Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Trang khóa

Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Ngôn ngữ tại Việt Nam)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam[a]

Tiêu ngữ"Độc lập – Tự do – Hạnh phúc"

Tổng quan
Vị trí của Việt Nam (xanh) ở ASEAN (xám đậm)  –  [Chú giải]
Vị trí của Việt Nam (xanh)

ở ASEAN (xám đậm)  –  [Chú giải]

Thủ đôHà Nội
21°01′42″B 105°51′15″Đ / 21,02833°B 105,85417°Đ / 21.02833; 105.85417Tọa độ: 21°01′42″B 105°51′15″Đ / 21,02833°B 105,85417°Đ / 21.02833; 105.85417
Thành phố lớn nhấtThành phố Hồ Chí Minh
10°46′B 106°40′Đ / 10,767°B 106,667°Đ / 10.767; 106.667
Ngôn ngữ quốc gia[a]Tiếng Việt
Sắc tộc
Tôn giáo chính
Tên dân cưNgười Việt
Chính trị
Chính phủNhất thể xã hội chủ nghĩa đơn đảng
Nguyễn Phú Trọng
Nguyễn Xuân Phúc
Nguyễn Thị Kim Ngân
Lập phápQuốc hội
Lịch sử
Thành lập
2 tháng 9 năm 1945
30 tháng 4 năm 1975
• Quốc hiệu hiện tại
2 tháng 7 năm 1976
28 tháng 11 năm 2013
Địa lý
Diện tích
• Tổng cộng
331.699 km2[4] (hạng 66)
128.070 mi2
• Mặt nước (%)
6,4[5]
• Đất liền
331.212 km2
127.882 mi2
Dân số
• Ước lượng 2019
96.208.984 (hạng 15)
290/km2
806/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2020
• Tổng số
~ 1.000 tỷ USD[6] (hạng 23)
10.755 USD[6] (hạng 106)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2020
• Tổng số
340 tỷ USD[6] (hạng 36)
• Bình quân đầu người
3.498 USD[6] (hạng 115)
Đơn vị tiền tệĐồng (₫) (VND)
Thông tin khác
Gini? (2014)37.6[7]
Vui lòng
dùng dấu phẩy
thập phân
HDI? (2018)Tăng 0.693[8]
Vui lòng
dùng dấu phẩy
thập phân
 · hạng 118
Múi giờUTC+07:00 (Giờ chuẩn Việt Nam)
Cách ghi ngày thángngày-tháng-năm
Giao thông bênphải
Mã điện thoại+84
Mã ISO 3166VN
Tên miền Internet.vn
  1. ^ Theo tên chính thức và Hiến pháp 2013.
  2. ^ Dân tộc Kinh còn gọi là Việt.

Việt Nam, tên chính thức là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam,quốc gia bao gồm cực phía Đông của bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á và giáp Lào, Trung Quốc, Campuchia, Biển Đôngvịnh Thái Lan. Thủ đô là Hà Nội từ năm 1976. Quốc gia này có chung đường biên giới trên biển với Thái Lan qua vịnh Thái Lan và với Philippines, IndonesiaMalaysia qua Biển Đông. Thủ đô của Việt Nam là Hà Nội, và thành phố đông dân nhất của nó là Thành phố Hồ Chí Minh, còn được gọi với tên cũ là Sài Gòn[10]

Các khai quật khảo cổ học cho thấy Việt Nam đã có người sinh sống sớm nhất từ thời đại đồ đá cũ . Quốc gia cổ đại thời này của Việt Nam, lấy trung tâm là thung lũng sông Hồng và các khu vực ven biển gần đó, bị nhà Hán thôn tính vào thế kỷ thứ 2 TCN, sau đó Việt Nam trở thành một bộ phận của Đế quốc Trung Hoa trong hơn một thiên niên kỷ. Chế độ quân chủ độc lập đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ thứ 10 sau Công nguyên. Việc này mở đường cho các triều đại phong kiến kế tiếp khi quốc gia này mở rộng về phía nam cho đến khi bán đảo Đông Dương bị người Pháp đô hộ vào cuối thế kỷ 19. Nước Việt Nam hiện đại ra đời sau khi Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập vào năm 1945. Sau chiến thắng của Việt Nam chống lại người Pháp trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, kết thúc năm 1954, đất nước này bị chia thành hai quốc gia đối địch nhau: miền Bắc cộng sản và miền Nam chống cộng sản. Xung đột ngày càng gia tăng trong Chiến tranh Việt Nam, dẫn đến sự can thiệp sâu rộng của Hoa Kỳ để hỗ trợ miền Nam Việt Nam và kết thúc với chiến thắng của Bắc Việt Nam vào năm 1975.

Sau khi miền Bắc và miền Nam Việt Nam được thống nhất trở thành một quốc gia cộng sản theo một chính phủ xã hội chủ nghĩa đơn nhất vào năm 1976, Việt Nam trở nên bị cô lập về kinh tế và chính trị cho đến năm 1986, khi Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng một loạt các cải cách kinh tế và chính trị tạo điều kiện cho Việt Nam hội nhập chính trị thế giới và kinh tế toàn cầu. Các cải cách này đã thành công, đưa Việt Nam thành quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP cao, liên tục được xếp hạng trong số các nước phát triển nhanh nhất trên thế giới . Tuy nhiên, quốc gia này phải đối mặt với những thách thức bao gồm tham nhũng, ô nhiễm, nghèo đói, phúc lợi xã hội không đầy đủ và hồ sơ nhân quyền kém cỏi, bao gồm cả việc gia tăng đàn áp các nhóm tôn giáo và những người ủng hộ nhân quyền cũng như tăng cường hạn chế quyền tự do dân sự. [11] Đến năm 2010, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 178 quốc gia và là thành viên của các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc (LHQ), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Từ nguyên

Các nhà nước trong lịch sử Việt Nam có những quốc hiệu khác nhau như Xích Quỷ, Văn Lang, Đại Việt hay Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà Thanh công nhận "Việt Nam" (chữ Hán: 越南) là quốc hiệu Nhà Nguyễn.[12] Chữ "Việt" 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này. Chữ "Nam" 南 đặt ở cuối thể hiện đất An Nam, là cương vực sau này. Đặt quốc hiệu là "Việt Nam" 越南 không nhầm với nước Nam Việt và thể hiện vị trí địa lý nằm ở phía nam Bách Việt. Năm 1804, vua Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm sang tuyên phong Gia Long làm "Việt Nam quốc vương" 越南國王 mặc dù các vua Nhà Nguyễn vẫn theo lệ cũ tự phong "Hoàng đế" 皇帝 cho ngang hàng với vua Trung Quốc.[12][13]

Thời Gia Long sử dụng quốc hiệu "Việt Nam" từ năm 1804.[14] Tên gọi này xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905 và trong tên gọi Việt Nam Quốc dân Đảng.[15] Tên gọi "An Nam" cũng có trong thời Pháp thuộc. Trong Thế chiến thứ hai, Đế quốc Việt Nam ra đời và đặt quốc hiệu "Việt Nam".[16]

Trong tiếng Anh, khi các nước khác có xu hướng viết là Vietnam cho danh từ và Vietnamese cho tính từ thì tại Việt Nam vẫn tồn tại các cách viết khác nhau. Điều này có thể nhận thấy trên website của Chính phủ Việt NamBộ Ngoại giao Việt Nam (phiên bản tiếng Anh) dùng cả ba cách: Vietnam, Viet Nam hoặc Việt Nam.[17][18] Danh sách liệt kê thành viên trên website Liên Hiệp Quốc viết tên quốc gia này là Viet Nam trong khi các bài viết tiểu mục đôi khi vẫn viết Vietnam.

Địa lý

Khoảng cách giữa cực Bắc và cực Nam của Việt Nam theo đường chim bay là 1.650 km. Nơi có chiều ngang hẹp nhất là ở Quảng Bình với chiều dài chưa đầy 50 km. Đường biên giới đất liền dài hơn 4.600 km, trong đó, biên giới giữa Việt Nam - Lào dài nhất (gần 2.100 km), tiếp đến là Trung QuốcCampuchia. Tổng diện tích Việt Nam là 331.212 km² gồm toàn bộ phần đất liền và hải đảo[19] cùng hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, bãi đá ngầm và cả hai quần đảo trên Biển ĐôngTrường SaHoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, nhưng hiện đang tranh chấp với Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia, và Brunei.

Địa hình Việt Nam có núi rừng chiếm khoảng 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75% diện tích đất nước. Có các dãy núi và cao nguyên như dãy Hoàng Liên Sơn, cao nguyên Sơn La ở phía bắc, dãy Bạch Mã và các cao nguyên theo dãy Trường Sơn ở phía nam. Mạng lưới sông, hồvùng đồng bằng châu thổ hoặc miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Đồng bằng chiếm khoảng một phần tư diện tích, gồm các đồng bằng châu thổ như đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và các vùng đồng bằng ven biển miền Trung, là vùng tập trung dân cư. Đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.

Đất chủ yếu là đất ferralit vùng đồi núi (ở Tây Nguyên hình thành trên đá bazan) và đất phù sa đồng bằng. Ven biển đồng bằng sông Hồngsông Cửu Long tập trung đất phèn. Rừng ở Việt Nam chủ yếu là rừng rậm nhiệt đới khu vực đồi núi còn vùng đất thấp ven biển có rừng ngập mặn. Đất liền có các mỏ khoáng sản như phốt phát, vàng. Than đá có nhiều nhất ở Quảng Ninh. SắtThái Nguyên, Hà Tĩnh. Ở biển có các mỏ dầukhí tự nhiên.

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết có sự biến động. Phía bắc dãy Bạch Mã có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc lạnh và khô vào mùa đông tạo nên mùa đông lạnh; gió Tây Nam nóng khô và Đông Nam ẩm ướt vào mùa hè. Phía nam có gió Đông Bắc vào mùa khô và gió Tây Nam vào mùa mưa. Các dòng biển phần nào đó điều hòa khí hậu Việt Nam. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Hằng năm, Việt Nam trải qua các đợt lụt và bão, có lượng mưa từ 1.200-3.000 mm, số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C - 37 °C. Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5 độ Celsius trong vòng 50 năm (19642014).[20]

Sinh thái

Việt Nam nằm trong vùng sinh thái Indomalaya. Theo Báo cáo tình trạng môi trường quốc gia năm 2005, Việt Nam nằm trong 25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao, xếp thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học và là nơi sinh sống của khoảng 16% các loài trên thế giới. 15.986 loài thực vật đã được tìm thấy trong cả nước, trong đó 10% là loài đặc hữu, Việt Nam có 307 loài giun tròn, 200 loài oligochaeta, 145 loài acarina, 113 loài bọ đuôi bật, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài lưỡng cư, 840 loài chim và 310 loài động vật có vú, trong đó có 100 loài chim và 78 loài động vật có vú là loài đặc hữu. Ngoài ra còn có 1.438 loài tảo nước ngọt, chiếm 9,6% tổng số loài tảo, cũng như 794 loài thủy sinh không xương sống và 2,458 loài cá biển. Vào cuối những năm 1980, một quần thể Tê giác Java đã bị phát hiện ở Vườn Quốc gia Cát Tiên nhưng cá thể cuối cùng của loài này ở Việt Nam đã chết vào năm 2010.[cần dẫn nguồn]

Ngân hàng gen quốc gia Việt Nam bảo tồn 12.300 giống của 115 loài. Chính phủ Việt Nam đã chi 497 triệu đô la Mỹ để duy trì đa dạng sinh học trong năm 2004 và đã thiết lập 126 khu bảo tồn, trong đó có 28 vườn quốc gia.[cần dẫn nguồn] Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên thế giớiVịnh Hạ LongVườn quốc gia Phong Nha ‒ Kẻ Bàng cùng 6 khu dự trữ sinh quyển, bao gồm Rừng ngập mặn Cần Giờ, Cát Tiên, Cát Bà, Kiên Giang, Đồng bằng sông Hồng và Tây Nghệ An.

Hành chính

Phân cấp hành chính Việt Nam gồm 3 cấp: cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương.

Tổng cộng có 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh và tương đương gồm 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương (*) với thủ đô là Hà Nội.

Dưới cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là cấp quận, huyện, thị xãthành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện). Tính đến tháng 3 năm 2020, Việt Nam có 707 đơn vị cấp quận/huyện/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh.

Dưới cấp quận/huyện/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh là các đơn vị hành chính phường, , thị trấn (gọi chung là cấp xã).

Dưới cấp phường/xã/thị trấn là các khu vực không chính thức với tên gọi khác nhau như khu phố, tổ dân phố, làng, thôn, ấp, khóm, buôn, bản, xóm...

Lịch sử

Thời tiền sử và cổ đại

Phân tích di truyền cho thấy các dân tộc ở Việt Nam hiện nay có nguồn gốc từ các nhóm dân cư tiền sử sống ở khu vực phía nam sông Dương Tử của Trung Quốc.[21] Ngoại trừ người Chăm nói tiếng Austronesian và người Mang nói tiếng Austroasiatic, tất cả các dân tộc khác ở Việt Nam hiện nay và người Hán ở miền Nam Trung Quốc đều có chung tổ tiên[22]

Các nhà khảo cổ học tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng thời đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của người tiền sử được phát hiện tại các tỉnh Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh BìnhQuảng Bình.[23] Tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng đánh cá.[23]

Đến thời đại đồ đá mới cách đây 5000-6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; loạt dấu vết trồng lúa được phát hiện từ cao nguyên tới đồng bằng.[23] Ngoài ra, con người bắt đầu biết chế tác công cụ tinh tế hơn và làm đồ gốm với kỹ thuật tinh xảo.[23] Người Việt đã phát triển một xã hội nông nghiệp lúa nước tinh vi từ những năm 1.500 trước Công nguyên. Đến khoảng thiên niên kỷ I TCN vào cuối thời kỳ đồ đồng, khu vực lúa nước ở sông Hồng và sông Cả phát triển thành nền văn hóa Đông Sơn[24] rồi cùng thời gian đó, những nhà nước đầu tiên lần lượt xuất hiện đó là Văn LangÂu Lạc.[25]

Thời trung đại

Thay đổi lãnh thổ từ triều Lý năm 1009 đến hết triều Nguyễn năm 1945 cùng cuộc Nam tiến (10691757).

Từ thế kỷ II TCN, các triều đại phong kiến từ phương Bắc cai trị một phần Việt Nam hơn 1000 năm.[26] Sự cai trị này bị ngắt quãng bởi những cuộc khởi nghĩa của những tướng lĩnh như Bà Triệu, Mai Thúc Loan, Hai Bà Trưng hay Lý Bí. Năm 905, Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ, không phải là độc lập vì Dụ tự nhận mình là quan triều đình phương Bắc.[27] Đến năm 938, sau khi chỉ huy trận sông Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán,[28] Ngô Quyền lập triều xưng vương, đánh dấu một nhà nước độc lập khỏi các triều đình phương Bắc vào năm 939.

Sau nhà Ngô, lần lượt các triều Đinh, Tiền Lê, Trần tổ chức chính quyền tương tự các triều đại Trung Hoa, lấy Phật giáo làm tôn giáo chính của quốc gia và cho truyền bá cả Nho giáoĐạo giáo. Nhà Tiền Lê, Lý và Trần đã chống trả các cuộc tấn công của nhà Tống và nhà Mông - Nguyên, đều thắng lợi và bảo vệ được Đại Việt. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu, tiến hành cải cách. Năm 1407, Đại Ngu bị Nhà Minh thôn tính. Một số thành viên hoàng tộc nhà Trần khởi nghĩa, lập nhà Hậu Trần và bị quân Minh đánh bại sau 7 năm. Năm 1427, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nhà Hậu Lê, giành lại độc lập (năm 1428). Có quan điểm cho rằng đây là triều đại mà phong kiến Việt Nam đạt "đỉnh cao" đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông (14601497).[29]

Vào đầu thế kỷ XVI, Nhà Lê sơ suy yếu, bị Nhà Mạc cướp ngôi nên một bộ phận quan lại trung thành đã lập người khác trong dòng dõi vua Lê lên làm vua, tái lập Nhà Lê. Nhà Lê trung hưng sau 60 năm giao tranh đã chiến thắng, diệt Nhà Mạc. Vua Lê khi đó là bù nhìn, hai tập đoàn phong kiến Chúa TrịnhChúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây nội chiến kéo dài hơn 100 năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoàiđàng Trong trong 200 năm. Cuối thế kỷ XVIII, tướng khởi nghĩa Nguyễn Huệ trong 15 năm đã đánh bại cả Chúa TrịnhChúa Nguyễn cùng các cuộc xâm chiếm của XiêmThanh để lập Nhà Tây Sơn, tái thống nhất Đại Việt. Nguyễn Huệ mất, với người kế vị Cảnh Thịnh, nhà Tây Sơn bị Nguyễn Ánh - một thành viên dòng họ Chúa Nguyễn cùng với viện trợ từ PhápXiêm lật đổ, lập Nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng ở Việt Nam.[30] Suốt thời phong kiến, các triều , Trần, Hậu Lêchúa Nguyễn thu phục Chiêm Thành, Chân LạpTây Nguyên ở phía Nam.[31]

Thời cận, hiện đại

Lễ tuyên bố thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại quảng trường Ba Đình năm 1945.

Phương Tây tiếp cận Việt Nam từ thế kỷ XVI. Vào thế kỷ XVII, Đàng TrongĐàng Ngoài trao đổi thương mại trước hết với Bồ Đào NhaHà Lan,[32] sau thêm AnhPháp. Các tu sĩ Dòng Tên do Bồ Đào Nha bảo trợ[33] đến truyền bá Công giáo từ năm 1615, được Hội Thừa sai ParisDòng Đa Minh tiếp nối. Công giáo tại Việt Nam phát triển trong 2 thế kỷ tiên khởi XVIIXVIII.[34] Từ thời Gia Long, Nhà Nguyễn bế quan tỏa cảng, cấm ngoại thương, không tiếp xúc công nghệ tiên tiến. Nửa sau thế kỷ 19, Pháp xâm lược bán đảo Đông Dương, thâu tóm nhà Nguyễn và thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887. Thời Pháp thuộc, văn hóa, khoa học, kỹ thuật phương Tây được truyền bá song hành truyền thống.[35]

Thế chiến thứ hai, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, dựng nên Đế quốc Việt Nam, chính thể không thực quyền phải nộp thuế và cung ứng Nhật tài nguyên có lúa gạo, góp phần gây nạn đói Ất Dậu. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh giành chính quyền, đọc Tuyên ngôn Độc lập thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945.[36] Pháp tính lấy lại Đông Dương, do vấp phải phản kháng của phía ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên đã hậu thuẫn lập Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại, cựu hoàng đế Nhà Nguyễn làm Quốc trưởng.[37]

Chiến tranh Đông Dương kết thúc, Pháp rút, xuất hiện hai vùng tập kết quân sự chờ cuộc bầu cử thống nhất[38] không thành do nhà nước kế thừa Quốc gia Việt Nam từ chối bầu cử.[39] Nhà nước xã hội chủ nghĩa miền Bắc hậu thuẫn các lực lượng miền Nam chủ trương tấn công Việt Nam Cộng hòa, gây ra xung đột quân sự mà kéo theo đó là sự tham chiến của Hoa Kỳ[40] và kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng.[41]

Năm 1976, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức tuyển cử hợp nhất. Do chiến tranh biên giới phía Bắcchiến tranh biên giới Tây Nam, giữ chính sách bao cấp và bị Hoa Kỳ cấm vận, Việt Nam hậu chiến rơi vào khủng hoảng kinh tếxã hội.[42] Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI chấp thuận Đổi mới, cải tổ nhà nước và chuyển nền kinh tế theo hướng mới.[43] Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995 và gia nhập ASEAN vào cùng năm.

Chính trị

Việt Nam theo chế độ xã hội chủ nghĩa với cơ chế có duy nhất một đảng chính trị lãnh đạo. Vào năm 2016, các đại biểuĐảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ là 95,8%,[44] những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là Đảng viên và được Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ Chính trị đề cử.

Đảng Cộng sản đứng đầu bởi Tổng Bí thư,Đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam, cam kết với các nguyên tắc của Lênin "tập trung dân chủ" và không cho phép đa đảng.[45]

Quốc hội nhiệm kỳ 5 năm, đứng đầu là Chủ tịch Quốc hội, theo Hiến pháp là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Duy nhất quốc hội có quyền lập hiến, lập pháp với nhiệm vụ giám sát, quyết định những chính sách cơ bản, những nguyên tắc của bộ máy Nhà nước và quan hệ xã hội công dân. Quốc hội không độc lập và tuân thủ gần tuyệt đối các quy định từ Đảng nhưng sau Đổi mới, vai trò của Quốc hội đẩy lên cao hơn.

Chủ tịch nước có các quyền trong đó: Công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh; Tổng Tư lệnh vũ trang; đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm Thủ tướng, Chánh án tối cao, Kiểm sát tưởng tối cao,...; thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất, gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Việc tổ chức nhân sự chính phủ đều thông qua Bộ Chính trị quản lý.

Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử còn Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan giữ quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp cao nhất Việt Nam. Ngoài ra, Tòa án quân sự có thẩm quyền đặc biệt trong các vấn đề an ninh quốc gia.

Quân sự

Lính danh dự Việt Nam diễu binh trước Trung tâm Hội nghị Quốc gia trong Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 2010 tại Hà Nội.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam bao gồm Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt NamDân quân tự vệ. Quân đội nhân dân Việt Nam (VPA) là tên chính thức cho tổ chức quân sự hoạt động ở Việt Nam, được chia thành:

VPA có số lượng khoảng 450.000 người, còn tổng lực lượng, bao gồm cả bán quân sự, có thể lên khoảng 5.000.000 người. Năm 2011, chi phí đầu tư quân sự ở Việt Nam khoảng 2,48 tỷ USD, tương đương khoảng 2,5% GDP năm 2010.[cần dẫn nguồn]

Ngoại giao

Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các quốc gia khác trên thế giới.
  Việt Nam
  Quan hệ ngoại giao chính thức
  Quan hệ ngoại giao không chính thức
  Không quan hệ ngoại giao

Theo các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chủ trương đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước phấn đấu vì hòa bình, độc lậpphát triển".

Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1977, sau đổi mới, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1992 và với Hoa Kỳ vào năm 1995, gia nhập khối ASEAN năm 1995. Hiện đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia (gồm 43 nước châu Á, 47 nước châu Âu, 14 nước châu Đại Dương, 30 nước châu Mỹ và 55 nước châu Phi).[46] Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ.[47] Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPAUPU. Việt Nam từng tổ chức các hội nghị cấp cao ASEAN (1998, 2010), ASEM (2004), Thượng đỉnh APEC (2006, 2017), Cộng đồng Pháp ngữ (1997), Hội nghị Thượng đỉnh Triều Tiên-Hoa Kỳ lần 2 (2019). Việt Nam cũng từng làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008-20092020-2021, thành viên của ECOSOC nhiệm kỳ 2016-2018,[48] Chủ tịch luân phiên ASEAN (2010, 2020).

Kinh tế

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế.
Gạo – một mặt hàng xuất khẩu.

Chính sách Đổi mới năm 1986 thiết lập mô hình "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Từ năm 1993 đến 1997, kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm khoảng 9%. Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 giảm xuống 4% năm 1998 do ảnh hưởng của một cuộc khủng hoảng, và tăng lên 4,8% năm 1999. Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000-2002 khi kinh tế thế giới đang trì trệ. Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được phép gia nhập WTO sau khi kết thúc đàm phán song phương với các nước có yêu cầu và chính thức là thành viên thứ 150 ngày 11 tháng 1 năm 2007.[49] Sau cải cách kinh tế - xã hội, theo một số nghiên cứu, bất bình đẳng thu nhập đã gia tăng.[50][51][52]

Năm 2013, tại một hội thảo ở Hà Nội, các chuyên gia nhận định nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại sau 5 năm gia nhập WTO. Cụ thể, trong giai đoạn 2007–2011, chỉ năm 2008 là Việt Nam tăng trưởng GDP trên 8% dù xuất khẩu tăng 2,4 lần lên 96,9 tỷ USD. Đa phần tỷ trọng xuất khẩu là do khối các doanh nghiệp FDI, chiếm khoảng 60% mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông lâm sản, và khoáng sản thô. Sau hội nhập, tỷ trọng nhập siêu cũng tăng, 18 tỷ USD vào năm 2008. Ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế 2007-2008 và đến năm 2013, nền kinh tế đối mặt với áp lực từ nợ xấu đến lạm phát, tín dụng tăng trưởng thấp.[53] Tình trạng tham nhũng luôn xếp ở mức cao trên trung bình của thế giới[54][55] và vấn đề vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng, hàng chục ngàn thủ tục kinh doanh từ 20 năm trước đang tồn tại được cho là không hợp với kinh tế thị trường. Theo thống kê năm 2015 của Ngân hàng Thế giới thì PPP đầu người của Việt Nam năm 2014 là 5.294,4 USD, bằng 55,4% so với Indonesia, 37% so với Thái Lan và bằng 6,7% so với Singapore.[56]

Năm 2020, quy mô kinh tế Việt Nam theo GDP danh nghĩa dự kiến đạt khoảng 340 tỷ USD. GDP bình quân đầu người của Việt Nam dự kiến đạt 3.497,51 USD, đã vượt qua Philippines và đứng thứ 6/11 các nước Đông Nam Á.[57] PPP đầu người của Việt Nam năm 2020 là 10.755 USD, bằng 87% so với Indonesia, 59% so với Thái Lan.

Về địa lý kinh tế, Chính phủ Việt Nam phân chia quy hoạch các vùng kinh tế – xã hội và các vùng kinh tế trọng điểm mỗi miền. Các tỉnh có GDP bình quân đầu người cao nhất: Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bắc Ninh,... và có GDP bình quân đầu người thấp nhất: Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng,...

Giao thông

Quốc lộ 1A đoạn qua Quận 9, TP.HCM.

Các tuyến giao thông nội địa chủ yếu từ đường bộ, đường sắt, đường hàng không đều theo hướng bắcnam. Hệ thống đường bộ gồm các quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ... Có tổng chiều dài khoảng 222.000 km, phần lớn các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ đều được trải nhựa và bê tông hóa, số ít các tuyến đường huyện lộ đang còn là các con đường đất. Hệ thống đường sắt Việt Nam dài tổng 2652 km, trong đó tuyến Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh dài 1726 km được gọi là Đường sắt Bắc Nam.

Các tuyến đường thủy nội địa chủ yếu nằm theo hướng đôngtây dựa theo các con sông như sông Đà, sông Hồng, sông Sài Gòn. Dự kiến quy hoạch tuyến đường bộ ven biển Việt Nam trong tương lai bắt đầu tại cảng Núi Đỏ, Quảng Ninh tới cửa khẩu Hà Tiên, Kiên Giang dài khoảng 3.041 km. Hệ thống đường biển xuất phát từ các cảng biển như cảng Hải Phòng, cảng Quy Nhơn, cảng Sài Gòn.

Truyền thông

Truyền thông Việt Nam có bốn loại hình báo chí là báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử. Việt Nam hòa mạng internet quốc tế vào năm 1997 và hơn 10 năm nay, hàng loạt báo điện tử, trang tin điện tử đã ra đời. Thống kê đến tháng 7 năm 2010, tại Việt Nam có 706 cơ quan báo chí in, trong đó có 178 báo và 528 tạp chí. Có 65 đài phát thanh – truyền hình, gồm 2 đài phát thanh – truyền hình trung ương (VTV, VOV) và 63 đài phát thanh – truyền hình ở các địa phương. Có 34 báo điện tử, 180 trang tin điện tử của các cơ quan tạp chí, báo, đài và hàng ngàn trang thông tin điện tử.[58]

Tại Việt Nam, tất cả các cơ quan truyền thông, báo chí hoạt động dưới sự quản lý và giám sát của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, và dưới sự định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Luật pháp chưa cấp phép cho báo chí tư nhân hoạt động.

Du lịch

Số lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng nhanh nhất trong vòng 10 năm từ 20002010. Năm 2013, có gần 7,6 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam và năm 2017, có hơn 10 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, các thị trường lớn nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa KỳĐài Loan.[59]

Việt Nam có các điểm du lịch từ Bắc đến Nam, từ miền núi tới đồng bằng, từ các thắng cảnh thiên nhiên tới các di tích văn hóa lịch sử. Các điểm du lịch miền núi như Sapa, Bà Nà, Đà Lạt. Các điểm du lịch ở các bãi biển như Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu và các đảo như Cát Bà, Côn Đảo, Lí Sơn.

Khoa học

Năm 2010, tổng chi tiêu của Nhà nước vào khoa học và công nghệ chiếm khoảng 0,45% GDP. Theo UNESCO, Việt Nam đã dành 0,19% GDP để nghiên cứu và phát triển khoa học vào năm 2011. Chiến lược tìm cách thúc đẩy hợp tác khoa học quốc tế lớn hơn, với kế hoạch thiết lập mạng lưới các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và khởi xướng một mạng lưới kết nối các tổ chức khoa học quốc gia với các đối tác nước ngoài.

Một bộ chiến lược phát triển quốc gia cho các lĩnh vực trong kinh tế, chủ yếu liên quan đến khoa học công nghệ. Ví dụ là Chiến lược phát triển bền vững (2012) và Chiến lược phát triển ngành cơ khí (2006), cùng với Tầm nhìn 2020 (2006). Kêu gọi nhân lực có tay nghề, đầu tư nâng cấp công nghệ khu vực tư nhân. Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2011–2020 năm 2012 lập kế hoạch ưu tiên nghiên cứu toán, vật lý; điều tra khí hậu, thiên tai; phát triển hệ điều hành điện tử; công nghệ sinh học áp dụng đặc biệt cho nông, lâm nghiệp, y học và môi trường.

Nhân khẩu

Dân số

Tỉ lệ tăng dân số Việt Nam giai đoạn 1980 – 2014.[cần dẫn nguồn]

Tổng số dân của Việt Nam vào thời điểm 0h ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người, trong đó dân số nam là 47.881.061 người (chiếm 49,8%) và dân số nữ là 48.327.923 người (chiếm 50,2%). Với kết quả này, Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 15 trên thế giới.[60]

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổđồng bằng ven biển. Các dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chămngười Khmer, phần lớn tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên. Trong số này, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường,... người Ơ Đu có số dân ít nhất. Có các dân tộc mới di cư vào Việt Nam vài trăm năm trở lại đây như người Hoa. Người Hoangười Ngái là hai dân tộc duy nhất có dân số giảm giai đoạn 1999 – 2009.

Theo điều tra của Tổng cục thống kê thì vùng đông dân nhất Việt Nam là đồng bằng sông Hồng với khoảng 22,5 triệu người, kế tiếp là bắc Trung bộduyên hải nam Trung bộ với khoảng 20,1 triệu người, thứ ba là Đông Nam bộ với 17,8 triệu người, thứ tư là đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,2 triệu người. Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5,8 triệu người. Theo điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ (IPS) 2019 thì 34,4% dân số Việt Nam đang sinh sống tại thành thị và 65,6% cư trú ở nông thôn.[61] Về tỉ số giới tính trung bình vào năm 2019 là 99,1 nam/100 nữ. Theo nhận xét của tờ The Economist, mức độ giảm dân số do sinh suất tụt giảm tạo ra viễn cảnh lão hóa ở Việt Nam với tỉ lệ người cao niên hơn 60 tuổi dự đoán sẽ tăng từ 12% (2018) lên 21% (2040). Đỉnh dân số lao động của Việt Nam là vào năm 2013, sau đó sẽ giảm dần. Tỉ lệ trẻ/già được cho là gây chao đảo về tài chính để cung cấp dịch vụ y tế và cấp dưỡng khi 90% người cao niên không có khoản tiết kiệm nào cả khi ngân sách nhà nước chỉ phụ cấp cho người hơn 80 tuổi với bình quân vài USD/tuần.[62][63]

Ngôn ngữ

Chữ "tĩnh" trong thư pháp chữ Quốc ngữ.

Ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam là tiếng Việt, thuộc Ngữ hệ Nam Á, là ngôn ngữ của người Kinh và được nói bởi phần lớn dân số. Văn ngôn với chữ Hán từng được dùng trong các văn bản hành chính trước thế kỷ 20. Chữ Nôm dựa trên chất liệu chữ Hán để ghi tiếng Việt hình thành từ khoảng thế kỷ 7 tới thế kỷ 13.[64][65][66] Tác phẩm Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) do đại thi hào Nguyễn Du sáng tác được viết bằng chữ Nôm.[67] Chữ Quốc ngữ, hệ chữ dùng ký tự Latinh để viết tiếng Việt, được phát triển vào thế kỷ 17 bởi các nhà truyền giáo Dòng Tên như Francisco de PinaAlexandre de Rhodes dựa trên các bảng chữ cái của nhóm ngôn ngữ Rôman, đặc biệt là bảng chữ cái Bồ Đào Nha, sau này được sử dụng rộng rãi thông qua các định chế và phong trào Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc.[64][68] Các nhóm sắc tộc thiểu số ở Việt Nam nói nhiều ngôn ngữ, ví dụ như: tiếng Tày, tiếng Mường, tiếng Chăm, tiếng Khmer, tiếng Hán, tiếng Nùngtiếng H'Mông. Các hệ ngôn ngôn ở Việt Nam bao gồm Nam Á, Kra-Dai, Hán-Tạng, H'Mông-Miền, và Nam Đảo. Gần đây, một số ngôn ngữ ký hiệu Việt Nam cũng đã được phát triển tại các thành phố lớn.

Tiếng Pháp, một di sản của chế độ thuộc địa, được nhiều người Việt Nam có học là ngôn ngữ thứ hai, đặc biệt là trong thế hệ cũ và những người được giáo dục ở miền Nam, nơi đây là ngôn ngữ chính hành chính, giáo dục một thương mại. Việt Nam vẫn là thành viên của Cộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie) và giáo dục đã làm hồi sinh một số mối quan tâm đến ngôn ngữ.[69] Tiếng Nga, và ở mức độ thấp hơn là tiếng Đức, tiếng Séctiếng Ba Lan được biết đến trong một số người miền Bắc có quan hệ với Khối Đông Âu trong Chiến tranh Lạnh.[70] Với mối quan hệ được cải thiện với các nước phương Tây và những cải cách gần đây trong quản trị Việt Nam, tiếng Anh ngày càng được sử dụng như ngôn ngữ thứ hai và việc học tiếng Anh giờ đây bắt buộc hầu hết các trường học bên cạnh hoặc thay thế cho tiếng Pháp.[71][72] Sự phổ biến của tiếng Nhậttiếng Triều Tiên cũng gia tăng lên khi mối quan hệ của đất nước này với các quốc gia Đông Á khác được tăng cường.[73][74][75]

Tôn giáo

Chùa Bút Tháp, Bắc Ninh.

Tôn giáo tại Việt Nam (2018)[76]

  Phật giáo (14.9%)
  Công giáo (7.4%)
  Tin Lành (1.1%)
  Hòa Hảo (1.5%)
  Cao Đài (1.2%)
  Khác (0.2%)

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáotín ngưỡng. Đa số người Việt Nam không thuộc tổ chức tôn giáo nào, nhưng đồng thời nhiều người trong số họ thực hành tín ngưỡng dân gian. Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Tây lịch cùng với Nho giáoĐạo giáo. Được gọi chung là tam giáo, ba tôn giáo có ảnh hưởng nhiều tới văn hóa Việt Nam. Phật giáo Việt Nam đa số thuộc Đại thừa và từng có vị thế như quốc giáo thời Nhà LýNhà Trần. Một số tư tưởng Nho giáo cho tới nay vẫn giữ vai trò quan trọng trong trật tự xã hội Việt Nam. Công giáo được truyền vào từ thế kỷ 16; nền tảng của Công giáo Việt Nam được xây dựng bởi các thừa sai Dòng Tên dưới quy chế bảo trợ Bồ Đào Nha.[77] Tin Lành được truyền giảng tại Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 bởi Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp. Hindu giáo và sau này Hồi giáo được truyền vào Chăm Pa từ Ấn Độ và Quần đảo Mã Lai. Bên cạnh các tôn giáo thế giới, Việt Nam còn có một số tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đàiđạo Hòa Hảo.

Tội phạm và tệ nạn

Việt Nam có tỷ lệ tội phạm ở mức thấp so với các nước cùng trình độ phát triển và thấp hơn một số quốc gia phát triển.[78] Các băng nhóm tội phạm có tổ chức như Năm Cam, Khánh Trắng ít hơn và độ tinh vi không sánh được với Mafia quốc tế.

Việt Nam là địa điểm những tội phạm trong và ngoài nước lộng hành như các đầu dây mại dâm, ma túy.[79] Việt Nam chịu ảnh hưởng từ những địa danh buôn bán ma túy như Tam giác vàng và Trăng lưỡi liềm vàng. Theo một số quan chức nhận xét thì các hoạt động buôn bán ma túy càng ngày càng tinh vi và phức tạp.[79] Việt Nam tham gia các hội nghị quốc tế bàn thảo vấn đề trên như "Hội nghị quốc tế phòng, chống ma túy, khu vực nhóm công tác Viễn Đông" do mình chủ trì với sự hợp tác của 19 nước lân cận. Năm 2012, cả nước có ước tính khoảng 170 nghìn người nghiện ma túy.[79] Các tệ nạn khác cờ bạc, cá độ, sử dụng và buôn bán ma túy, mại dâm... Theo sự phát triển của kinh tế – xã hội, tội phạm có xu hướng tăng. Các tệ nạn liên quan đến cá độ trong hoạt động thể thao rơi phần nhiều nằm ở môn bóng đá.[80] Một loại hình tội phạm khác đó là tham nhũng với một số vụ án như PMU 18, Vinashin. Việt Nam hiện vẫn duy trì án tử hình.

Giáo dục

Tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho giáo dục tăng từ 10,89% năm 2005 tăng lên đến 12,05% năm 2010 và 16,85% năm 2012.[81]

Ở Việt Nam có 5 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại họcsau đại học. Các trường đại học chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà NộiTP. Hồ Chí Minh. Theo kết quả đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) được công bố năm 2013, điểm trung bình môn Khoa học của học sinh Việt Nam ở độ tuổi 15 năm 2012 đứng thứ 8 thế giới.[82] Có ý kiến cho rằng kết quả này không phản ánh đúng chất lượng giáo dục Việt Nam vì các trường phổ thông theo chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho kỳ thi PISA từ trước.[83][84]

Với bậc đại học, Việt Nam có tổng 376 trường cao đẳng, đại học trên cả nước, trong đó Bộ Giáo dục trực tiếp quản lý 54 trường. Ba cơ sở đại học lớn nhất quốc gia gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Năm 1988, Bộ Đại học ra Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long, trường đại học dân lập đầu tiên tại Việt Nam và đến năm 2017, toàn Việt Nam có 84 trường dân lập, tư thục.[85] Tổng số sinh viên bậc đại học đến năm học 2016–2017 là 1.767.879 người.[86]

Y tế

Về cơ sở hạ tầng, tính đến năm 2010, toàn Việt Nam có 1.030 bệnh viện, 44 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, 622 phòng khám đa khoa khu vực;[87] với khoảng 246.300 giường bệnh.[88] Bên cạnh các cơ sở y tế nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế tư nhân bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần giảm quá tải ở các bệnh viện nhà nước.[89] Mạng lưới y tế cơ sở của Việt Nam hiện nay đã có 80% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số trạm y tế trong đó gần 2/3 xã đạt chuẩn quốc gia.[90]

Về nhân lực trong ngành, Việt Nam hiện có hệ thống các trường đại học y, dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có hàng nghìn bác sĩdược sĩ đại học tốt nghiệp ra trường. Ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha tại các địa phương. Hiện nay số lượng cán bộ nhân viên ngành y tế đã có 250.000 người, trong đó có 47.000 người có trình độ đại học các loại.[89]

Ngành Y tế hiện tại của Việt Nam đang được nhiều tổ chức quốc tế tài trợ vốn ODA và vốn NGO, tính đến năm 2010, Bộ Y tế Việt Nam đang quản lý 62 dự án ODA và trên 100 dự án NGO với tổng kinh phí hơn 1 tỷ USD, các dự án được phân bố ở đều khắp các vùng miền.[91] Những năm gần đây, y tế Việt Nam được đánh giá là tham nhũng ở nhiều cấp độ, được tìm thấy trong cả ba lĩnh vực quản lý nhà nước, dịch vụ tại cơ sở y tế và quản lý bảo hiểm y tế.[92]

Văn hóa

Múa rối nước – một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian.

Việt Nam có nền văn hóa đặc trưng thuộc Vùng văn hóa Đông Á. Từ vùng đồng bằng sông Hồng với văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại tây bắcđông bắc. Từ vùng biên viễn các triều đại miền Bắc đến nền văn hóa Chăm Pa của người Chăm Nam Trung Bộ cùng vùng đất mới ở Nam Bộ kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer và các bộ tộc Tây Nguyên.

54 dân tộc có những phong tục, những lễ hội mang ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong ngôn ngữ từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật. Với lịch sử hàng nghìn năm hội tụ các dân tộc, từ văn hóa bản địa thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung QuốcĐông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp thế kỷ XIX, phương Tây trong thế kỷ XX và toàn cầu hóa từ thế kỷ XXI, Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử.

Âm nhạc

Âm nhạc truyền thống khác nhau giữa các vùng phía Bắc và phía Nam của đất nước. Âm nhạc cổ điển ở miền Bắc là hình thức âm nhạc lâu đời nhất Việt Nam. Trong lịch sử, Việt Nam ảnh hưởng nặng nhất bởi truyền thống âm nhạc Trung Quốc, Hàn Quốc, Mông CổNhật Bản. Nhã nhạc là hình thức ca nhạc cung đình. Chèo là một hình thức sân khấu ca nhạc cổ. Xẩm là một loại nhạc dân gian Việt Nam. Quan họ có ở Bắc NinhBắc Giang. Hát chầu văn là hình thức ca nhạc hầu đồng trong các nghi lễ. Nhạc dân tộc cải biên là một hình thức hiện đại của âm nhạc dân gian Việt Nam xuất hiện từ những năm 1950. Ca trù là một loại hình diễn xướng âm nhạc giàu chất liệu thi ca. UNESCO còn công nhận Cồng Chiêng Tây Nguyênkiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11 năm 2005 và dòng nhạc dân tộc đờn ca tài tử Nam Bộdi sản phi vật thể. Nhạc đỏ dòng nhạc đại diện cho miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòaNhạc vàng đại diện cho miền Nam Việt Nam Cộng hòa là hai dòng nhạc chính trong thời gian Chiến tranh Việt Nam. Các nhạc cụ truyền thống như đàn bầu, đàn gáo, đàn nguyệt... với đàn đánhạc cụ gõ cổ nhất Việt Nam.

Âm nhạc hiện đại có tên gọi "V-pop" là một thể loại tân nhạc sử dụng ngôn ngữ Việt hoặc có thể khác, hoặc có thể kết hợp cả hai, do người Việt sáng tác và biên soạn nhạc. Những ca sĩ hat thể loại nhạc này như Đàm Vĩnh Hưng, Sơn Tùng M-TP, Min, Mỹ Tâm hay các diva Thanh Lam, Hồng Nhung, Trần Thu HàMỹ Linh.

Trang phục

Áo dài, một trong những trang phục truyền thống.

Áo dài của người Kinh là một dạng trang phục ở Việt Nam có thể mặc trong những dịp đặc biệt như đám cướilễ hội. Áo dài ngày nay chủ yếu mặc bởi nữ còn nam mặc nhiều hơn vào một số dịp như đám cưới truyền thống. Áo dài trắng là đồng phục bắt buộc cho nữ sinh trung học ở một số trường trung học phổ thông tại Việt Nam, ít nhất là phải mặc trong tiết Chào cờ. Một số ví dụ khác về trang phục tại Việt Nam bao gồm áo giao lĩnh, áo tứ thân, áo ngũ cốc, yếm, áo bà ba, áo gấm, áo Nhật Bình,... Mũ nón truyền thống bao gồm nón lánón quai thao. Các trang phục truyền thống của người dân tộc thiểu số đôi khi cũng được sử dụng.

Ẩm thực

Có sự kết hợp của năm yếu tố cơ bản: cay, chua, đắng, mặn và ngọt. Nước mắm, nước tương,... là một trong những nguyên liệu tạo hương liệu chính trong món ăn. Nấu ăn truyền thống của Việt Nam được biết đến với các nguyên liệu tươi, ít dùng dầu, và phụ thuộc vào rau thơm, rau quả. Một đặc điểm phân biệt ẩm thực Việt Nam với một số nước khác: ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon, đôi khi không đặt mục tiêu hàng đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống ít có những món cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, không thiên về bày biện có tính thẩm mỹ như ẩm thực Nhật Bản, mà thiên về phối trộn gia vị hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn (ví dụ chân cánh gà, phủ tạng động vật, trứng vịt lộn...). Phở là món ăn Việt Nam có thể kể đến.

Thể thao

Những môn thể thao mang tính cổ truyền ở Việt Nam có đấu vật, võ thuật, đá cầu, cờ tướng. Ở một số khu vực tập trung người dân tộc thiểu số có bắn nỏ, đẩy gậy. Những năm gần đây, quần vợt bắt đầu phổ biến ở các thành phố lớn. Một số môn thể thao khác có thể kể đến là bóng chuyền, bóng bàn, bóng đá, cầu lông, billiards snookercờ vua. Đoàn thể thao Việt Nam bắt đầu tham gia Olympic mùa hè từ năm 1952 cho tới nay và đã có được huy chương vàng đầu tiên và duy nhất vào năm 2016 của Hoàng Xuân Vinh trong môn bắn súng. Ở Olympic người khuyết tật, Việt Nam tham gia từ năm 2000 và cũng có được huy chương vàng đầu tiên và duy nhất ở môn cử tạ do lực sĩ Lê Văn Công đạt được.[93]

Một số ngày lễ

Một số ngày lễ ở Việt Nam
Ngày tháng Số ngày Tên Ghi chú
1 tháng 1 1 Tết Dương Lịch
30 tháng 12 (29 tháng 12 nếu tháng thiếu) đến 4 tháng 1 5 Tết Nguyên Đán Âm lịch
10 tháng 3 1 Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương
30 tháng 4 Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước-Ngày Chiến thắng
1 tháng 5 Ngày Quốc tế Lao động
27 tháng 7 Ngày thương binh liệt sĩ
2 tháng 9 2 Ngày Quốc khánh

Ghi chú

  1. ^ Hiến pháp Việt Nam 2013, điều 5.3[3]

Chú thích

  1. ^ “Dân tộc Kinh”. Đảng Cộng sản Việt Nam. 15 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ 5 tháng 2 năm 2016. Truy cập 21 tháng 11 năm 2015. 
  2. ^ dscdtvn 2019.
  3. ^ “CHƯƠNG I - CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ - HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.”. CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ. Truy cập Ngày 10 tháng 9 năm 2019. 
  4. ^ Bộ Ngoại giao. “Một số thông tin về địa lý Việt Nam”. Chính phủ Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 14 tháng 10 năm 2009. Truy cập 19 tháng 3 năm 2012. 
  5. ^ "Vietnam Geography Profile 2018". Index Mundi. 12 tháng 7 năm 2011.
  6. ^ a ă â b “Report for Selected Countries and Subjects: Vietnam”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019. 
  7. ^ World Bank 2016a.
  8. ^ “Human Development Report 2019” (PDF). United Nations Development Programme. 2019. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2019. 
  9. ^ “Công bố kết quả Tổng điều tra dân số 2019”. Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê, Tổng cục Thống kê. 11 tháng 7 năm 2019. 
  10. ^ Một số thông tin cơ bản về Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam. tr. 25. 
  11. ^ “World Report 2019: Rights Trends in Vietnam”. Human Rights Watch (bằng tiếng Anh). 15 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020. 
  12. ^ a ă Xuanjun Xie. “日本”起源于中国考 A Research On Japan's Origin with China. Google 图书. 第179页.
  13. ^ 郭振铎, 张笑梅. 越南通史. 北京: 中国人民大学出版社, năm 2001. ISBN 7-300-03402-0. Trang 536.
  14. ^ Woods 2002, tr. 38.
  15. ^ Tonnesson & Antlov 1996, tr. 117.
  16. ^ Tonnesson & Antlov 1996, tr. 126.
  17. ^ Website Chính phủ Việt Nam
  18. ^ Bộ Ngoại giao Việt Nam
  19. ^ Niên giám thống kê 2006
  20. ^ Biến đổi khí hậu trong quá khứ và tương lai ở Việt Nam Mỹ Xuân – Tổng cục Khí tượng Thủy văn (Dựa trên đề tài nghiên cứu của Phan Văn Tân, Ngô Đức Thành, Khoa Khí tượng Thuỷ văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) 06/11/2014 lưu trữ
  21. ^ Pischedda S, Barral-Arca R, Gómez-Carballa A, Pardo-Seco J, Catelli ML, Álvarez-Iglesias V và đồng nghiệp (tháng 10 năm 2017). “Phylogeographic and genome-wide investigations of Vietnam ethnic groups reveal signatures of complex historical demographic movements”. Scientific Reports 7 (1): 12630. Bibcode:2017NatSR...712630P. PMC 5626762. PMID 28974757. doi:10.1038/s41598-017-12813-6.  Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  22. ^ Liu D, Duong NT, Ton ND, Van Phong N, Pakendorf B, Van Hai N, Stoneking M (tháng 4 năm 2020). “Extensive ethnolinguistic diversity in Vietnam reflects multiple sources of genetic diversity”. Molecular Biology and Evolution 37 (9): 2503–2519. PMC 7475039. PMID 32344428. doi:10.1093/molbev/msaa099.  Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  23. ^ a ă â b "Origin of Vietnamese People". American Technologies, Inc. (Business Collaboration Services). Lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2010.
  24. ^ Cooke, Li & Anderson 2011, tr. 46
  25. ^ Ngô Văn Thạo, tr. 823-824
  26. ^ "History of Vietnam: Chinese Colonization". Windows on Asia (Asian Studies). Lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2007.
  27. ^ Hà Anh Thư 2000, tr. 29
  28. ^ "Spears offer insight into early military strategy". Thông tấn xã Việt Nam (tiếng Anh), 22 tháng 1 năm 2006. Lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2009.
  29. ^ Việt Nam sử lược (越南史略), Trần Trọng Kim tr. 99.
  30. ^ Eugene Page & M. Sonnenburg, tr. 723
  31. ^ Đại Việt sử lược, tr. 52
  32. ^ Nguyễn Khắc Ngữ (1988). Tây-phương tiếp-xúc với Việt-nam, Cuốn 1: Bồ-đào-nha, Tây-ban-nha và Hòa-lan giao-tiếp với Đại-Việt (thế kỷ XVI, XVII, XVIII). Montréal, Canada: Nhóm Nghiên cứu Sử Địa Việt Nam. 
  33. ^ Jacques, Roland (2002). Portuguese Pioneers of Vietnamese Linguistics Prior to 1650 – Pionniers Portugais de la Linguistique Vietnamienne Jusqu’en 1650 (bằng tiếng Anh & tiếng Pháp). Bangkok, Thái Lan: Orchid Press. ISBN 974-8304-77-9. 
  34. ^ Keith, Charles (2012). Catholic Vietnam: A Church from Empire to Nation. University of California Press. tr. 18–21. ISBN 9780520272477. 
  35. ^ "French Counterrevolutionary Struggles: Algeria and Indochina" (PDF). Học viện Quân đội Hoa Kỳ (1968), lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2011.
  36. ^ Hirschman, Charles; Preston, Samuel; Vũ Mạnh Lợi (1995). "Vietnamese Casualties During the American War: A New Estimate" (PDF). 21 (4): 783–812. JSTOR 2137774.
  37. ^ “Cựu hoàng Bảo Đại và những canh bạc đế vương”. Báo Diễn đàn Doanh nghiệp. Ngày 25 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019. 
  38. ^ Nash, Gary B., Julie Roy Jeffrey, John R. Howe, Peter J. Frederick, Allen F. Davis, Allan M. Winkler, Charlene Mires, and Carla Gardina Pestana. The American People, Concise Edition Creating a Nation and a Society, Combined Volume (ấn bản thứ 6). New York: Longman, 2007.
  39. ^ Robert C. Doyle (2010). The Enemy in Our Hands: America's Treatment of Enemy Prisoners of War from the Revolution to the War on Terror. Đại học Kentucky. tr. 269. ISBN 978-0-8131-2589-3.
  40. ^ "Vietnam War", Clark D. Neher, Đại học Bắc Illinois (Hoa Kỳ).
  41. ^ Malcolme W. Browne (13 tháng 10 năm 1999). "Saigon's Finale", đăng trên báo The New York Times.
  42. ^ F. Martin, Michael (29 tháng 10 năm 2009). “U.S.-Vietnam Economic and Trade Relations: Issues for the 111th Congress” (PDF). CRS Report for Congress. 
  43. ^ "Đổi mới bắt đầu từ đâu?". Báo Cần Thơ đăng tải ngày 19 tháng 10 năm 2005. Lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2005.
  44. ^ “Gần 96% đại biểu Quốc hội là đảng viên”. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2018. 
  45. ^ The Limits and Potential of Liberal Democratisation in Southeast Asia uni-hamburg, 10.12.2014
  46. ^ Theo trang web chính thức của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Quan hệ ngoại giao, truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015
  47. ^ "Các Tổ chức-Diễn đàn Quốc tế", Bộ Ngoại giao Việt Nam. Truy cập ngày 31 tháng 05 năm 2019.
  48. ^ “iệt Nam đã trúng cử Hội đồng Kinh tế - xã hội LHQ”. 
  49. ^ “Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO” (Thông cáo báo chí). Xuân Danh, Báo Thanh niên. 8 tháng 11 năm 2006. Truy cập 9 tháng 12 năm 2011. 
  50. ^ "Distribution of Family Income – Gini Index". Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA). Truy cập 27 tháng 11 năm 2011.
  51. ^ “ScienceDirect – Journal of Econometrics: On decomposing the causes of health sector inequalities with an application to malnutrition inequalities in Vietnam”. Science Direct. 12 tháng 9 năm 2002. doi:10.1016/S0304-4076(02)00161-6. Truy cập 6 tháng 8 năm 2011. 
  52. ^ Gallup, John Luke (2002). “The wage labor market and inequality in Viet Nam in the 1990s”. REPEC. Truy cập 7 tháng 11 năm 2010. 
  53. ^ “Kinh tế đi xuống sau 5 năm gia nhập WTO” (Thông cáo báo chí). VnExpress. Ngày 3 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013. 
  54. ^ “Tham nhũng trong mắt người dân đô thị VN” (Thông cáo báo chí). BBC. Ngày 16 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  55. ^ “Việt Nam tham nhũng thứ ba châu Á?” (Thông cáo báo chí). BBC. Ngày 8 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  56. ^ GDP per capita, PPP (current international $) cập nhật 14/4/2015, truy cập 20/4/2015
  57. ^ https://tuoitre.vn/imf-du-bao-gdp-binh-quan-dau-nguoi-viet-nam-vuot-philippines-20201014182357024.htm
  58. ^ “Vì sao cần tăng cường quản lý báo điện tử?” (Thông cáo báo chí). Nguyễn Công Dũng, Tạp chí Cộng sản. Ngày 7 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  59. ^ “Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm 2013”. Tổng cục Thống kê. 25 tháng 12 năm 2013. Truy cập 1 tháng 12 năm 2014. 
  60. ^ Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê, Tổng cục Thống kê. “Công bố kết quả Tổng điều tra dân số 2019”. 
  61. ^ “Dân số Việt Nam vượt mốc 90 triệu người”. Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập 16 tháng 8 năm 2015. 
  62. ^ “Xu hướng phát triển dân số Việt Nam: Chưa giầu đã già”. RFI. Ngày 14 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019. 
  63. ^ THIÊN THANH (ngày 26 tháng 11 năm 2017). “Đối diện nguy cơ về dân số”. Báo Nhân Dân. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019. 
  64. ^ a ă Zwartjes 2011, tr. 292.
  65. ^ Choy 2013, tr. 340.
  66. ^ Dinh Tham 2018, tr. 67.
  67. ^ Ozolinš 2016, tr. 130.
  68. ^ Jacques 1998, tr. 21.
  69. ^ Thượng viện Pháp 1997.
  70. ^ Van Van, tr. 8.
  71. ^ Van Van, tr. 9.
  72. ^ Bộ thương mại quốc tế Vương quốc Anh 2018.
  73. ^ Wai-ming 2002, tr. 3.
  74. ^ Anh Dinh 2016, tr. 63.
  75. ^ Hirano 2016.
  76. ^ Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam (2018). Trích dẫn trong Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế (2019). “Report on International Religious Freedom: Vietnam”. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. 
  77. ^ Tran, Anh Q. (tháng 10 năm 2018). “The Historiography of the Jesuits in Vietnam: 1615–1773 and 1957–2007”. Brill. 
  78. ^ Vietnam was among 8 safest destinations: MSN Travel | Tuổi Trẻ news cập nhật 10/21/2012 14:08 GMT + 7
  79. ^ a ă â Khánh Hiền (5 tháng 12 năm 2012). “Việt Nam chịu ảnh hưởng của các điểm "nóng" tội phạm ma túy - Pháp luật - Dân trí”. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2015. 
  80. ^ “Tệ lô đề ở Việt Nam lên báo nước ngoài - VnExpress”. VnExpress. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012. 
  81. ^ Niên giám Thống kê 2013, Trung tâm Tư liệu Thống kê - Tổng cục Thống kê Việt Nam
  82. ^ Học sinh Việt Nam vượt Mỹ về Toán và Khoa học, Xuân Vũ, Báo điện tử Dân trí, 04/12/2013
  83. ^ Việt Nam vượt Mỹ, Úc nhờ... luyện 'gà chọi'?, Vietnamnet, 18/05/2015
  84. ^ Bộ Giáo dục bất ngờ với kết quả xếp hạng học sinh, Vietnamnet, 04/12/2013
  85. ^ “Muốn thành lập trường đại học tư thục phải có 1.000 tỷ đồng”. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018. 
  86. ^ “Những con số "biết nói" về giáo dục đại học Việt Nam”. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018. 
  87. ^ “Số cơ sở khám, chữa bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). Ngày 6 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012. 
  88. ^ “Số giường bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). Ngày 6 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012. 
  89. ^ a ă Nỗ lực giảm tải và những tín hiệu vui Thái Bình, Báo SứcKhoẻ và Đời Sống cập nhật 1/9, 2014 | 06:00
  90. ^ VOVNEWS.VN | Ngành Y tế 55 năm làm theo lời Bác dạy - Nganh Y te 55 nam lam theo loi Bac day Văn Hải hứ 7, 16:30, 27/02/2010
  91. ^ Năm 2009, ngành y tế triển khai hiệu quả các nguồn vốn viện trợ ĐCSVN 21:04 | 04/02/2010
  92. ^ Tham nhũng trong ngành y tế nghiêm trọng - Tuổi Trẻ Online Minh Quang 26/11/2009 22:48 GMT+7
  93. ^ “Việt Nam có thêm 2 huy chương ở Paralympics”. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018. 

Tham khảo

  • Non nước Việt Nam, Tổng cục Du lịch, Nhà xuất bản Hà Nội 2007
  • Herring, George C. America's Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975 (4th ed 2001), most widely used short history. ISBN 978-0072536188
  • Jahn GC. 2006. The Dream is not yet over. In: P. Fredenburg P, Hill B, editors. Sharing rice for peace and prosperity in the Greater Mekong Subregion. Victoria, (Australia): Sid Harta Publishers. p 237-240
  • Karrnow, Stanley. Vietnam: A History. Penguin (Non-Classics); 2nd edition (ngày 1 tháng 6 năm 1997). ISBN 0-14-026547-3
  • McMahon, Robert J. Major Problems in the History of the Vietnam War: Documents and Essays (1995) textbook ISBN 9780618749379
  • Tucker, Spencer. ed. Encyclopedia of the Vietnam War (1998) 3 vol. reference set; also one-volume abridgment (2001) ISBN 1851099611
  • Woods, L. Shelton (2002). Vietnam: a global studies handbook. ABC-CLIO. ISBN 1-57607-416-1. 
  • Yue-Hashimoto, Oi-kan (1972). Phonology of Cantonese. Đại học Cambridge (Anh Quốc). ISBN 978-0-521-08442-0.
  • Tonnesson, Stein; Antlov, Hans (1996). Asian Forms of the Nation. Routledge. ISBN 0700704426.
  • Oxford Advanced Learner's Dictionary, 9th edition, Oxford University Press.

Đọc thêm

  • Bowman, John S. (ed.). The Vietnam War: An Almanac. New York: World. Almanac Publications, 1985.
  • Burchett, Wilfred. Catapult to Freedom. London: Quartet Books, 1978.
  • Buttinger, Joseph. Vietnam: A Dragon Embattled. 2 vols. New York: Praeger, 1967.
  • United States. Congress. 98th, 2d Session. Senate. Committee on Foreign Relations. The U.S. Government and the Vietnam War: Executive and Legislative Roles and Relationships. Washington: GPO, 1984.
  • Van Dyke, Jon M. North Vietnam's Strategy for Survival. Palo Alto, California: Pacific Books, 1972.
  • Whitfield, Danny J. Historical and Cultural Dictionary of Vietnam. Metuchen, New Jersey: Scarecrow Press, 1976.
  • Woodside, Alexander Barton. Community and Revolution in Modern Vietnam. Boston: Houghton Mifflin, 1976.

Liên kết ngoài

Biểu đồ gió Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Quốc
 Lào
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Quốc
Vịnh Bắc Bộ
Biểu đồ gió
 Lào
 Campuchia
B Biển Đông
T    Việt Nam    Đ
N
 Campuchia
Vịnh Thái Lan
Biển Đông Biển Đông