dụ: âm thanh, chữ cái hoặc cử chỉ) có thể được kết hợp để tạo thành vô số đơn vị ý nghĩa lớn hơn (từ và câu).[30] Tuy nhiên, một nghiên cứu đã chứng minh rằng loài chim Pomatostomus ruficeps ở Úc có khả năng sử dụng các yếu tố âm thanh giống nhau theo các cách dàn xếp khác nhau để tạo ra hai âm thanh khác biệt về chức năng.[31] Ngoài ra, loài chim Turdoides bicolor có khả năng tạo ra hai giọng hót khác biệt về chức năng được cấu thành từ cùng một loại âm thanh, chỉ có thể được phân biệt bằng số lượng các yếu tố lặp lại.[32]

Một số loài động vật đã được chứng minh là có thể tiếp thu các hình thức giao tiếp thông qua học tập xã hội: ví dụ như một con tinh tinh lùn tên là Kanzi đã học cách thể hiện bản thân bằng cách sử dụng một bộ từ vựng tượng trưng (xem tiếng Yerkes). Tương tự, nhiều loài chim và cá voi học các tiếng kêu âm hưởng bằng cách bắt chước các thành viên khác trong đàn của chúng. Tuy đúng là một số loài vật có thể tiếp thu số lượng lớn từ và ký hiệu,[chú thích 2] khả năng tiếp thu của chúng vẫn còn kém xa một đứa bé loài người năm 4 tuổi trung bình và chúng vẫn chưa tạo ra bất kỳ thứ gì tương tự như ngữ pháp phức tạp ở ngôn ngữ con người.[34]

Ngôn ngữ con người khác biệt với các hệ thống giao tiếp của động vật ở chỗ: ngôn ngữ có các đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa, chẳng hạn như danh từđộng từ, thì hiện tại và thì quá khứ, có thể được sử dụng để diễn đạt những ý nghĩa cực kỳ phức tạp.[34] Ngôn ngữ còn độc đáo với tính đệ quy: ví dụ, một cụm danh từ có thể chứa một cụm danh từ khác (kiểu như "[môi [con tinh tinh]]") hoặc một mệnh đề có thể chứa một mệnh đề khác (kiểu như "[Tôi thấy [con chó đang chạy]]").[4] Ngôn ngữ của con người là hệ thống giao tiếp tự nhiên duy nhất được biết đến mà khả năng thích ứng của nó có thể được coi là độc lập về phương thức (modality independent). Điều này có nghĩa là ngôn ngữ có thể được sử dụng không chỉ để giao tiếp thông qua một kênh hoặc phương tiện, mà còn thông qua nhiều phương tiện. Ví dụ, ngôn ngữ nói sử dụng phương thức thính giác, trong khi ngôn ngữ ký hiệu và chữ viết sử dụng phương thức trực quan, còn chữ nổi sử dụng phương thức xúc giác.[35]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Họa phẩm Tháp Babel của Pieter Bruegel il Vecchio. Dầu trên bảng, 1563.
Con người đã đặt ra câu hỏi về nguồn gốc ngôn ngữ trong suốt chiều dài lịch sử. Huyền thoại Kinh thánh về tòa tháp Babel là một ví dụ điển hình; các nền văn hóa khác trên thế giới có những cách giải thích khác nhau cho điều này.[36]

Các giả thuyết về nguồn gốc ngôn ngữ khác nhau ở các giả định cơ bản về ngôn ngữ. Một số giả thuyết dựa trên ý tưởng rằng ngôn ngữ phức tạp đến mức nó không thể nào chỉ đơn thuần xuất hiện từ hư không ở dạng hoàn chỉnh, chắc hẳn nó đã tiến hóa từ các hệ thống tiền ngôn ngữ ở tổ tiên vượn nhân. Những giả thuyết thế này được gọi là các giả thuyết mang tính liên tục. Quan điểm trái lại cho rằng ngôn ngữ là một đặc điểm riêng của con người và không thể so sánh với bất cứ thứ gì ở những loài phi-người và do đó, nó đã phải xuất hiện đột ngột trong quá trình tiến hóa từ tiền-hominid sang loài người sơ khai. Những lý thuyết dạng này được gọi là các giả thuyết mang tính gián đoạn. Ngoài ra, các giả thuyết dựa trên quan điểm di truyền do Noam Chomsky tiên phong coi ngôn ngữ như một khả năng bẩm sinh được mã hóa chủ yếu trong di truyền; còn các giả thuyết theo lý thuyết chức năng coi ngôn ngữ như một hệ thống văn hóa chủ yếu, được lĩnh hội thông qua tương tác xã hội.[37]

Các lý thuyết liên tục được đa số học giả ủng hộ nhưng bất đồng về quá trình phát triển. Các học giả coi ngôn ngữ là khả năng bẩm sinh, chẳng hạn như nhà tâm lý học Steven Pinker, coi tiền thân của ngôn ngữ là nhận thức ở động vật,[17] còn một số khác coi ngôn ngữ là công cụ giao tiếp được học thông qua xã hội, chẳng hạn như nhà tâm lý học Michael Tomasello, cho rằng ngôn ngữ là công cụ tiến hóa từ giao tiếp động vật ở linh trưởng: giao tiếp bằng cử chỉ hoặc tiếng kêu để hỗ trợ và hợp tác.[38] Các mô hình dựa trên tính liên tục khác cho rằng ngôn ngữ tiến hóa từ âm nhạc và rất được tán thành bởi Rousseau, Herder, HumboldtCharles Darwin. Một người đề xướng nổi bật của quan điểm này là nhà khảo cổ học Steven Mithen.[39] Nhà ngôn học Mỹ Stephen Anderson khẳng định rằng tuổi của ngôn ngữ nói rơi vào khoảng 60.000 đến 100.000 năm[40] và rằng:

Các nhà nghiên cứu về nguồn gốc tiến hóa của ngôn ngữ thường thấy hợp lý khi cho rằng ngôn ngữ chỉ được phát minh duy nhất một lần và tất cả các ngôn ngữ nói hiện đại theo một cách nào đó đều có quan hệ với nhau, ngay cả khi mối quan hệ đó không còn khôi phục được nữa ... vì những hạn chế của các phương pháp hiện thời nhằm tái tạo chúng.[41]

Bởi lẽ ngôn ngữ xuất hiện vào thời sơ sử, trước khi có bất kỳ ghi chép thành văn nào, sự phát triển ban đầu của nó không để lại bất kì dấu tích lịch sử nào và giới khoa học tin rằng hiện giờ ta không thể quan sát bất kì quá trình nào có thể mô phỏng lại sự khởi thủy đó. Các học giả lấy trọng tâm tính là liên tục sẽ luôn tìm kiếm ở động vật các đặc điểm có thể xem là tương tự với ngôn ngữ ở loài người sơ khai. Các nhà khảo cổ có khả năng kiểm định và tìm kiếm các dấu vết ở con người thích nghi với việc sử dụng ngôn ngữ hoặc các dạng hành vi biểu tượng tiền ngôn ngữ. Một số các dấu hiệu hóa thạch con người biểu hiện khả năng ngôn ngữ là: kích thước não so với khối lượng cơ thể, sự tiến hóa của thanh quản có khả năng tạo ra âm thanh tiên tiến và một số công cụ cùng các đồ tạo tác.[42]

Một quan điểm truyền thống trong giới khảo cổ là các australopithecine tiền nhân tựu trung có hệ thống giao tiếp không khác mấy so với các loài vượn lớn. Tuy nhiên, một nghiên cứu về loài Ardipithecus ramidus năm 2017 đã thách thức quan điểm trên.[43] Một số học giả cho rằng sự phát triển của các hệ thống tiền ngôn ngữ (proto-language)[chú thích 3] bắt đầu sớm nhất với Homo habilis (2,3 triệu năm trước) trong khi nhiều học giả khác cho rằng sự tiến hóa của giao tiếp biểu tượng nguyên thủy bắt đầu với Homo erectus (1,8 triệu năm trước) hoặc Homo heidelbergensis (0,6 triệu năm trước), và sự tiến hóa của ngôn ngữ chính thống bắt đầu với Homo sapiens hiện đại về mặt giải phẫu trong cuộc cách mạng Đồ đá cũ Thượng chưa đầy 100.000 năm trước.[44][45]

Chomsky là học giả nổi bật đề xướng lý thuyết gián đoạn của sự tiến hóa ngôn ngữ.[37] Ông bình luận về các học giả quan tâm đến bản chất ngôn ngữ, "thảo luận về sự tiến hóa của năng lực ngôn ngữ là lạc đề."[46] Chomsky đề xuất rằng có lẽ "một số đột biến ngẫu nhiên đã xảy ra [...] và chúng đã tái tổ chức bộ não, cấy ghép một cơ quan ngôn ngữ vào bộ não đa phần linh trưởng."[47] Mặc dù Chomsky khuyên rằng không nên coi giả thuyết này theo nghĩa đen, ông vẫn khẳng định "nó có lẽ gần với thực tế hơn nhiều câu chuyện cổ tích khác về các quá trình tiến hóa, bao gồm cả ngôn ngữ."[47]

Nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

William Jones phát hiện mối quan hệ họ hàng giữa tiếng Latintiếng Phạn, đặt nền móng cho ngành ngôn ngữ học lịch sử.

Ngôn ngữ học đã phát triển thành một ngành khoa học kể từ khi những mô tả ngữ pháp đầu tiên của các ngôn ngữ cụ thể ở Ấn Độ hơn 2000 năm trước, sau sự phát triển của hệ chữ Brahmi. Ngôn ngữ học hiện đại là một ngành khoa học nghiên cứu tất cả các khía cạnh của ngôn ngữ, xem xét nó từ tất cả các quan điểm lý thuyết được mô tả ở trên.[48]

Phân ngành[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu học thuật về ngôn ngữ được tiến hành trong nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác nhau và từ các góc độ lý thuyết khác nhau, tất cả đều cung cấp các phương pháp tiếp cận hiện đại đối với ngôn ngữ học. Ví dụ, ngôn ngữ học mô tả mổ xẻ ngữ pháp của một ngôn ngữ đơn lẻ; ngôn ngữ học lý thuyết phát triển các lý thuyết, khái niệm ngôn ngữ và xác định bản chất ngôn ngữ dựa trên dữ liệu từ nhiều ngôn ngữ khác nhau; ngôn ngữ học xã hội nghiên cứu cách thức sử dụng ngôn ngữ trong bối cảnh xã hội, để rồi áp dụng ngược sang để nghiên cứu các chức năng xã hội của ngôn ngữ và mô tả ngữ pháp; ngôn ngữ học thần kinh nghiên cứu cách thức ngôn ngữ được xử lý trong bộ não và kiểm định các lý thuyết; ngôn ngữ học tính toán được xây dựng trên nền tảng ngôn ngữ học lý thuyết và mô tả để tạo nên các mô hình tính toán của ngôn ngữ nhằm xử lý ngôn ngữ tự nhiên hoặc thử nghiệm các giả thuyết ngôn ngữ học; và ngôn ngữ học lịch sử lần theo dấu vết lịch sử của từng ngôn ngữ dựa theo các mô tả ngữ pháp, từ vựng và tái tạo lại quan hệ ngôn ngữ thông qua phương pháp so sánh.[49]

Thời kỳ đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Ferdinand de Saussure phát triển cách tiếp cận theo thuyết cấu trúc đối với nghiên cứu ngôn ngữ.

Nghiên cứu chính thống về ngôn ngữ thường được coi là bắt đầu ở Ấn Độ với nhà ngữ pháp học thế kỷ thứ 5 TCN tên là Pāṇini, nổi tiếng vì đã trình bày 3.959 quy tắc hình thái tiếng Phạn. Tuy nhiên, người Sumer đã nghiên cứu sự khác biệt giữa ngữ pháp tiếng Sumertiếng Akkad vào khoảng năm 1900 TCN. Các truyền thống mô tả ngữ pháp tiếp tục phát triển ở tất cả các nền văn hóa cổ đại tiếp thu chữ viết.[50]

Vào thế kỷ 17, các nhà ngữ pháp Port-Royal của Pháp có ý tưởng cho rằng ngữ pháp của tất cả các ngôn ngữ là sự phản ánh những điều cơ bản phổ quát của ý nghĩ, và do đó ngữ pháp là phổ quát. Vào thế kỷ 18, nhà ngữ văn và chuyên gia về Ấn Độ cổ đại người Anh tên là William Jones lần đầu tiên áp dụng phương pháp so sánh để nghiên cứu ngôn ngữ và đã khơi mào cho sự trỗi dậy của ngành ngôn ngữ học so sánh.[51] Nghiên cứu ngôn ngữ học lịch sử được Wilhelm von Humboldt mở rộng từ các ngôn ngữ Ấn-Âu sang các ngôn ngữ khác. Đầu thế kỷ 20, Ferdinand de Saussure đề xuất ý tưởng về ngôn ngữ như một hệ thống tĩnh gồm các đơn vị liên kết với nhau, được xác định thông qua sự đối lập giữa chúng.[19]

Với sự phân biệt giữa phân tích đồng đại và lịch đại trong nghiên cứu ngôn ngữ, Saussure đã đặt nền móng cho ngành ngôn ngữ học hiện đại. Ông cũng đưa ra một số khía cạnh cơ bản của phân tích ngôn ngữ, cho đến nay vẫn là đại cương trong nhiều lý thuyết ngôn ngữ học đương đại, chẳng hạn như sự phân biệt giữa ngữ đoạn và mẫu hình, và sự phân biệt langue-parole tách ngôn ngữ thành hai phần là hệ thống trừu tượng (langue) và ngôn ngữ cụ thể hiện thân của hệ thống này (parole).[52]

Ngôn học hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Noam Chomsky là nhà ngôn ngữ học có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20.

Vào những năm 1960, Noam Chomsky xây dựng lý thuyết tạo sinh của ngôn ngữ, cho rằng hình thức cơ bản nhất của ngôn ngữ là một tập hợp các quy tắc cú pháp phổ quát ở toàn bộ loài người và đóng vai trò là cơ sở ngữ pháp của tất cả ngôn ngữ loài người. Bộ quy tắc này được ông gọi là Universal Grammar (Ngữ pháp Phổ quát); theo Chomsky, mục tiêu chính của ngôn ngữ học là tìm ra thứ ngữ pháp này. Vì vậy, Chomsky cho rằng ngữ pháp của từng ngôn ngữ riêng lẻ chỉ có tầm quan trọng nhất định do chúng cho phép ta suy ra các quy tắc cơ bản phổ quát mà từ đó tạo ra sự biến đổi ngôn ngữ có thể quan sát được ngày nay.[53]

Đối lập với các lý thuyết hình thức của trường phái tạo sinh, các lý thuyết chức năng của ngôn ngữ cho rằng vì ngôn ngữ về cơ bản là một công cụ, nên các cấu trúc của nó được phân tích và hiểu rõ nhất bằng cách nghiên cứu các chức năng của chúng. Các lý thuyết hình thức về ngữ pháp tìm cách xác định các yếu tố khác nhau của ngôn ngữ và mô tả sự liên hệ giữa chúng như là hệ thống các quy tắc hoặc các thao tác hình thức, trong khi các lý thuyết chức năng tìm cách xác định các chức năng của ngôn ngữ và sau đó liên hệ chúng với các yếu tố ngôn ngữ thực hiện chức năng đó.[24][chú thích 4] Khuôn khổ ngôn ngữ học nhận thức giải thích ngôn ngữ dưới dạng các khái niệm (đôi khi phổ quát, và đôi khi cụ thể cho một ngôn ngữ cá biệt) ẩn dưới cái hình thức. Ngôn ngữ học nhận thức quan tâm chủ yếu đến cách trí óc tạo ra ý nghĩa thông qua ngôn ngữ.[55]

Kiến trúc sinh lý và thần kinh của ngôn ngữ và lời nói[sửa | sửa mã nguồn]

Nói là phương thức mặc định để diễn đạt ngôn ngữ ở tất cả các nền văn hóa. Việc tạo ra ngôn ngữ nói phụ thuộc vào năng lực điều khiển môi, lưỡi và các thành phần khác của bộ máy thanh âm rất tinh vi; dựa vào khả năng giải mã âm thanh của giọng nói, và dựa vào bộ máy thần kinh cần thiết để tiếp thu và sản xuất ngôn ngữ.[56] Các nghiên cứu cơ sở di truyền của ngôn ngữ con người vẫn đang trong thời kì đầu: gen duy nhất có liên quan đến việc sản xuất ngôn ngữ hiện đã biết là FOXP2, nếu mất đoạn gen này sẽ gây gián đoạn chức năng ngôn ngữ ở người.[57]

Bộ não[sửa | sửa mã nguồn]

Các khu vực ngôn ngữ của não bộ. Hồi góc được tô màu cam, hồi trên viền được tô màu vàng, vùng Broca được tô màu lam, vùng Wernicke được tô màu lục và vỏ não thính giác chính được tô màu hồng.

Bộ não là trung tâm điều phối mọi hoạt động ngôn ngữ; nó kiểm soát cả việc sản xuất nhận thức ngôn ngữ, ý nghĩa và cơ chế tạo ra lời nói. Tuy nhiên, kiến ​​thức của chúng ta về các cơ sở thần kinh liên quan đến ngôn ngữ vẫn còn rất hạn chế mặc cho những tiến bộ đáng kể trong kỹ thuật hình ảnh hiện đại. Ngành ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu các khía cạnh thần kinh của ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ học thần kinh.[58]

Công tác ban đầu của ngành ngôn ngữ học thần kinh là nghiên cứu ngôn ngữ ở những người bị tổn thương não, để xem xét các tổn thương ở các khu vực cụ thể ảnh hưởng như thế nào đến ngôn ngữ và lời nói. Bằng cách này, các nhà khoa học thần kinh vào thế kỷ 19 phát hiện ra rằng hai khu vực trong não bộ có liên quan mật thiết đến quá trình xử lý ngôn ngữ. Khu vực đầu tiên là vùng Wernicke, nằm ở phần sau của hồi thái dương trên thuộc bán cầu đại não ưu thế. Những người bị tổn thương vùng não này biểu hiện chứng mất ngôn ngữ tiếp thu (aphasia tiếp thu), tức là tình trạng suy giảm trầm trọng khả năng hiểu ngôn ngữ, nhưng lời nói của đối tượng vẫn giữ nhịp điệu tự nhiên và cấu trúc câu của đối tượng tương đối bình thường. Khu vực thứ hai là vùng Broca, nằm ở phần sau của hồi trán dưới của bán cầu não ưu thế. Những người bị tổn thương khu vực này biểu hiện chứng mất ngôn ngữ biểu cảm (aphasia biểu cảm), tức là họ biết điều mình muốn nói nhưng không tài nào nói ra được.[59] Các đối tượng thường hiểu được khi người khác trò chuyện với họ và không thể nói trôi chảy. Các triệu chứng khác của chứng mất ngôn ngữ diễn đạt bao gồm lặp từ của người khác. Tình trạng này ảnh hưởng đến cả ngôn ngữ nói và viết. Những người mắc chứng này cũng có biểu hiện nói không đúng ngữ điệu và không có khả năng sử dụng thông tin cú pháp để xác định ý nghĩa của câu. Cả hai loại chứng mất ngôn ngữ diễn đạt và tiếp thu đều ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, tương tự như các ảnh hưởng đến lời nói. Trong đó, chứng mất ngôn ngữ biểu cảm khiến cho người ta ra ký hiệu chậm hơn và sai ngữ pháp, còn những người mắc chứng mất ngôn ngữ tiếp thu tuy ra hiệu trôi chảy hơn, nhưng họ ra ký hiệu thường lan man khó hiểu và thường không hiểu được ý của đối phương. Những điều trên cho thấy rằng hai vùng này đặc trưng cho khả năng sử dụng ngôn ngữ, nhưng không liên quan gì đến khả năng tạo ra giọng nói.[60][61]

Giải phẫu lời nói[sửa | sửa mã nguồn]

Đường dẫn âm của con người.
Âm phổ của các nguyên âm [i, u, ɑ] trong tiếng Anh Mỹ biểu thị formant f1f2
Quét MRI thời gian thực một người nói tiếng Quan thoại Trung Quốc.

Ngôn ngữ nói dựa vào khả năng vật lý của con người để tạo ra âm thanh, tức là một kiểu sóng dọc truyền trong không khí ở tần số rung động trống tai. Khả năng này phụ thuộc vào sinh lý của cơ quan tạo lời nói ở con người. Những cơ quan này bao gồm phổi, thanh quản, cổ họng, miệng và mũi. Bằng cách điều phối các bộ phận thuộc bộ máy phát âm, luồng khí được điều hướng để tạo ra các âm thanh giọng nói khác nhau.[62]

Âm thanh của lời nói có thể được phân tích thành sự kết hợp của các yếu tố phân đoạn và siêu phân đoạn. Các phần tử phân đoạn là những phần tử nối tiếp nhau theo trình tự, thường được biểu thị bằng các chữ cái riêng biệt trong bảng chữ cái, chẳng hạn như chữ Latinh. Trong lời nói tự do, không có ranh giới rõ ràng giữa phân đoạn này và phân đoạn tiếp, và thường không có bất kỳ khoảng tạm dừng âm thanh nào giữa chúng. Do đó, các phân đoạn được phân biệt bằng các âm riêng biệt là kết quả của các cách phát âm khác nhau (có thể là nguyên âm hoặc phụ âm). Hiện tượng siêu phân đoạn bao gồm các yếu tố như trọng âm, kiểu phát âm, âm sắc, ngôn điệu hoặc ngữ điệu, tất cả đều có thể có ảnh hưởng trên nhiều phân đoạn.[63]

Các phân đoạn phụ âmnguyên âm kết hợp với nhau để tạo thành âm tiết, sau đó kết hợp với nhau để tạo thành lời nói; điều mà có thể được phân biệt bằng khoảng trống giữa hai lần hít vào. Về mặt âm học, các phân đoạn khác nhau này đặc trưng bởi các cấu trúc formant khác nhau, được biểu thị trong phổ sóng ghi lại âm thanh. Formant chính là các đỉnh biên độ trong phổ tần số của một âm thanh cụ thể.[63][64]

Nguyên âm là những âm thanh không có ma sát nghe được, gây ra bởi sự thu hẹp hoặc tắc nghẽn một số chặng của đường dẫn âm trên. Chúng khác nhau về màu âm (quality) tùy theo độ mở của môi và vị trí của lưỡi trong khoang miệng.[63] Nguyên âm được gọi là đóng (close) khi môi tương đối khép, chẳng hạn như âm [i] (tiếng Việt ký âm là "i" hoặc "y"); được gọi là mở (open) khi môi tương đối mở, chẳng hạn như nguyên âm [a] (tiếng Việt ký âm là "a"). Nếu lưỡi nằm về phía sau miệng, màu âm sẽ thay đổi, tạo ra các nguyên âm như [u] (tiếng Việt ký âm là "u"). Âm sắc cũng thay đổi tùy thuộc vào độ làm tròn (roundedness) và không làm tròn (unroundedness) của môi, ví dụ sự khác biệt giữa [i] (nguyên âm trước không làm tròn) và [y] (nguyên âm trước làm tròn trong tiếng Đức "ü" ).[65]

Phụ âm là những âm bị ma sát nghe được hoặc bị cản trở tại một số chặng của đường dẫn âm trên. Các phụ âm thay đổi tùy theo vị trí phát âm (place of articulation), tức là vị trí luồng khí bị cản trở trong đường dẫn âm, thường là ở môi, răng, kẽ kề nướu răng, ngạc, vòm mềm, lưỡi gà hoặc thanh môn. Mỗi vị trí phát âm tạo ra một tập hợp các phụ âm khác nhau, được phân biệt rõ ràng hơn bởi phương pháp phát âm (manner of articulation) hoặc loại ma sát, kể cả khi đóng hoàn toàn (trong trường hợp đó phụ âm được gọi là âm tắc hoặc dừng), hoặc các mức khẩu độ khác nhau tạo ra âm xát và âm lướt. Phụ âm cũng có thể là hữu thanh hoặc vô thanh (voiced-unvoiced), tùy thuộc vào độ rung động của dây thanh trong quá trình phát âm.

Một số âm cần sự giải phóng luồng khí bằng khoang mũi và chúng được gọi là âm mũi hoặc âm mũi hóa (nasalized). Các âm khác được tạo ra bởi chuyển động lưỡi trong miệng như các âm l (được gọi là âm bên (lateral), vì luồng khí chạy dọc hai bên lưỡi) và các âm r (được gọi là âm rhotic hay âm giống-r).[64]

Con người có thể tạo ra hàng trăm âm thanh riêng biệt: một số âm xuất hiện rất thường xuyên trong các ngôn ngữ trên thế giới, còn một số âm thanh lại phổ biến hơn trong một số ngữ hệ, khu vực ngôn ngữ nhất định hoặc thậm chí chỉ xuất hiện ở một ngôn ngữ cụ thể.[66]

Phương thức biểu đạt[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ con người rất linh hoạt trong cách thức truyền tải.[1] Hai phương thức giao tiếp được coi là cơ bản: bằng miệng (lời nói và ra hiệu bằng miệng) và bằng tay (ra hiệu bằng tay và cử chỉ).[chú thích 5] Thông thường, ngôn ngữ bằng miệng đi kèm với cử chỉ và ngôn ngữ ký hiệu đi kèm với mấp máy miệng. Ngoài ra, một số cộng đồng ngôn ngữ sử dụng cả hai phương thức để truyền tải ý nghĩa từ vựng hoặc ngữ pháp, bổ trợ lẫn nhau. Việc sử dụng ngôn ngữ theo hai phương thức như vậy đặc biệt phổ biến trong các thể loại như kể chuyện (ví dụ Ngôn ngữ ký hiệu da đỏ đồng bằngngôn ngữ ký hiệu thổ dân Úc đi đôi với ngôn ngữ miệng), đôi khi cũng xảy ra trong các cuộc trò chuyện thông thường. Ví dụ: nhiều ngôn ngữ Úc có một tập hợp phong phú các hậu tố cách ngữ pháp (case) cung cấp thông tin chi tiết về công cụ được sử dụng để thực hiện một hành động. Nhiều ngôn ngữ khác thiếu độ chính xác ngữ pháp như vậy ở ngôn ngữ nói, nhưng được bổ sung bằng cử chỉ để truyền đạt thông tin đó. Ví dụ, trong tiếng Iwaidja, câu văn 'anh ta đi kiếm cá bằng ngọn đuốc' được nói đơn giản là "anh ấy-săn cá đuốc", nhưng từ 'đuốc' được đi kèm với một cử chỉ biểu thị rằng nó đã được cầm. Một ví dụ nữa, ngôn ngữ nghi lễ Damin có vốn từ vựng truyền miệng chỉ vỏn vẹn vài trăm từ, mỗi từ đều rất chung chung về nghĩa, nhưng được bổ sung bằng cử chỉ để có độ chính xác cao hơn (ví dụ: từ duy nhất chỉ cá là l*i, sẽ đi kèm một cử chỉ để xác định loài cá).[67]

Các phương thức ngôn ngữ thứ cấp bao gồm chữ viết (bao gồm chữ nổi), dấu hiệu (bằng ngôn ngữ được mã hóa thủ công), huýt sáođánh trống. Các phương thức ngôn ngữ bậc ba - chẳng hạn như semaphore, mã Morsebảng chữ cái chính tả - truyền tải phương thức viết thứ cấp trong một phương tiện khác. Đối với một số ngôn ngữ đã tuyệt chủng được duy trì cho mục đích nghi lễ hoặc phụng vụ, chữ viết mới là phương thức biểu đạt chính, còn phương thức nói chỉ đóng vai trò thứ yếu.

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu được coi như một hệ thống giao tiếp ký hiệu theo truyền thống, ngôn ngữ được xem như bao gồm ba phần: dấu hiệu (sign), ý nghĩa (meaning) và mã (code) cầu nối giữa dấu hiệu và ý nghĩa. Khoa học nghiên cứu quá trình semiosis (phương thức các dấu hiệu và ý nghĩa được kết hợp, sử dụng và giải thích) được gọi là ngành ký hiệu học. Dấu hiệu có thể bao gồm âm thanh, cử chỉ, chữ cái hoặc biểu tượng, tùy thuộc vào ngôn ngữ được nói, ra hiệu hay viết và chúng có thể được kết hợp thành các dấu hiệu phức tạp hơn, chẳng hạn như từ và cụm từ. Khi được sử dụng để giao tiếp, một dấu hiệu sẽ được mã hóa và truyền đi bởi người gửi (sender) thông qua một kênh (channel) đến người nhận (receiver) phải giải mã nó.[68]

Bản khắc tiếng Tamil cổ đại tại Thanjavur

Một số đặc tính tách biệt ngôn ngữ con người khỏi các hệ thống giao tiếp khác, đó là: tính tùy tiện (arbitrariness) của dấu hiệu ngôn ngữ, nghĩa là không thể lường trước về liên kết giữa dấu hiệu và ý nghĩa; tính nhị nguyên (duality) của hệ thống ngôn ngữ, nghĩa là các cấu trúc ngôn ngữ lớn hơn được xây dựng bằng sự kết hợp các yếu tố theo tầng lớp, ví dụ: âm thanh xây dựng từ, rồi từ xây dựng cụm từ; tính rời rạc (discreteness) của các yếu tố ngôn ngữ, nghĩa là các yếu tố cấu thành dấu hiệu ngôn ngữ là các đơn vị rời rạc, ví dụ: âm thanh và từ ngữ, có thể được phân biệt và tái sắp xếp theo các kiểu mẫu khác nhau; và tính năng suất (productivity) của hệ thống ngôn ngữ, nghĩa là trên lý thuyết, một tổ hợp ngôn từ vô hạn có thể được sáng tạo từ hữu hạn yếu tố ngôn ngữ.[68]

Các quy tắc mà các dấu hiệu tuân theo để kết hợp và tạo thành từ/cụm từ được gọi là cú pháp (syntax) hoặc ngữ pháp. Ý nghĩa ẩn sau của từng dấu hiệu, hình vị, từ, cụm từ và văn bản được gọi là ngữ nghĩa (semantic).[69] De Saussure là người tiên phong cho phương pháp phân chia ngôn ngữ thành các hệ thống ký hiệu và ý nghĩa riêng biệt như vậy, mà hiện nay được áp dụng trong hầu hết các ngành ngôn ngữ học.[70]

Ngữ nghĩa học[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngôn ngữ biểu đạt ý nghĩa thông qua sự liên hệ dạng ký hiệu (sign form) với một ý nghĩa (meaning) hoặc nội dung. Dạng dấu hiệu phải là điều có thể nhận biết được, chẳng hạn như âm thanh, hình ảnh hoặc cử chỉ, sau đó được liên hệ đến một ý nghĩa cụ thể theo quy ước xã hội. Bởi vì mối quan hệ cơ bản về ý nghĩa của hầu hết các dấu hiệu ngôn ngữ phải dựa trên quy ước xã hội, các dấu hiệu ngôn ngữ có thể được coi là tùy ý, theo nghĩa là quy ước được thiết lập về mặt xã hội và lịch sử, chứ không phải là quan hệ tự nhiên giữa một dạng dấu hiệu cụ thể và ý nghĩa.[19]

Như vậy, ngôn ngữ phải có vốn từ vựng về các dấu hiệu liên quan đến ý nghĩa cụ thể. Ký hiệu tiếng Việt "chó" làm ta liên tưởng đến một thành viên của loài Canis familris. Một mảng các dấu hiệu tùy ý kết nối với các ý nghĩa cụ thể được gọi là từ vựng (lexicon), và một dấu hiệu đơn lẻ được kết nối với một ý nghĩa được gọi là từ vị (lexeme). Chưa chắc mọi ý nghĩa trong một ngôn ngữ đều được thể hiện bằng các từ đơn. Thông thường, các khái niệm ngữ nghĩa được gắn với hình thái hoặc cú pháp của ngôn ngữ dưới dạng các đặc điểm ngữ pháp (vd: đuôi -s chỉ số nhiều ở tiếng Anh, v.v).[71]

Mọi ngôn ngữ đều sở hữu cấu trúc ngữ nghĩa vị ngữ có chức năng xác nhận một thuộc tính, trạng thái hoặc hành động. Ngữ nghĩa học thường được hiểu là ngành nghiên cứu về phương thức người nói và người thông dịch gán giá trị chân lý cho các phát biểu; do đó, ý nghĩa được hiểu là quá trình mà một vị ngữ phát biểu đúng hoặc sai về một thực thể, ví dụ: "[x [là y]]" hay "[x [làm y]]". Gần đây, mô hình ngữ nghĩa học này đã được bổ sung với nhiều mô hình ý nghĩa năng động hơn, kết hợp thêm kiến ​​thức về ngữ cảnh chung, trong đó một dấu hiệu được diễn giải tạo ra ý nghĩa. Những mô hình ý nghĩa kiểu vậy được khám phá nghiên cứu trong lĩnh vực ngữ dụng học.[71]

Âm thanh và ký hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Âm phổ biểu hiện từ "man" trong tiếng Anh, phiên âm theo IPA sẽ là [mæn]. Chú ý lời nói ở đây không có ranh giới rạch ròi giữa các phân đoạn, chỉ có sự chuyển tiếp rất mượt khi bộ phận tạo âm di chuyển.
Âm tiết "wi" trong bảng chữ Hangul

Tùy thuộc vào phương thức biểu đạt, cấu trúc ngôn ngữ có thể dựa trên hệ thống âm thanh (lời nói), cử chỉ (ngôn ngữ ký hiệu), đồ họa hoặc biểu tượng xúc giác. Cách thức ngôn ngữ sử dụng âm thanh hoặc biểu tượng để xây dựng ý nghĩa được nghiên cứu trong ngành âm vị học.[72]

Âm thanh thuộc một phần của hệ thống ngôn ngữ được gọi là âm vị (phoneme).[73] Âm vị là loại âm thanh trừu tượng, được định nghĩa là đơn vị nhỏ nhất trong ngôn ngữ có thể dùng để phân biệt ý nghĩa của một cặp tối thiểu (minimal pair). Ví dụ trong tiếng Việt, tương [tɨəŋ˧˧] và thương [tʰɨəŋ˧˧] tạo thành một cặp tối thiểu, trong đó sự phân biệt /t/ và /th/ tạo ra hai từ khác hẳn nhau về nghĩa; tương tự, bat [bæt] 'dơi' và pat [pʰæt] 'vỗ' tạo thành cặp tối thiểu do sự phân biệt /b/ và /p/. Tuy nhiên, mỗi ngôn ngữ tương phản âm thanh theo những cách khác nhau. Nếu như một ngôn ngữ không phân biệt giữa phụ âm hữu thanh và vô thanh, thì âm [p] và [b] (nếu xuất hiện) có thể được coi là một âm vị duy nhất và hai từ sẽ có cùng nghĩa. Tiếng Anh không phân biệt về mặt ngữ âm giữa phụ âm bật hơi và không bật hơi, giống tiếng Hàntiếng Hindi: /p/ trong spin [spɪn] và /p/ trong pin [pʰɪn] được coi là những cách phát âm khác nhau của cùng một âm vị (những biến thể của một âm vị đơn lẻ được gọi là tha âm vị (allophone)), trái lại trong tiếng Quan Thoại thì lại phân biệt giữa [pʰá] 'cúi' và [pá] 'tám' (dấu sắc của á ở đây tượng trưng cho thanh điệu cao).[74]

Mọi ngôn ngữ nói đều có âm vị thuộc hai loại cơ bản (nguyên âm hoặc phụ âm), có thể kết hợp lại thành âm tiết (syllable).[63] Bên cạnh phụ âm và nguyên âm, một số ngôn ngữ sử dụng nhiều loại âm thanh khác để truyền đạt ý nghĩa, ví dụ như trọng âm (stress), cao độ (pitch), thời lượng (duration) và thanh điệu (tone) để phân biệt nghĩa. Bởi vì những hiện tượng này hoạt động bên ngoài mức độ của các phân đoạn đơn lẻ, chúng được gọi là siêu phân đoạn.[75] Một số ngôn ngữ chỉ có một vài âm vị, chẳng hạn như tiếng Rotokastiếng Pirahã sở hữu lần lượt 11 và 10 âm vị, trong khi các ngôn ngữ như tiếng Taa sở hữu tận 141 âm vị.[74] Trong các ngôn ngữ ký hiệu, thứ tương đương với âm vị (trước đây được gọi là chereme) được xác định bởi các yếu tố cơ bản của cử chỉ, chẳng hạn như hình dạng bàn tay, hướng, vị trí và chuyển động, tương ứng với phương pháp phát âm (manner of articulation) trong ngôn ngữ nói.[76][77][78]

Hệ thống chữ viết là hệ thống sử dụng các ký hiệu trực quan đại diện cho ngôn ngữ nói. Bảng chữ cái Latinh (và những bảng chữ cái dựa theo hoặc bắt nguồn từ nó) ban đầu được tạo ra để chỉ các âm đơn lẻ, nguyên âm hoặc phụ âm, nên khi viết một từ ta phải ghép các chữ cái đó lại. Trong các hệ chữ âm tiết (syllabic script), chẳng hạn như hệ chữ tiếng Inuktitut, mỗi ký hiệu đại diện cho toàn bộ một âm tiết. Trong các hệ chữ tượng hình (logographic script), mỗi dấu hiệu đại diện cho toàn bộ một từ,[79] và tựu trung không liên quan đến phát âm của từ đó.

Bởi vì tất cả các ngôn ngữ đều có số lượng từ vựng rất lớn, không có hệ chữ tượng thành thuần túy nào tồn tại. Ngôn ngữ viết mô phỏng lại sự tiếp nối của các âm thanh và lời nói bằng cách sắp xếp các ký hiệu theo một khuôn mẫu tuân theo một chiều viết nhất định. Chiều viết của một hệ chữ hoàn toàn tùy thuộc và được thiết lập theo quy ước. Một số hệ chữ viết theo chiều ngang (từ trái sang phải giống hệ Latin hoặc từ phải sang trái giống hệ Ả Rập), còn một số hệ khác viết theo chiều dọc (từ trên xuống dưới giống hệ chữ Hán truyền thống). Một số hệ chữ viết theo các hướng ngược nhau xen kẽ các dòng, và một số hệ khác, chẳng hạn như hệ chữ Maya cổ, có thể được viết theo cả hai hướng và sử dụng các ký hiệu đặc biệt để chỉ dẫn người đọc hướng viết.[80]

Các nhà ngôn học đã phát triển bảng chữ cái phiên âm quốc tế (IPA) để đại diện cho tất cả các đơn vị âm thanh rời rạc góp phần tạo nên ý nghĩa trong tất cả các ngôn ngữ nói miệng của con người.[81]

Ngữ pháp học[sửa | sửa mã nguồn]

Ngữ pháp là bộ quy tắc (của một ngôn ngữ cụ thể) quy định sự chắp ghép các các yếu tố mang ý nghĩa, gọi là hình vị, để tạo thành một câu hoàn chỉnh. Nếu hình vị được tự do di chuyển trong một câu nói, chúng được gọi là từ; còn nếu chúng bị ràng buộc với các từ hoặc hình vị khác, thì được gọi là phụ tố. Các quy tắc cấu tạo bên trong của từ được gọi là hình thái, còn quy tắc cấu trúc bên trong của các cụm từ và câu được gọi là cú pháp.[82]

Phạm trù ngữ pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngữ pháp có thể được mô tả là một hệ thống các phạm trù (category) và một tập hợp các quy tắc kết hợp các phạm trù đó để tạo thành các khía cạnh ý nghĩa khác nhau.[83] Từng ngôn ngữ sẽ có một kiểu mã hóa ý nghĩa theo phạm trù hoặc từ vị riêng. Tuy nhiên, vẫn có một số đặc điểm nhất quán đến mức gần như phổ quát ở mọi ngôn ngữ.[84]

Lớp từ[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà ngôn học chia các thành phần trong câu nói ra làm các lớp từ theo chức năng và vị trí của chúng so với các phần khác của một câu. Ví dụ, tất cả các ngôn ngữ đều phân biệt giữa nhóm từ biểu thị nguyên mẫu sự vật-khái niệm và nhóm từ biểu thị nguyên mẫu hành động-sự kiện. Nhóm từ chỉ sự vật-khái niệm, bao gồm các từ tiếng Việt như "chó" và "nhạc", được gọi là danh từ. Nhóm từ chỉ hành động-sự kiện, bao gồm "nghĩ" và "hát", được gọi là động từ. Một nhóm từ phổ biến nữa là tính từ: nhóm từ mô tả đặc tính hoặc phẩm chất của các danh từ, chẳng hạn như "chua" hoặc "lớn". Lớp từ được gọi là "mở" nếu ta luôn có thể thêm từ mới vào lớp đó, hoặc "đóng" nếu chỉ có một số lượng từ cố định ở lớp đó. Trong tiếng Anh, lớp đại từ là lớp đóng còn lớp tính từ là lớp mở, do vô số tính từ có thể phái sinh từ động từ (ví dụ: "saddened") hoặc từ danh từ (ví dụ: thêm hậu tố -like vào sau một danh từ có thể chế ra các tính từ mới, như trong "noun-like" 'giống danh từ'). Trong các ngôn ngữ khác như tiếng Hàn, điều này trái lại, và ta có thể chế ra các đại từ mới, còn số lượng tính từ lại là cố định.[85]

Mỗi lớp từ thực hiện các chức năng khác nhau về ngữ pháp. Ví dụ, động từ cấu thành vị ngữ, còn danh từ cấu thành argument của vị ngữ; như trong câu "Sally runs", vị ngữ sẽ là "runs" vì nó chỉ trạng thái cụ thể của argument "Sally". Một số động từ như "curse" có thể liên kết với 2 argument, ví dụ: "Sally cursed John". Một vị ngữ chỉ có thể nhận một argument duy nhất thì được gọi là nội động từ (intransitive verb), còn nếu có thể nhận hai argument thì được gọi là ngoại động từ (transitive verb).[86]

Nhiều lớp từ khác tồn tại trong các ngôn ngữ: chẳng hạn, liên từ như "và" dùng để nối hai mệnh đề, mạo từ như "the" trong tiếng Anh để đánh dấu tính xác định một danh từ, thán từ như "chà!" để bộc lộ cảm xúc, tượng thanh từ (ideophone) như "bộp" mô phỏng âm thanh của một sự kiện, giới từ như "dưới" để xác định vị trí của sự vật trong không gian, loại từ như "chiếc" dùng để phân loại danh từ theo hình dáng hoặc kiểu đếm được-không đếm được, v.v.

Hình thái[sửa | sửa mã nguồn]

Trong ngôn ngữ học, việc nghiên cứu cấu trúc bên trong của các từ phức và quá trình mà các từ được hình thành được gọi là hình thái học. Trong hầu hết các ngôn ngữ, các từ phức có thể được xây dựng từ nhiều hình vị. Ví dụ, từ "unexpected" trong tiếng Anh có thể được phân tích thành ba hình vị là "un-", "expect" và "-ed".[87]

Hình vị có thể đứng độc ​​lập được gọi là gốc, còn nếu phải đi kèm với các hình vị khác thì gọi là phụ tố. Các phụ tố có thể được phân loại tiếp dựa trên vị trí của chúng so với gốc: tiền tố đứng trước gốc, hậu tố đứng sau gốc và trung tố chèn giữa gốc. Các phụ tố có vai trò làm biến đổi hoặc bổ nghĩa cho gốc. Một số ngôn ngữ thay đổi nghĩa của một từ bằng cách thay đổi cấu trúc ngữ âm của từ đó, ví dụ trong tiếng Anh, từ "run" ở thì quá khứ là "ran". Quá trình biến âm này được gọi là ablaut. Ngoài ra, hình thái học phân biệt giữa quá trình biến tố (thay đổi hoặc bổ nghĩa một từ) và quá trình phái sinh (tạo ra từ mới dựa trên một từ hiện có). Trong tiếng Anh, động từ "sing" có các dạng biến tố là "sing" và "sung", đều là động từ nhưng ở thì khác nhau, và dạng phái sinh là "singer", là một danh từ có gốc động từ kèm hậu tố chỉ nghề nghiệp "-er".[88]

Các ngôn ngữ khác nhau rất nhiều ở mức độ phụ thuộc vào các quá trình hình thái để hình thành từ. Trong một số ngôn ngữ, chẳng hạn như tiếng Trung hay tiếng Việt, quá trình hình thái không tồn tại và tất cả thông tin ngữ pháp được mã hóa theo cú pháp theo các chuỗi từ đơn. Loại cú pháp-hình thái này thường được gọi là đơn lập bởi hầu như có sự tương ứng đầy đủ giữa một từ đơn và một khía cạnh ý nghĩa. Hầu hết các ngôn ngữ đều có các từ bao gồm nhiều hình vị nhưng khác nhau về mức độ mà các hình vị là các đơn vị rời rạc. Trong nhiều ngôn ngữ, đặc biệt là các ngôn ngữ Ấn-Âu, các hình vị đơn lẻ có thể mang nhiều ý nghĩa riêng biệt mà không thể phân tích thành các phân đoạn nhỏ hơn. Ví dụ, trong tiếng Latin, từ bonus 'tốt', bao gồm gốc bon- 'tốt' và hậu tố -us biểu thị giống đực, số ít và danh cách. Những ngôn ngữ kiểu đó được gọi là dung hợp, bởi vì nhiều nghĩa có thể trộn lại và hợp thành một hình vị duy nhất. Ngược lại với các ngôn ngữ dung hợp là các ngôn ngữ chắp dính xây dựng từ bằng cách xâu các hình vị lại với nhau thành một chuỗi, nhưng mỗi hình vị vẫn là đơn vị ngữ nghĩa rời rạc. Ví dụ điển hình của ngôn ngữ dạng này là tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, với các từ như kiểu evlerinizden có nghĩa là "từ nhà của bạn", có thể phân tích thành ev-ler-iniz-den giải nghĩa lần lượt là "nhà-chỉ số nhiều-của bạn-từ". Các ngôn ngữ dựa vào quá trình hình thái ở mức độ cao thường được gọi là các ngôn ngữ hỗn nhập, có khả năng diễn đạt toàn bộ một câu trong tiếng Việt chỉ bằng một từ. Ví dụ, trong tiếng Ba Tư, từ phức nafahmidamesh có nghĩa là tôi đã không hiểu nó, bao gồm các hình vị na-fahm-id-am-esh giải nghĩa là "phủ định-hiểu-thì quá khứ-tôi-nó". Một ví dụ khác phức tạp hơn, một từ tiếng Yupiktuntussuqatarniksatengqiggtuq có nghĩa là "Anh ấy đã chưa nói lại rằng anh ấy sẽ đi săn tuần lộc", bao gồm các hình vị là tuntu-ssur-qatar-ni-ksaite-ngqiggte-uq với ngữ nghĩa lần lượt là "tuần lộc-săn-thì tương lai-nói-phủ định-lần nữa-ngôi thứ ba.số ít.lối trình bày". Ngoại trừ hình vị tuntu ("tuần lộc"), các hình vị khác không thể đứng độc lập.[89]

Nhiều hình thái ngôn ngữ có hiện tượng tham chiếu chéo các từ trong một câu, được gọi là sự thống nhất (agreement). Ví dụ, trong nhiều ngôn ngữ Ấn-Âu, các tính từ phải tham chiếu chéo với danh từ mà chúng bổ nghĩa về số lượng, cách ngữ pháp và giống ngữ pháp. Chính vì vậy từ bonus tiếng Latinh, được hiểu là đồng nhất với một danh từ giống đực, số ít và ở dang cách. Trong nhiều ngôn ngữ hỗn nhập, các động từ phải tham chiếu chéo với chủ thể và đối tượng. Trong các ngôn ngữ kiểu này, một động từ đơn lẻ có thể bao gồm thông tin của cả một câu tiếng Việt. Ví dụ, trong cụm từ tiếng Basque ikusi nauzu, nghĩa là "bạn đã thấy tôi", động từ phụ trợ thì quá khứ n-au-zu (tương tự như "do" trong tiếng Anh) thống nhất với chủ ngữ (bạn) bằng tiền tố n-, và thống nhất với đối tượng (tôi) bằng hậu tố -zu. Nếu giải nghĩa từng hình vị, câu này có nghĩa là "thấy bạn-thì quá khứ-tôi".[90]

Cú pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài từ loại, một câu có thể được phân tích thành các phần mang chức năng khác nhau: "The cat" là chủ ngữ của câu này, "on the mat" là cụm chỉ vị trí, và "sat" là lõi của vị ngữ.

Một cách truyền đạt ý nghĩa khác của ngôn ngữ là thông qua thứ tự các từ trong một câu, đó chính là cú pháp. Các quy tắc cú pháp của một ngôn ngữ cho ta biết tại sao "I love you" là câu có nghĩa, nhưng "*love you I" thì không.[chú thích 6] Các quy tắc cú pháp xác định trật tự từ và sự ràng buộc cấu trúc câu, và làm thế nào những ràng buộc đó góp phần tạo nên ý nghĩa.[92] Ví dụ, trong tiếng Anh, hai câu: "the slaves were cursing the master" [Đám nô lệ chửi (thì quá khứ tiếp diễn) tên chủ nô] và "the master was cursing the slaves" [Tên chủ nô chửi (thì quá khứ tiếp diễn) đám nô lệ] có nghĩa khác nhau bởi vì chủ ngữ là danh từ đứng trước động từ, còn tân ngữ là danh từ đứng sau động từ. Trái lại, trong tiếng Latin, cả "Dominus servos vituperabat" và "Servos vituperabat dominus" đều có nghĩa là [Chủ nhân khiển trách (thì quá khứ tiếp diễn) đám nô lệ], bởi vì từ servos 'nô lệ' đang ở dạng đối cách (accusative case, biểu thị vị ngữ) và dominus 'chủ nhân' đang ở dạng thể cách (nominative case, biểu thị chủ ngữ).[93]

Tiếng Latin sử dụng hình thái để phân biệt giữa chủ thể và đối tượng, còn tiếng Anh sử dụng trật tự từ. Một ví dụ khác về tầm ảnh hưởng của quy tắc cú pháp làm thay đổi ý nghĩa của câu là quy tắc đảo ngược trật tự từ trong câu hỏi, xuất hiện ở nhiều ngôn ngữ. Quy tắc này giải thích tại sao trong tiếng Anh, câu "John is talking to Lucy" khi chuyển thành câu hỏi phải là "Who is John talking to?" (1), chứ không phải "John is talking to who?" (2). Tất nhiên, câu (2) đôi khi vẫn được sử dụng để nhấn mạnh từ nghi vấn "who?", vẫn làm thay đổi một chút ý nghĩa của câu hỏi.

Ngôn ngữ trong bối cảnh xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tường tình yêuMontmartre, Paris: "Em yêu anh/Anh yêu em" trong 250 thứ tiếng, tác phẩm của nhà thư pháp Fédéric Baron và họa sĩ Claire Kito (2000)

Mặc dù con người có khả năng học bất kỳ ngôn ngữ nào, nhưng họ chỉ có thể làm được điều đó nếu họ lớn lên trong môi trường mà ngôn ngữ đó tồn tại và được người khác sử dụng. Chính vì vậy, ngôn ngữ phải phụ thuộc vào một cộng đồng ngôn ngữ (speech community), trong đó, trẻ em tiếp thu ngôn ngữ từ người lớn và bạn bè xung quanh chúng, rồi tiếp tục được truyền cho con cái của chúng sau này. Ngôn ngữ là công cụ đế giao tiếp và giải quyết rất nhiều nhiệm vụ xã hội. Nhiều khía cạnh của việc sử dụng ngôn ngữ đã thích nghi cho mục đích này.[25] Do cách thức truyền ngôn ngữ giữa các thế hệ và trong cộng đồng, ngôn ngữ luôn biến đổi và đa dạng hóa thành các ngôn ngữ mới, hoặc hội tụ lại do tiếp xúc ngôn ngữ. Quá trình này có phần giống với quá trình tiến hóa sinh học, trong đó quá trình phái sinh với sự biến đổi dẫn đến sự hình thành cây phát sinh chủng loại.[94]

Tuy nhiên, ngôn ngữ khác với sinh vật ở chỗ: chúng dễ dàng tiếp nhận yếu tố từ các ngôn ngữ khác thông qua quá trình khuếch tán, khi những cộng đồng nói các ngôn ngữ khác biệt tiếp xúc với nhau. Con người đôi khi nói nhiều hơn một ngôn ngữ, tiếp thu ngôn ngữ mẹ đẻ hoặc nhiều ngôn ngữ khi còn nhỏ, hoặc học ngôn ngữ mới khi lớn lên. Vì sự tiếp xúc ngôn ngữ ngày càng tăng trong thế giới toàn cầu hóa, nhiều ngôn ngữ nhỏ đang trở nên nguy cấp bởi người nói các ngôn ngữ đó chuyển sang dùng ngôn ngữ khác mà cho họ cơ hội tham gia vào cộng đồng ngôn ngữ lớn hơn và có ảnh hưởng hơn.[6]

Tiếp thu ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả con người khỏe mạnh, phát triển bình thường đều có khả năng học cách sử dụng ngôn ngữ. Trẻ em tiếp thu bất kỳ ngôn ngữ nào mà được sử dụng đáng kể xung quanh chúng thời thơ ấu, bất kể là ngôn ngữ ký hiệu hay ngôn ngữ nói miệng.[95] Quá trình học tập này được gọi là tiếp thu ngôn ngữ đầu tiên (first-language acquisition), vì không giống như nhiều quá trình học tập khác, sự "tiếp thu" không cần phải được giảng dạy hoặc luyện tập sâu. Trong cuốn The Descent of Man, nhà tự nhiên học Charles Darwin gọi quá trình này là "an instinctive tendency to acquire an art" (một xu hướng bản năng nhằm tiếp thu nghệ thuật).[17]

Một buổi học tại Học viện Kituwah, nơi sử dụng cả tiếng Anh lẫn tiếng Cherokee trong giảng dạy

Tiếp thu ngôn ngữ đầu tiên diễn ra theo một trình tự khá đều đặn, mặc dù có nhiều sự khác biệt về thời điểm của giai đoạn cụ thể ở trẻ sơ sinh phát triển bình thường. Các nghiên cứu được công bố vào năm 2013 chỉ ra rằng thai nhi có khả năng tiếp thu ngôn ngữ ở một mức độ nào đó.[96][97] Ngay từ khi sinh ra, trẻ sơ sinh ưu tiên phản ứng với lời nói con người hơn là với các âm thanh khác. Khoảng 1 tháng tuổi, trẻ đã có khả năng phân biệt giữa các âm tố khác nhau. Khoảng 6 tháng tuổi, trẻ sẽ bắt đầu bập bẹ, tạo ra các âm tố hoặc ký hiệu của ngôn ngữ sử dụng xung quanh chúng. Các từ hình thành vào khoảng thời gian từ 12-18 tháng tuổi; vốn từ vựng trung bình của một đứa trẻ 18 tháng tuổi rơi vào khoảng 50 từ. Thuật ngữ để chỉ những lời nói đầu tiên của trẻ là holophrasis (nghĩa đen là "toàn bộ câu"), tức là những lời nói chỉ sử dụng một từ để truyền đạt một số ý tưởng. Vài tháng sau khi một đứa trẻ bắt đầu tạo ra các từ, chúng sẽ nói ra hai từ và trong vòng vài tháng nữa sẽ bắt đầu tạo ra các câu điện tín (telegraphic speech) hoặc những câu đơn giản về mặt ngữ pháp so với câu nói của người lớn, nhưng vẫn có kết cấu cú pháp thông thường. Khoảng từ 3-5 tuổi, khả năng nói hoặc ra hiệu của trẻ được tinh chỉnh đến mức giống với ngôn ngữ của người lớn.[98][99]

Tiếp thu ngôn ngữ thứ hai và thứ ba/bốn/v.v có thể diễn ra ở mọi lứa tuổi, thông qua sự "phơi bày" trong cuộc sống hàng ngày hoặc ôn luyện tại các khóa học. Trẻ em học ngôn ngữ thứ hai có nhiều khả năng đạt được sự trôi chảy như người bản xứ không như người lớn, nhưng tựu trung, rất hiếm khi người nói ngôn ngữ thứ hai có nói hoàn toàn giống như người bản ngữ. Một sự khác biệt quan trọng giữa tiếp thu ngôn ngữ đầu tiên và tiếp thu ngôn ngữ bổ sung là quá trình tiếp thu ngôn ngữ bổ sung bị ảnh hưởng bởi các ngôn ngữ mà người học đã biết.[100]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm Cuộc hội thoại của họa sĩ Arnold Lakhovsky (k. 1935)

Ngôn ngữ còn được hiểu là tập hợp các quy tắc nói cụ thể của một cộng đồng cụ thể, và là một phần của nền văn hóa bao trùm cộng đồng nói chúng. Các ngôn ngữ không chỉ khác nhau về mặt phát âm, từ vựng và ngữ pháp; mà còn khác về "văn hóa nói". Con người sử dụng ngôn ngữ như một cách để báo hiệu bản sắc nhóm, cũng như nhấn mạnh sự khác biệt với các nhóm khác. Ngay cả giữa những người nói chung một ngôn ngữ, vẫn tồn tại sự khác biệt trong lối sử dụng ngôn ngữ và mỗi lối sử dụng đó báo hiệu sự liên kết với một nhóm cụ thể trực thuộc nền văn hóa lớn hơn. Các nhà ngôn học, nhân học, và đặc biệt là các nhà xã hội học, dân tộc học và nhân học ngôn ngữ chuyên nghiên cứu các lối nói khác nhau giữa các cộng đồng ngôn ngữ.[101]

Các nhà ngôn học sử dụng thuật ngữ "biến thể" (varieties) để chỉ lối cách khác nhau khi nói cùng một ngôn ngữ. Thuật ngữ này bao hàm các phương ngữ (dialect) được xác định theo địa lý hoặc văn hóa xã hội, cũng như các biệt ngữ (jargon) hoặc phong cách (style) của các nền văn hóa phụ. Các nhà nhân học ngôn ngữ và các nhà xã hội học về ngôn ngữ định nghĩa phong cách giao tiếp là phương thức ngôn ngữ được sử dụng và thông hiểu trong một nền văn hóa cụ thể.[102]

Bởi vì các quy tắc sử dụng ngôn ngữ được chia sẻ bởi các thành viên của một nhóm cụ thể, phong cách giao tiếp cũng trở thành một cách thể hiện và xây dựng bản sắc nhóm. Sự khác biệt về ngôn ngữ có thể trở thành dấu hiệu rõ rệt của sự phân chia giữa các nhóm xã hội; ví dụ, giọng nói cụ thể của một thứ tiếng (accent) có thể ngụ ý nhóm dân tộc hoặc tầng lớp xã hội mà người nói thuộc về, quê hương hoặc địa vị của người nói, hoặc người nói đang nói một ngôn ngữ thứ hai. Những sự khác biệt này không phải là một phần của hệ thống ngôn ngữ, nhưng là một phần quan trọng trong cách con người sử dụng ngôn ngữ như một công cụ xã hội để xây dựng các nhóm.[103]

Tuy vậy, nhiều ngôn ngữ cũng có các quy ước ngữ pháp báo hiệu vị trí xã hội của người nói trong mối quan hệ với người khác thông qua việc sử dụng các âm vực có liên quan đến thứ bậc hoặc phân cấp xã hội. Trong nhiều ngôn ngữ, có sự khác biệt về văn phong hoặc thậm chí ngữ pháp giữa lối nói của đàn ông và đàn bà, giữa các nhóm tuổi hoặc giữa các tầng lớp xã hội, chẳng hạn như nhiều ngôn ngữ sử dụng các từ khác nhau tùy vào người nghe. Ví dụ, trong tiếng Dyirbal, một người đàn ông đã kết hôn phải sử dụng một nhóm từ đặc biệt để chỉ các vật dụng hàng ngày khi có sự hiện diện của mẹ vợ.[104] Một số nền văn hóa, có những hệ thống "social deixis" (trực chỉ xã hội) rất phức tạp, hoặc những hệ thống báo hiệu khoảng cách xã hội thông qua các phương tiện ngôn ngữ.[105] Trong tiếng Anh, trực chỉ xã hội được thể hiện chủ yếu thông qua sự phân biệt xưng hô khi gọi một số người bằng tên riêng và những người khác bằng họ; và các chức danh như "Mrs", "boy", "Mr" hoặc "Your Honor". Nhưng ở các ngôn ngữ khác, những hệ thống như vậy có thể rất phức tạp và được hệ thống hóa bằng toàn bộ ngữ pháp và từ vựng. Ví dụ, trong các ngôn ngữ Đông Á như tiếng Thái, tiếng Miến Điện hay tiếng Java, đại từ xưng hô phụ thuộc vào cấp bậc, trật tự hay tôn ti của người nói và đối phương, ví dụ: động vật và trẻ em xếp hạng thấp nhất, còn các vị thần và hoàng tộc sẽ đứng cao nhất.[105]

Chữ viết, biết chữ và công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ khắc tiếng Cree Đầm Lầy sử dụng bảng ký tự âm tiết Thổ Dân Canada, một kiểu chữ viết abugida được các giáo sĩ Công giáo tạo ra để ghi chép các ngôn ngữ bản địa của Canada

Trong suốt lịch sử, nhiều kiểu cách biểu diễn ngôn ngữ bằng phương tiện trực quan đã được phát minh. Chúng được gọi là hệ chữ viết.

Chữ viết khiến ngôn ngữ trở nên hữu ích hơn đối với con người. Chữ viết cho phép ta có thể lưu trữ một lượng lớn thông tin mà có thể dùng lại/kích hoạt lại sau này, đồng thời nó cho phép ta giao tiếp vượt khoảng cách địa lý và thời gian, điều mà trước đây là bất khả thi. Nhiều ngôn ngữ thông thường sử dụng các thể loại, phong cách và âm vực khác nhau giữa ngôn ngữ viết và nói, và trong một số cộng đồng, ngôn ngữ viết truyền thống là một ngôn ngữ hoàn toàn khác ngôn ngữ nói. Có một số bằng chứng cho thấy chữ viết có ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức ở con người, có lẽ bởi vì để có được khả năng đọc viết nói chung, thì ta cần phải được giáo dục chính quy.[106]

Thời điểm hệ chữ viết đầu tiên xuất hiện có tương quan với sự khởi đầu của thời đại đồ đồng vào cuối thiên niên kỷ thứ 4 TCN. Chữ hình nêm của người Sumerchữ tượng hình Ai Cập cổ xưa được nhiều học giả coi là các hệ chữ viết xuất hiện sớm nhất, cả hai đều phái sinh từ các hệ thống biểu tượng tiền-chữ viết trước đó vào khoảng 3400-3200 TCN, với các văn bản mạch lạc sớm nhất xuất hiện vào ​​khoảng năm 2600 TCN. Phần đông các học giả cho rằng chữ viết của người Sumer là một phát minh độc lập; tuy nhiên, vẫn còn tranh luận rằng chữ viết Ai Cập và chữ viết Sumer có mối quan hệ nào đó. Cũng có nghi vấn tương tự về Hán tự của Trung Quốc, xuất hiện vào khoảng năm 1200 TCN. Các hệ chữ viết Trung Bộ châu Mỹ tiền-Columbus (bao gồm các hệ chữ viết như chữ Olmecchữ Maya) nhiều khả năng là phát triển độc lập.[80]

Biến đổi[sửa | sửa mã nguồn]

Trang đầu tiên của bài thơ Beowulf trong tiếng Anh Cổ sơ kỳ trung đại (800–1100). Tuy tiếng Anh Cổ là tổ tiên trực tiếp của tiếng Anh hiện đại, người nói tiếng Anh hiện đại không thể hiểu được tiếng Anh Cổ.

Tất cả các ngôn ngữ đều biến đổi theo thời gian khi người nói sử dụng hoặc phát minh ra những lối nói mới và lan truyền sang các thành viên khác trong cộng đồng ngôn ngữ. Sự thay đổi ngôn ngữ xảy ra ở tất cả các cấp độ, từ âm vị đến từ vựng, hình thái, cú pháp và diễn ngôn. Mặc dù sự thay đổi ngôn ngữ ban đầu thường bị coi là tiêu cực bởi những người nói ngôn ngữ đó, thường là "sự suy đồi" hoặc dấu hiệu lệch khỏi chuẩn mực sử dụng ngôn ngữ, nhưng đó là điều tự nhiên và không thể tránh khỏi.[107]

Những thay đổi có thể ảnh hưởng đến một âm thanh cụ thể hoặc toàn bộ hệ thống âm vị. Sự thay đổi ngữ âm (sound change) có thể bao hàm: sự thay thế âm nói (speech sound) hoặc âm đặc trưng (distintive feature) bằng một âm khác, sự mai một hoàn toàn âm bị ảnh hưởng hoặc đôi khi là sự phát triển của âm mới chưa từng có. Sự thay đổi âm thanh có tính điều chỉnh (conditioned) trong trường hợp âm đó chỉ bị thay đổi nếu nó xuất hiện ở vùng lân cận của các âm khác. Sự thay đổi ngữ âm có tính thường xuyên (regular), tức là nó sẽ xuất hiện bất cứ khi nào các điều kiện cấu trúc được đáp ứng, bất kể yếu tố phi âm vị. Mặt khác, sự thay đổi ngữ âm đôi khi xảy ra ngẫu nhiên (sporadic), chỉ ảnh hưởng đến một từ hoặc một vài từ cụ thể mà không có sự đều đặn nào. Đôi khi một thay đổi đơn giản lại gây ra một sự thay đổi dây chuyền khiến toàn bộ hệ thống âm vị bị ảnh hưởng. Điều này từng xảy ra trong các ngôn ngữ German, khi luật thay đổi âm Grimm ảnh hưởng đến tất cả các âm tắc trong hệ thống âm vị. Phụ âm *bʰ gốc trở thành /b/ trong các ngôn ngữ Germanic, *b gốc lại trở thành /p/, và *p gốc lại trở thành /f/. Quy trình này diễn ra ở tất cả các phụ âm tắc và giải thích tại sao các ngôn ngữ Italic như tiếng Latin có âm p pater 'cha' và pisces 'cá', còn các ngôn ngữ Germanic như tiếng Anh lại có âm f father 'cha' và fish 'cá'.[108]

Một ví dụ nữa cho sự biến đổi ngữ âm là Đại Dịch chuyển Nguyên âm tiếng Anh, và là lý do tại sao chính tả tiếng Anh không tương thích với phát âm hiện tại. Một nguồn khác của sự biến đổi ngữ âm là sự xói mòn từ ngữ khi phát âm trở nên bất phân biệt (vd: rada trong giọng Hà Nội không phân biệt) và sự rút gọn các âm tiết hoặc âm thanh trong một từ. Sự rút gọn khiến từ mea domina trong tiếng Latin trở thành madame trong tiếng Pháp và ma'am trong tiếng Anh Mỹ.[109]

Sự đa dạng ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ Người nói bản ngữ
(triệu)[110]
Quan thoại 848
Tây Ban Nha 329 [chú thích 7]
Anh 328
Bồ 250
Ả Rập 221
Hindi 182
Bengal 181
Nga 144
Nhật 122
Java 84.3

SIL Ethnologue định nghĩa "ngôn ngữ sống" là "ngôn ngữ có ít nhất một người nói và phải là ngôn ngữ đầu tiên của họ". Số lượng chính xác các ngôn ngữ sống đã biết dao động trong khoảng 6.000 đến 7.000, tùy thuộc vào định nghĩa "ngôn ngữ" của mỗi tác giả và phương thức xác định sự khác biệt giữa "ngôn ngữ" và "phương ngữ". Tính đến năm 2016, Ethnologue đã lập danh mục 7.097 ngôn ngữ sống của con người.[112] Ethnologue phân loại nhóm ngôn ngữ dựa trên các nghiên cứu về mức độ thông hiểu lẫn nhau (mutual intelligibility), và do đó thường bao gồm nhiều mục hơn các phân loại bảo thủ. Ví dụ, tiếng Đan Mạch được hầu hết các nhà ngôn học coi là một ngôn ngữ với một phương ngữ nhưng Ethnologue lại liệt thành hai ngôn ngữ riêng biệt (ngôn ngữ Đan Mạch và phương ngữ/ngôn ngữ Jutland).[110]

Theo Ethnologue, 389 ngôn ngữ (chiếm 6% tổng số ngôn ngữ) có hơn một triệu người nói. Những ngôn ngữ này cộng lại chiếm 94% dân số thế giới, trong khi 94% ngôn ngữ trên thế giới được nói bởi 6% dân số toàn cầu còn lại.

Ngôn ngữ và phương ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Một biển hiệu đa ngôn ngữ bên ngoài văn phòng thị trưởng Novi Sad, viết bằng 4 ngôn ngữ chính thức của thành phố: Serbia, Hungary, Slovak, và Pannonia Rusyn

Không có sự phân biệt rõ ràng giữa ngôn ngữ và phương ngữ. Nhà ngôn học Max Weinreich từng nói một câu cách ngôn rất nổi tiếng rằng "ngôn ngữ là một phương ngữ với quân đội và hải quân".[113] Ví dụ, biên giới các quốc gia thường bóp méo sự khác biệt ngôn ngữ thực chất, làm khó khăn cho việc phân loại ngôn ngữ và phương ngữ. Ví dụ, tiếng Khách Gia, tiếng Quảng Đôngtiếng Quan Thoại thường được coi là "phương ngữ" của tiếng Trung, mặc dù sự khác biệt giữa chúng rất lớn, hơn cả sự khác biệt giữa giọng Hà Nội và giọng thành phố Hồ Chí Minh của tiếng Việt chẳng hạn. Trước chiến tranh Nam Tư, tiếng Serbo-Croatia được coi là một ngôn ngữ duy nhất với hai biến thể quy chuẩn, nhưng vì lý do chính trị xã hội, tiếng Croatiatiếng Serbia hiện nay bị coi là những ngôn ngữ riêng biệt và sử dụng các hệ chữ viết khác nhau. Nói cách khác, sự phân biệt ngôn ngữ-phương ngữ còn phụ thuộc vào tình hình chính trị, văn hóa, hệ chữ viết hoặc mức độ thông hiểu lẫn nhau.[114]

Các ngữ hệ của thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngữ hệ chính trên thế giới (tuy có một số trường hợp là nhóm ngôn ngữ địa lý). Xem Phân bố của ngôn ngữ trên thế giới để có chi tiết hơn.

Các ngôn ngữ trên thế giới có thể được nhóm lại thành các ngữ hệ bao gồm các ngôn ngữ được chứng minh là có tổ tiên chung. Các nhà ngôn học đã xác định được hàng trăm ngữ hệ, mặc dù một số hệ có thể được nhóm lại thành các hệ lớn hơn nếu nhiều bằng chứng hơn lộ diện bởi các nghiên cứu chuyên sâu được thực hiện. Hiện tại, cũng có hàng tá ngôn ngữ biệt lập: những ngôn ngữ không thể được chứng minh là có liên quan đến bất kỳ ngôn ngữ nào khác trên thế giới. Trong số đó có tiếng Basque ở châu Âu, tiếng Zuni ở New Mexico, tiếng Purépecha ở Mexico, tiếng Ainu ở Nhật Bản, tiếng Burushaski ở Pakistan, và nhiều ngôn ngữ khác.[115]

Ngữ hệ có nhiều người nói nhất trên thế giới là hệ Ấn-Âu với khoảng 46% dân số thế giới sử dụng.[116] Hệ này bao gồm nhiều ngôn ngữ chính trên thế giới như tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ngatiếng Hindustani (tiếng Hindi/tiếng Urdu). Ngữ hệ Hán-Tạng được sử dụng bởi tầm 20%[116] dân số thế giới và bao gồm nhiều ngôn ngữ ở Đông Á, bao gồm tiếng Khách Gia, tiếng Quan Thoại, tiếng Quảng Đông, tiếng Tây Tạng, tiếng Miến Điện và hàng trăm ngôn ngữ khác.[117]

Châu Phi là ngôi nhà của rất nhiều ngữ hệ, lớn nhất trong số đó là ngữ hệ Niger-Congo, bao gồm các ngôn ngữ như tiếng Swahili, tiếng Shonatiếng Yoruba. Người nói các ngôn ngữ Niger-Congo chiếm 6,9% dân số thế giới.[116] Có một số lượng tương tự người nói các ngôn ngữ Phi-Á ở châu Phi và châu Á, bao gồm ngữ tộc Semit như tiếng Ả Rập, tiếng Do Thái và các ngôn ngữ của vùng Sahara, chẳng hạn như ngữ tộc Berbertiếng Hausa.[117]

Ngữ hệ Nam Đảo được 5,5% dân số thế giới sử dụng và phân bố trải dài từ Madagascar đến Đông Nam Á hải đảo rồi ra tận Châu Đại Dương.[116] Hệ này bao gồm các ngôn ngữ như tiếng Malagasy, tiếng Māori, tiếng Samoa và nhiều ngôn ngữ bản địa của IndonesiaĐài Loan. Các ngôn ngữ Nam Đảo có nguồn gốc từ đảo Đài Loan vào khoảng 3000 năm TCN và bành trướng qua châu Đại dương thông qua các luồng di cư trên đại dương với công nghệ hàng hải tiên tiến của người Nam Đảo. Các ngữ hệ đông dân khác là hệ Dravidia ở Nam Á (chẳng hạn tiếng Kannada, tiếng Tamiltiếng Telugu), hệ Turk ở Trung Á (chẳng hạn tiếng Thổ Nhĩ Kỳtiếng Duy Ngô Nhĩ), hệ Nam Á (chẳng hạn tiếng Môn, tiếng Khmertiếng Việt), và hệ Tai–Kadai ở Đông Nam Á (chẳng hạn tiếng Thái, tiếng Làotiếng Tày).[117]

Các khu vực trên thế giới có sự đa dạng ngôn ngữ lớn nhất, chẳng hạn như Châu Mỹ, Papua New Guinea, Tây PhiNam Á, có hàng trăm ngữ hệ nhỏ. Những khu vực này có sự đa dạng ngôn ngữ rất cao so với thế giới mặc dù không chiếm phần đông người nói. Ở châu Mỹ, một số ngữ hệ lớn nhất bao gồm ngữ hệ Quechua, ngữ hệ Arawak, và ngữ hệ Tupi-Guarani của Nam Mỹ, ngữ hệ Ute-Aztec, ngữ hệ Oto-Manguengữ hệ Maya của Trung Bộ châu Mỹ, và ngữ hệ Na-Dene, ngữ hệ Iroquoisngữ hệ Algonqui của Bắc Mỹ. Ở Úc, hầu hết các ngôn ngữ bản địa thuộc về ngữ hệ Pama–Nyungar, còn New Guinea là nơi phân bố phần lớn các hệ nhỏ và các nhóm biệt lập, cũng như một số ngôn ngữ Nam Đảo.[115]

Ngôn ngữ bị đe dọa[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng cộng lại, 8 nước màu đỏ trên biểu đồ này là mái nhà của hơn 50% ngôn ngữ toàn cầu. Các vùng màu xanh nước biển là các khu vực đa dạng ngôn ngữ nhất thế giới, và cũng là nơi có nhiều ngôn ngữ đang lâm nguy nhất thế giới.

Một ngôn ngữ được coi là bị đe dọa khi đa số người nói của ngôn ngữ đó mất đi hoặc chuyển sang dùng ngôn ngữ khác. Sự mai một ngôn ngữ xảy ra khi một ngôn ngữ không còn người bản ngữ và trở thành ngôn ngữ chết. Nếu như ngôn ngữ chết đó không được lưu giữ lại hoặc không phát sinh các ngôn ngữ hậu duệ thì sẽ được gọi là một ngôn ngữ tuyệt chủng. Sự tuyệt chủng ngôn ngữ là điều thường xuyên diễn ra suốt lịch sử nhân loại; tuy vậy, nhiều ngôn ngữ đang biến mất với tốc độ nhanh chóng mặt khi nhân loại bước vào thế kỷ 20 và 21 do các quá trình toàn cầu hóachủ nghĩa thực dân mới, tạo điều kiện cho các ngôn ngữ với ưu thế kinh tế xã hội lấn át các ngôn ngữ nhỏ khác.[6]

Trong số 6.000[5] đến 7.000 ngôn ngữ được sử dụng tính đến năm 2010, 50-90% số đó được dự đoán là sẽ tuyệt chủng vào năm 2100.[6] 20 ngôn ngữ top đầu là những ngôn ngữ có hơn 50 triệu người nói, tức là chiếm tận 50% dân số thế giới; trong khi đó, hầu hết các ngôn ngữ nhỏ có số lượng người nói chỉ vỏn vẹn dưới 10.000.[6]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đôi khi thuật ngữ "spoken language" trong tiếng Anh chỉ cả ngôn ngữ nói miệng lẫn ngôn ngữ ký hiệu
  2. ^ Con khỉ đột tên Koko được báo cáo là có thể sử dụng 1000 từ trong ngôn ngữ ký hiệu Mỹ, và hiểu 2000 từ tiếng Anh. Có một số hoài nghi cho rằng Koko không thực sự có sự hiểu thấu phức tạp mà đây chỉ đơn giản là hiện tượng điều kiện hóa kết quả.[33]
  3. ^ Phân biệt thuật ngữ này với thuật ngữ "ngôn ngữ nguyên thủy" của Homo sapiens, tức là ngôn ngữ tổ tiên được phục nguyên của một nhóm ngôn ngữ trong ngôn ngữ học lịch sử
  4. ^ "Ngữ pháp chức năng phân tích cấu trúc ngữ pháp, giống với ngữ pháp chính thống và ngữ pháp cấu trúc; nhưng nó cũng phân tích cả tình huống giao tiếp: mục đích của một cuộc hội thoại, những đối tượng tham gia, ngữ cảnh diễn ngôn của nó. Các nhà chức năng cho rằng tình huống giao tiếp cổ động, kìm hãm, giải thích, hoặc quyết định cấu trúc ngữ pháp, và rằng hướng tiếp cận chính thống hoặc cấu trúc không chỉ giới hạn ở các cơ sở dữ liệu hạn chế nhân tạo, nhưng vẫn bất cập cho dù theo phương pháp cấu trúc. Ngữ pháp chức năng, do đó, khác biệt so với ngữ pháp chính thống và cấu trúc ở chỗ nó được tạo ra không phải là để mô hình hóa mà là để giải thích; và lời giải thích gói gọn trong các tình huống giao tiếp".[54]
  5. ^ Ngoài phương thức ký hiệu tác động đến thị giác, ta còn có phương thức ra hiệu xúc giác; và ngoài phương thức nói miệng tác động đến thính giác, ta còn có các phương thức đọc môitadoma.
  6. ^ Dấu * ở trước là ký hiệu tiêu chuẩn để chỉ một câu không có ý nghĩa về mặt ngữ/cú pháp.[91]
  7. ^ Số liệu này của Ethnologue lấy vào năm 1995. Số người nói tiếng Tây Ban Nha hiện nay rơi gần hơn vào khoảng 420 triệu.[111]

Trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Nicholas Evans & Stephen Levinson (2009) 'The Myth of Language Universals: Language Diversity and Its Importance for Cognitive Science'. Behavioral and Brain Sciences 32, 429–492.
  2. ^ Kamusella, Tomasz (2016). “The History of the Normative Opposition of 'Language versus Dialect': From Its Graeco-Latin Origin to Central Europe's Ethnolinguistic Nation-States”. Colloquia Humanistica. 5 (5): 189–198. doi:10.11649/ch.2016.011. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2020.
  3. ^ Tomasello (1996)
  4. ^ a b Hauser, Chomsky & Fitch (2002)
  5. ^ a b Moseley (2010): "Statistics Lưu trữ 12 tháng 8 2014 tại Wayback Machine"
  6. ^ a b c d e Austin & Sallabank (2011)
  7. ^ Graddol, D. (27 tháng 2 năm 2004). “The Future of Language”. Science. 303 (5662): 1329–1331. Bibcode:2004Sci...303.1329G. doi:10.1126/science.1096546. ISSN 0036-8075. PMID 14988552. S2CID 35904484. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2020.
  8. ^ Trịnh Trương Thượng Phương (鄭張尚芳) (2003). 上古音系 (Thượng cổ âm hệ). Thượng Hải: NXB Giáo dục Thượng Hải. ISBN 978-7-5320-9244-4.
  9. ^ Baxter, William H.; Sagart, Laurent (2017). “Old Chinese reconstruction: A response to Schuessler”. Diachronica. 34 (4): 559–576.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  10. ^ “language”. The American Heritage Dictionary of the English Language (ấn bản 3). Boston: Houghton Mifflin Company. 1992.
  11. ^ Lyons (1981:2)
  12. ^ Lyons (1981:1–8)
  13. ^ Trask (2007:129–31)
  14. ^ Bett 2010.
  15. ^ Devitt & Sterelny 1999.
  16. ^ Hauser & Fitch (2003)
  17. ^ a b c Pinker (1994)
  18. ^ Trask 2007, tr. 93.
  19. ^ a b c Saussure (1983)
  20. ^ Campbell (2001:96)
  21. ^ Trask 2007, tr. 130.
  22. ^ Chomsky (1957)
  23. ^ Trask (2007:93, 130)
  24. ^ a b c Newmeyer (1998:3–6)
  25. ^ a b Evans & Levinson (2009)
  26. ^ Van Valin (2001)
  27. ^ Nerlich 2010, tr. 192.
  28. ^ Hockett, Charles F. (1966). “The Problem of Universals in Language”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013.
  29. ^ Hockett (1960); Deacon (1997)
  30. ^ Trask (1999:1–5)
  31. ^ Engesser, Sabrina; Crane, Jodie S.; Savage, James L.; Russel, Andrew F.; Townsend, Simon W. (29 tháng 6 năm 2015). “Experimental Evidence for Phonemic Contrasts in a Nonhuman Vocal System”. PLOS Biology. 13 (6): e1002171. doi:10.1371/journal.pbio.1002171. PMC 4488142. PMID 26121619.
  32. ^ Engesser, Sabrina; Ridley, Amanda R.; Townsend, Simon W. (20 tháng 7 năm 2017). “Element repetition rates encode functionally distinct information in pied babbler 'clucks' and 'purrs' (PDF). Animal Cognition. 20 (5): 953–60. doi:10.1007/s10071-017-1114-6. PMID 28730513. S2CID 21470061. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2018.
  33. ^ Candland (1993)
  34. ^ a b Deacon (1997)
  35. ^ Trask (2007:165–66)
  36. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Haugen
  37. ^ a b Ulbaek (1998)
  38. ^ Tomasello (2008)
  39. ^ Fitch 2010, tr. 466–507.
  40. ^ Anderson (2012:107)
  41. ^ Anderson (2012:104)
  42. ^ Fitch 2010, tr. 250–92.
  43. ^ Clark, Gary; Henneberg, Maciej (2017). “Ardipithecus ramidus and the evolution of language and singing: An early origin for hominin vocal capability”. HOMO. 68 (2): 101–21. doi:10.1016/j.jchb.2017.03.001. PMID 28363458.
  44. ^ Foley 1997, tr. 70–74.
  45. ^ Fitch 2010, tr. 292–93.
  46. ^ Chomsky 1972, tr. 86.
  47. ^ a b Chomsky 2000, tr. 4.
  48. ^ Newmeyer (2005)
  49. ^ Trask (2007)
  50. ^ Campbell (2001:82–83)
  51. ^ Bloomfield 1914, tr. 310
  52. ^ Clarke (1990:143–44)
  53. ^ Foley (1997:82–83)
  54. ^ Nichols (1984)
  55. ^ Croft & Cruse (2004:1–4)
  56. ^ Trask (1999:11–14, 105–13)
  57. ^ Fisher, Lai & Monaco (2003)
  58. ^ Lesser (1989:205–06)
  59. ^ Trask (1999:105–07)
  60. ^ Trask (1999:108)
  61. ^ Sandler & Lillo-Martin (2001:554)
  62. ^ MacMahon (1989:2)
  63. ^ a b c d MacMahon (1989:3)
  64. ^ a b International Phonetic Association (1999:3–8)
  65. ^ MacMahon (1989:11–15)
  66. ^ Ladefoged & Maddieson (1996)
  67. ^ Nicholas Evans (2017) Listening here: Ngûrrahmalkwonawoniyan. Humanities Australia, Journal of the Australian Academy of the Humanities, chương 8, tr 39.
  68. ^ a b Lyons (1981:17–24)
  69. ^ Trask (1999:35)
  70. ^ Lyons (1981:218–24)
  71. ^ a b Levinson (1983)
  72. ^ Goldsmith (1995)
  73. ^ International Phonetic Association (1999:27)
  74. ^ a b Trask (2007:214)
  75. ^ International Phonetic Association (1999:4)
  76. ^ Stokoe, William C. (1960). Sign Language Structure: An Outline of the Visual Communication Systems of the American Deaf, Studies in linguistics: Occasional papers (No. 8). Buffalo: Khoa Nhân học và Ngôn học, Đại học Buffalo.
  77. ^ Stokoe, William C.; Dorothy C. Casterline; Carl G. Croneberg (1965). A dictionary of American sign languages on linguistic principles. Washington, D.C.: Gallaudet College Press
  78. ^ Sandler & Lillo-Martin (2001:539–40)
  79. ^ Trask (2007:326)
  80. ^ a b Coulmas (2002)
  81. ^ Trask (2007:123)
  82. ^ Lyons (1981:103)
  83. ^ Allerton (1989)
  84. ^ Payne (1997)
  85. ^ Trask (2007:208)
  86. ^ Trask (2007:305)
  87. ^ Aronoff & Fudeman (2011:1–2)
  88. ^ Bauer (2003); Haspelmath (2002)
  89. ^ Payne (1997:28–29)
  90. ^ Trask (2007:11)
  91. ^ Denham, Kristin; Lobeck, Anne (6 tháng 3 năm 2009). Linguistics for Everyone: An Introduction. Cengage Learning. tr. 9. ISBN 978-1-4130-1589-8. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2020. An ungrammatical sentence is one that is impossible in a given language, one that a native speaker of that variety would never utter naturally. (Remember that ungrammatical sentences are marked with an asterisk, *.
  92. ^ Baker (2001:265)
  93. ^ Trask (2007:179)
  94. ^ Campbell (2004)
  95. ^ Bonvillian, John D.; Michael D. Orlansky; Leslie Lazin Novack (tháng 12 năm 1983). “Developmental milestones: Sign language acquisition and motor development”. Child Development. 54 (6): 1435–45. doi:10.2307/1129806. JSTOR 1129806. PMID 6661942.
  96. ^ Scientific American (2015:24)
  97. ^ Beth Skwarecki, "Babies Learn to Recognize Words in the Womb", Science, 26 August 2013 [1] Lưu trữ 4 tháng 11 2015 tại Wayback Machine
  98. ^ O'Grady, William; Cho, Sook Whan (2001). “First language acquisition”. Contemporary Linguistics: An Introduction . Boston: Bedford St. Martin's.
  99. ^ Kennison (2013)
  100. ^ Macaro (2010:137–57)
  101. ^ Duranti (2003)
  102. ^ Foley (1997)
  103. ^ Agha (2006)
  104. ^ Dixon (1972:32–34)
  105. ^ a b Foley (1997:311–28)
  106. ^ Olson (1996)
  107. ^ Aitchison (2001); Trask (1999:70)
  108. ^ Clackson (2007:27–33)
  109. ^ Aitchison (2001:112)
  110. ^ a b Lewis (2009)
  111. ^ “Primer estudio conjunto del Instituto Cervantes y el British Council sobre el peso internacional del español y del inglés”. Instituto Cervantes (www.cervantes.es). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2012.
  112. ^ “Ethnologue statistics”. Summary by world area | Ethnologue. SIL. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2014.
  113. ^ Rickerson, E.M. “What's the difference between dialect and language?”. The Five Minute Linguist. College of Charleston. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2011.
  114. ^ Lyons (1981:26)
  115. ^ a b Katzner (1999)
  116. ^ a b c d Lewis (2009), "Summary by language family Lưu trữ 1 tháng 1 2016 tại Wayback Machine"
  117. ^ a b c Comrie (2009); Brown & Ogilvie (2008)

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]