Ngôn ngữ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ngôn ngữ là hệ thống để giao thiệp hay suy luận dùng một cách biểu diễn, phép ẩn dụ, và một loại ngữ pháp theo lôgic, mỗi cái đó bao hàm một tiêu chuẩn hay sự thật thuộc lịch sử và siêu việt. Nhiều ngôn ngữ sử dụng điệu bộ, âm thanh, ký hiệu, hay chữ viết, và cố gắng truyền khái niệm, ý nghĩa, và ý nghĩ, nhưng mà nhiều khi những khía cạnh này nằm sát quá, cho nên khó phân biệt nó.

Ngôn ngữ không phải là một bộ “quy tắc và ngữ pháp”. Ngôn ngữ là công cụ người ta dùng để biểu đạt ý nghĩa và tình cảm của mình đối với người khác, qua đó để người ta hiểu nhau.

Ngôn ngữ có thể cấu tạo bởi hình thức biểu ý, cũng tức là âm thanh (tiếng nói), nét mặt, hoặc là điệu bộ bằng tay, hoặc động tác cụ thể! Nó cũng có thể là thể tổng hợp của tất cả những cái đó. Khi em cần nói về một sự việc gì đó, em không những chỉ nói bằng miệng, mà còn có thể làm điệu bộ, ra hiệu bằng tay hoặc bằng nét mặt.

Để kiểm tra xem ta có nắm được một ngôn ngữ hay không thì chỉ cần xem ta có thể làm cho người khác hiểu ý mình nói hay không. Nếu em phát minh ra một thứ ngôn ngữ độc đáo mà chẳng ai hiểu được ý em muốn nói, thì tức là em chưa nắm được ngôn ngữ thực sự.

Theo đà phát triển của văn minh, con người bắt đầu sống trong những quần thể cộng đồng lớn, cuộc sống trở nên phức tạp hơn, tri thức nắm được cũng ngày một nhiều hơn, mà ngôn ngữ cũng trở nên phức tạp và phát triển mạnh mẽ.

Đến nay, chúng ta chưa thực sự hiểu được ngôn ngữ bắt đầu như thế nào. Có người cho rằng ngôn ngữ bắt đầu từ việc người ta gọi nhau một cách tự nhiên, người ta dùng nó để diễn đạt sự kinh ngạc, vui hoặc buồn của mình. Cũng có người cho rằng, ngôn ngữ bắt đầu từ việc người ta bắt chước những âm thanh trong thiên nhiên. Có thể là mỗi nhận định kể trên đều là một phần của nguồn gốc ngôn ngữ, nhưng nhận định nào chiếm một tỷ lệ bao nhiêu thì ta chưa biết.

Chúng ta chỉ biết rằng, tất cả mọi ngôn ngữ mà loài người trên thế giới sử dụng đều có thể truy tìm về cùng một nguồn gốc chung: Một ngôn ngữ ban đầu, từ đó đẻ ra nhiều ngôn ngữ khác. Loại ngôn ngữ ban đầu ấy cùng với tất cả những ngôn ngữ phát triển từ đó mà ra, gọi là “ngữ hệ”.

Chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ có 3 chức năng chính: để chỉ nghĩa, để thông báo và để khái quát hóa (có quan hệ với tư duy). Chức năng chỉ nghĩa: để chỉ chính bản thân sự vật hiện tượng, để gắn với một biểu tượng nào đó của sự vật hiện tượng và có chức năng làm phương tiện cho sự tồn tại, truyền đạt và nắm vững các kinh nghiệm xã hội, lịch sử loài người.

  • Để chỉ nghĩa
  • Chức năng thông báo: dùng để truyền đạt và tiếp nhận thông tin, để biểu cảm qua đó thúc đẩy điều chỉnh hành động con người.
  • Chức năng khái quát hóa. Ví dụ:
    • Từ: là một khái niệm chỉ chung cho nhiều sự vật hiện tượng.
    • Hoạt động trí tuệ phải dùng ngôn ngữ làm công cụ.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngôn ngữ có số lượng người nói nhiều nhất trên thế giới:

  1. Tiếng Quan Thoại 874 triệu [1]
  2. Tiếng Hindi 366 triệu
  3. Tiếng Anh 341 triệu
  4. Tiếng Tây Ban Nha 322-358 triệu
  5. Tiếng Bengal 207 triệu
  6. Tiếng Bồ Đào Nha 176 triệu
  7. Tiếng Nga 167 triệu
  8. Tiếng Pháp 130 triệu
  9. Tiếng Nhật 125 triệu
  10. Tiếng Đức 120 triệu

Còn lại 40 % dân số thế giới nói các ngôn ngữ khác.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Danh sách ngôn ngữ theo tổng số người sử dụng

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]