Người đồng tính, song tính hoặc hoán tính làm cha mẹ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xe đẩy trẻ con có dán dòng chữ Đây là một gia đình đồng tính và hạnh phúc trong một lễ hội đồng tính.

Nhiều người đồng tính, song tínhhoán tính có con. Chẳng hạn, theo điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2000, 33% cặp đồng giới nữ và 22% cặp đồng giới nam đang sống với ít nhất một người con dưới 18 tuổi.[1] Tuy nhiên, vấn đề này thường gây nhiều tranh cãi ở các nước phương Tây.

Để có con, những người LGBT thường xin con nuôi, thụ tinh nhân tạo hoặc nhận đỡ đầu hoặc có khi con là con riêng của một người với vợ hoặc chồng cũ là dị tính luyến ái. Ước tính năm 2005 ở Mỹ có khoảng 270.313 trẻ em là đang được nuôi bởi những cặp đồng giới.[2] Theo điều tra dân số Hoa Kỳ vào năm 2010 thì cứ 4 cặp đồng tính lại có một cặp nuôi con, và 80% của số trẻ em này là con ruột.[3]

Nghiên cứu về tình trạng gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả tích cực[sửa | sửa mã nguồn]

Hội Tâm lý Hoa Kỳ (American Psychological Association) ủng hộ việc xin con nuôi của các cặp đồng tính trong bản tuyên bố vào ngày 28 và 30 tháng 7 2004.[4] Việc xin con nuôi này cũng được sự ủng hộ của tổ chức American Psychoanalytic Association.[5]
Tiến sĩ Maria Rupp công bố vào năm 2009 theo ủy nhiệm của bộ tư pháp Đức nghiên cứu về ảnh hưởng của lối sống đồng tính của cha mẹ đối với con cái chủ yếu cùng đưa đến những kết quả dưới đây:

  • Trẻ em và thiếu niên của cha mẹ đồng tính có khuynh hướng đa tính hoặc đồng tính tương tự như con cái của cha mẹ đa tính.[6]
  • Về vấn đề đối xử và phát triển bất bình thường do khuynh hướng đồng tính cho tới nay chưa có nghiên cứu lâu dài nào mà có thể đưa tới một kết luận một cách khoa học.[7]
  • Không phải khuynh hướng tình dục đồng tính hay đa tính đã đóng vai trò trong quan điểm và ứng xử của trẻ em, mà là giới tính của cặp đồng tính. Trẻ em mà lớn lên trong gia đình một cặp phụ nữ, thì ít có đối xử phân biệt giữa giới tính trai gái như trẻ em cha mẹ đa tính.[6]
  • Đa số trẻ em không bị kỳ thị vì cha mẹ là đồng tính. Đứa trẻ nào bị kỳ thị có thể đối phó với nó một cách xây dựng và được yểm trợ của cha mẹ.[8]
  • Trẻ em của gia đình đồng tính thường khoan dung hơn. Tuy nhiên các nghiên cứu ở Hoa Kỳ cũng cho rằng, cái quan điểm này có thể bị ảnh hưởng bởi môi trường chung quanh, vì các gia đình đồng tính thường sống ở thành phố lớn, hay các thành phố đại học, con cái thường sống trong một môi trường bao dung ít có quan điển chống đối việc đồng tính.[6]
  • Trẻ em của gia đình đồng tính không gặp nhiều hiểm họa hơn, phải trở thành nạn nhân bị lợi dụng tình dục. Một nghiên cứu theo ủy thác của bộ Tư pháp Đức về trình trạng đời sống trong các gia đình đồng tính đưa tới kết luận, con cái họ không bị ảnh hưởng không tốt gì cả. Tham dư vào cuộc nghiên cứu có cả viện sư phạm cho trẻ em nhỏ ở München (IFP).[6]

Dựa vào nghiên cứu trên, bộ trưởng tư pháp Đức Brigitte Zypries đã tuyên bố vào mùa hè 2009 ủng hộ luật xin con nuôi cho những người đồng tính. Ủy ban luật pháp của hội đồng Âu châu cũng ủng hộ việc cho những người đồng tính xin con nuôi tại 47 nước thành viên. Bộ trưởng tư pháp Đức kế tiếp Sabine Leutheusser-Schnarrenberger cũng đòi ban hành luật xin con nuôi cho các cặp đồng tính.[7]

Tuy nhiên, nghiên cứu này đã bị chỉ trích bởi tiến sĩ Christl Vonholt vì mẫu nghiên cứu thực tế của nó quá nhỏ: chỉ có 95 trẻ em và thiếu nhiên được phỏng vấn, trong số đó 78% được cặp cha mẹ bình thường sinh ra và đã sống 5 năm đầu đời với cả cha và mẹ, hầu hết sống với mẹ đẻ thay thì mẹ nuôi. Do vậy, điều kiện phát triển của những đứa trẻ này không khác gì nhiều so với gia đình thông thường, và như vậy nghiên cứu này đã không có đủ cơ sở cho kết luận rằng con nuôi của cặp đồng tính sẽ phát triển bình thường. Mặt khác, tiến sĩ Vonholt dựa trên một nghiên cứu ở Mỹ năm 2009 cho thấy những đồng tính nam và nữ có tỷ lệ rối loạn tâm thần cao hơn đáng kể (cố gắng chứng minh rằng nguyên nhân của sự rối loạn đó nằm ở phân biệt đối xử xã hội đến nay đã thất bại), cũng như việc họ có quan hệ tình dục với nhiều người cùng lúc. "Điều này sẽ có tác động như thế nào tới đứa trẻ?" - Tiến sĩ Vonholt đặt ra vấn đề: việc cho phép cặp đồng tính nuôi con là không cần thiết, bởi vì có nhiều cặp vợ chồng thông thường sẵn sàng nhận con nuôi. Việc công nhận lối sống đồng tính không thể được tiến hành bằng việc hy sinh quyền có đầy đủ cha mẹ của mỗi đứa trẻ[7].

Kết quả tiêu cực[sửa | sửa mã nguồn]

Một vấn đề quan tâm là khi con cái được nuôi bởi những cặp đồng giới có khả năng trở thành đồng tính khi lớn lên hay bị rối loạn về giới tính hay không. Các nghiên cứu trong thập niên 80 của các nhà khoa học như Kirk Patrick, Susan Golombok, Ann Spencer, Michael Rutter, Richard Green... cho biết: Khi nghiên cứu các cặp sinh đôi và con nuôi của các cặp đồng tính nữ, bằng chứng cho thấy thiên hướng tình dục là kết quả tác động phức tạp từ cả yếu tố sinh học và yếu tố môi trường. Các nghiên cứu này đã tìm thấy sự liên hệ về việc phát triển thiên hướng tình dục của trẻ em theo chiều hướng tương tự như cha mẹ nuôi đồng tính của chúng (để biết thêm chi tiết, xin mời đọc Yếu tố môi trường trong thiên hướng tình dục).[9][10][11]

Một nghiên cứu mới vào năm 2012 của Mark Regnerus, giáo sư tại Đại học Texas được đăng trên Tạp chí nghiên cứu xã hội Hoa Kỳ đã cung cấp thêm nhiều thông tin về vấn đề này. Nghiên cứu khảo sát 15.000 thanh niên, khảo sát kỹ 3.000 thanh niên trong đó 175 được nuôi lớn bởi cặp đồng tính nữ và 73 bởi cặp đồng tính nam. Kết quả cho thấy: trong ngắn hạn, các cặp đồng tính có thể nuôi con tốt như vợ chồng thông thường; nhưng về dài hạn, sự khiếm khuyết về giới tính (thiếu vắng cha hoặc mẹ để nuôi dạy đứa trẻ) là không thể khắc phục được, và con nuôi của họ khi bước vào tuổi thành niên sẽ gặp phải nhiều vấn đề hơn hẳn so với con cái của những gia đình thông thường, cụ thể[12]:

Vấn đề gặp phải Con nuôi đồng tính nữ Con nuôi đồng tính nam Gia đình thông thường
Thất nghiệp 28% 20% 15%
Có ý định tự tử 12% 24% 9%
Phải điều trị tâm lý gần đây 19% 19% 9%
Có quan hệ đồng tính 7% 12% 2%
Bị cưỡng ép quan hệ tình dục 31% 25% 11%

Nghiên cứu trên của Mark Regnerus nhận được sự ủng hộ của Trường Cao đẳng nhi khoa Hoa Kỳ, một tổ chức quốc gia của các bác sĩ nhi khoa và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và giáo dục dành cho trẻ em[13].

Hội đồng Nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ đã có bài phân tích ủng hộ nghiên cứu và cho biết: nhờ mẫu thống kê lớn nên nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng cho biết về tình trạng của trẻ em trong gia đình đồng tính về dài hạn, cũng như bản chất "bất ổn định" của cặp đồng tính. Nghiên cứu này đã xóa tan những ngộ nhận về việc "cha mẹ đồng tính không khác cha mẹ thường". Kết quả của nó tương đồng với nghiên cứu của các chuyên gia nghiên cứu chính sách gia đình, và không có gì đáng ngạc nhiên khi nghiên cứu này bị tấn công quyết liệt các nhà hoạt động ủng hộ đồng tính[14]

18 nhà khoa học thuộc Viện ISR (Institute for Studies of Religion) ủng hộ nghiên cứu cho biết: Regnerus dựa trên một mẫu lớn, ngẫu nhiên, và đại diện của hơn 200 trẻ em nuôi dưỡng bởi cha mẹ, những người đã có mối quan hệ đồng tính, so sánh chúng với một mẫu ngẫu nhiên của hơn 2.000 trẻ em lớn lên trong gia đình dị tính, để đạt được kết luận của mình. Đây là lý do tại sao giáo sư xã hội học Paul Amato, chủ tịch của bộ phận gia đình của Hiệp hội Xã hội học Mỹ và chủ tịch đắc cử của Hội đồng Quốc gia về quan hệ gia đình, đã viết rằng nghiên cứu Regnerus là "nghiên cứu tốt hơn hầu hết các nghiên cứu trước đó trong việc phát hiện sự khác biệt giữa các nhóm đó (nhóm gia đình khác biệt) trong dân số"[15] Điểm đáng chú ý là những phát hiện liên quan đến sự bất ổn (trong các gia đình đồng tính) của Regnerus phù hợp với các nghiên cứu gần đây của các quốc gia như Anh, Hà Lan, và Thụy Điển dựa trên các mẫu đại diện lớn, ngẫu nhiên, tiêu biểu cho các cặp vợ chồng đồng tính nam và đồng tính nữ, các nghiên cứu ấy cũng phát hiện ra sự tương đồng lớn về những kiểu bất ổn xuất hiện trong số các cặp đôi đồng giới. Thứ ba, một nghiên cứu khác được công bố gần đây trên Tạp chí hôn nhân và gia đình cũng đi đến kết luận rằng: “trẻ em trong các gia đình của các cặp đôi đồng tính có điểm số thấp hơn so với các bạn cùng lớp trong các gia đình có bố mẹ dị tính”[16]

Một đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi 1 cặp đồng tính chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề hơn. Ví dụ: nếu 1 cặp đồng tính nam nhận con gái nuôi hoặc cặp đồng tính nữ nhận con trai nuôi, đứa trẻ sẽ phải lớn lên mà thiếu vắng sự hướng dẫn giới tính từ người có cùng giới tính với nó, nhất là trong gia đoạn dậy thì, từ đó làm tăng nguy cơ về sự lệch lạc hành vi giới tính. Sự dễ chia tay hoặc quan hệ ngoài luồng, vốn phổ biến của các cặp đồng tính, cũng làm tăng nguy cơ chấn thương tâm lý ở đứa trẻ. Tệ hơn, đứa trẻ có thể phải đối mặt với sự kỳ thị, trêu chọc hoặc cô lập từ bạn bè cùng trang lứa, từ đó hình thành tâm lý bất mãn hoặc nổi loạn. Nhà tâm lý Enrique Rojas cho biết: Theo các nghiên cứu từ Hoa Kỳ, Canada, và New Zealand, 70-80% số đứa trẻ được nuôi bởi người đồng tính sẽ phát triển những khuynh hướng đồng tính tương tự.[17]

Phân tích tổng hợp của Stacy và Biblarz (năm 2001) cho thấy rằng: các bà mẹ nuôi là đồng tính nữ có ảnh hưởng lớn, khiến con trai nuôi của họ trở nên nữ tính trong khi con gái nuôi thì lại trở nên nam tính. Họ báo cáo: "...các cô gái vị thành niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính sẽ có tỷ lệ cao hơn về tình dục bừa bãi... nói cách khác, trẻ em (đặc biệt là trẻ em gái) được nuôi bởi nữ đồng tính có xu hướng đả phá các quan niệm giới tính truyền thống, trong khi trẻ em được nuôi bởi các bà mẹ thông thường sẽ có biểu hiện phù hợp với giới tính của mình"[18] Một nghiên cứu năm 1996 bởi một nhà xã hội học Úc cho thấy: những đứa trẻ của các cặp vợ chồng bình thường là giỏi nhất, trong khi con nuôi của các cặp vợ chồng đồng tính lại học hành kém nhất, điều này đúng tại 9 trên 13 trường học được khảo sát.[18]

Tiến sĩ Trayce Hansen cho biết: "Nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội, mặc dù không dứt khoát, cho thấy rằng trẻ em nuôi bởi các cặp đồng tính có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi đồng tính hơn so với các trẻ em khác. Các nghiên cứu cho đến nay cho thấy khoảng 8% đến 21% con nuôi của các cặp đồng tính cuối cùng cũng sẽ trở thành đồng tính. Để so sánh, tạm cho khoảng 2% dân số nói chung là đồng tính. Do đó, nếu các tỷ lệ này được xác minh kĩ, con nuôi của các cặp đồng tính có khả năng phát triển thành đồng tính cao hơn 4 đến 10 lần so với những đứa trẻ khác."

Trong cuốn sách "Lớn lên trong một gia đình đồng tính nữ: Tác động với sự phát triển trẻ em", 2 tiến sĩ Fiona TaskerSusan Golombok, quan sát thấy rằng 25% những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính cũng đã tham gia vào một mối quan hệ đồng tính, so với xấp xỉ 0% ở những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ bình thường[19]

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà đạo đức học Úc, Giáo sư Margaret Somerville quan sát thấy rằng nhu cầu cho hôn nhân đồng tính "buộc chúng ta phải lựa chọn giữa ưu tiên cho quyền của trẻ em hoặc quyền của người lớn đồng tính. Những tuyên bố của người đồng tính luôn được ưu tiên với các phương tiện truyền thông, được tung hô là tiến bộ và vì "quyền bình đẳng" của người lớn. Nhưng sau đó, ai sẽ bảo vệ quan điểm của trẻ em?" Frank Brennan, Chủ tịch của Ủy ban Tư vấn Nhân quyền quốc gia Úc, nói về hôn nhân đồng giới và quyền của trẻ em[20]:

Sự bình đẳng của người lớn không nên khiến trẻ em trong tương lai bị tước đi cơ hội để được sinh ra bởi một người đàn ông và một người phụ nữ. Quyền của các cặp đồng tính bình đẳng không thể lớn hơn quyền của trẻ em trong tương lai. Đây là trung tâm của sự phản đối hôn nhân đồng tính: chấp nhận cha mẹ đồng tính có nghĩa là trẻ em trong tương lai phải mất đi một người mẹ hay một người cha.

Hôn nhân là một kết hợp chất đúng theo Điều 16 của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền: "quyền kết hôn và xây dựng gia đình". Hôn nhân đồng tính bao gồm cả việc công nhận quyền thành lập một gia đình bằng sinh sản nhân tạo - như đẻ thuê - và bất kỳ đứa trẻ được tạo ra trong đó sẽ không có khả năng có cả mẹ và cha.

Tất nhiên, có những đứa trẻ bất hạnh không thể có cả một người mẹ và một người cha, ví như cái chết hay sự ly dị của cha mẹ, nhưng đó không phải là điều chúng ta sẽ mong muốn, và nó không phải là thứ mà chính phủ gây ra cho đứa trẻ. Nhưng nếu Chính phủ chấp nhận hôn nhân đồng tính, đó sẽ là hành vi tước đoạt cha mẹ có chủ ý. Đó là hành vi phạm tội đối với trẻ em, và pháp luật trở thành công cụ buộc một đứa trẻ phải sống mà không có một người mẹ hoặc cha. Tình mẫu tử của con người sâu sắc nhất, nhưng mối quan hệ này sẽ bị bãi bỏ bởi "hôn nhân" của hai người đàn ông. Hôn nhân đồng tính cũng báo hiệu một sự mất phương hướng đau đớn khi những đứa trẻ được tạo ra bởi những người cha hiến tặng tinh trùng vô danh và được sinh ra từ bà mẹ độc thân

Bốn người trưởng thành dưới sự nuôi dưỡng của cặp đồng tính đã nộp thư phản đối việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, bao gồm B.N. Klein, Robert Oscar Lopez, Dawn Stefanowicz, và Katy Faust. Tất cả bốn người lập luận rằng các cặp đồng tính sẽ gây hại cho trẻ bằng cách lấy đi của trẻ em người mẹ hoặc cha. Họ mô tả kinh nghiệm của cô khi sống trong một hộ gia đình đồng tính[21]:

Dawn Stefanowicz: Các bạn tình của bố tôi ngủ và ăn trong nhà của chúng tôi, và họ đưa tôi cùng đến nơi gặp gỡ trong cộng đồng LGBT. Tôi đã được tiếp xúc với các hoạt động tình dục công khai như kê gian, ảnh khoả thân, khiêu dâm, thác loạn tập thểkhổ dâm. Không có gì đảm bảo rằng bất kỳ bạn tình nào của bố tôi sẽ gắn bó với ông trong khoảng thời gian dài, nhưng tôi thường phải vâng lời họ. Quyền và sự ngây thơ của tôi đã bị vi phạm. Trẻ em như chúng tôi không được phép bày tỏ sự bất đồng và nỗi đau của mình. Hầu hết các tẻ em trưởng thành từ các hộ gia đình đồng tính không cảm thấy đủ an toàn hoặc tự do để công khai bày tỏ câu chuyện của họ và những thách thức dài lâu; họ sợ bị mất bằng cấp, không có việc làm, hoặc mất đi mối quan hệ mà họ có với cha mẹ đồng tính của họ. Một số cha mẹ đồng tính đã đe dọa sẽ không để lại thừa kế, nếu trẻ em không chấp nhận bạn tình của họ"

B.N Klein: Tôi lớn lên với người mẹ đồng tính và bạn tình của bà trong một bầu không khí trong đó tư tưởng đồng tính đã được sử dụng như một công cụ đàn áp, trả thù và lạm dụng. Tôi đã thấy rằng trẻ em trong các gia đình đồng tính thường trở thành đạo cụ được hiển thị công khai để chứng minh rằng các gia đình đồng tính cũng giống như những gia đình dị tính... Tôi được dạy rằng một số người Do Thái và Kitô hữu hầu hết là ngu ngốc vì họ "ghét người đồng tính nam" và rằng người đồng tính "có nhiều sáng tạo và nghệ thuật" bởi vì họ đã không kìm nén "bản năng tự nhiên". Đồng thời tôi đã được đưa ra thông điệp rằng nếu tôi không đồng ý (mà tôi thì không), tôi sẽ bị nguyền rủa và phải chịu trừng phạt từ mẹ tôi và bạn tình của mình. Họ đã làm điều này với sự động viên của tất cả các người bạn đồng tính của họ trong cộng đồng và họ giống như một đội cổ vũ. Tôi chỉ được phép ra khỏi phòng của tôi để đi học"
Robert Oscar Lopez: (được nuôi bởi một người mẹ đồng tính nữ và bạn tình, đã có một kinh nghiệm khác mà ông mô tả là "những điều kiện tốt nhất có thể cho một đứa trẻ được nuôi bởi một cặp vợ chồng đồng tính"): Đằng sau những bề ngoài của một "kết quả" hạnh phúc là rất nhiều những vấn đề. Tôi đã trải qua rất nhiều sự nhầm lẫn tình dục do thiếu một người cha trong cuộc sống của mình. Tôi đã từng quan hệ mại dâm với nhiều người đàn ông lớn tuổi ngang cha tôi khi còn là một thiếu niên, mặc dù lúc đó tôi khó có thể hiểu được những gì tôi đang làm. Số tiền tôi nhận được chắc chắn đã giúp tôi về tài chính, nhưng tiền không phải là tác động mạnh bởi thực tế rằng tôi cảm thấy cần được quan hệ với những nam giới lớn tuổi. Ngay từ 10 năm trước, tôi từng phát triển một quan điểm ủng hộ về mối quan hệ đồng tính. Tuy nhiên, sau này vì tôi tái lập quan hệ với cha của tôi trong năm 1998 và đã dẫn đến một quá trình chuyển đổi trong cuộc sống của tôi, từ việc bị lac lối và bối rối tình dục, tâm lý của tôi đã được ổn định và tình cảm trở nên trọn vẹn."
Katy Faust (người lớn lên với một người mẹ đồng tính nữ): Khi chúng ta thể chế hóa hôn nhân đồng tính, chúng ta đã cho phép người dân được tự do sống như họ muốn, để thúc đẩy gia đình đồng tính. Khi làm như vậy, chúng ta đã bỏ qua bản chất thật sự của hôn nhân. Bây giờ chúng ta đang bình thường hóa một cấu trúc gia đình nơi một đứa trẻ luôn bị tước quyền được sống trong một cấu trúc gia đình tự nhiên hoặc cha mẹ ruột của mình, trẻ em khi đó chỉ đơn giản là tồn tại để thỏa mãn những ham muốn xác thịt của người lớn"

Tình trạng luật pháp về việc nhận con nuôi[sửa | sửa mã nguồn]

Luật lệ cho các cặp đồng tính khắp thế giới.
  cùng nhận con nuôi
  Nhận con riêng là con chính thức
  Cho phép cá nhân đồng tính được nhận con nuôi
Xem tập tin trong trường hợp thắc mắc.

Nhận con nuôi bởi một căp đồng tính hiện thời hợp pháp tại những nước sau:

Nhận con nuôi bởi một căp đồng tính hiện thời hợp pháp tại những lãnh thổ:

Những nước dưới đây cho phép nhận con riêng làm con chính thức nếu cặp đồng tính có đăng ký sống chung (ở Israel và Slovenia thì không cần):

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ APA Policy Statement on Sexual Orientation, Parents & Children, American Psychological Association, July 28 & 30, 2004. Truy cập 04-06-2007.
  2. ^ http://web.archive.org/20080228024532/www.law.ucla.edu/williamsinstitute/publications/USCensusSnapshot.pdf
  3. ^ DONALDSON JAMES, SUSAN (ngày 23 tháng 6 năm 2011). “Census 2010: One-Quarter of Gay Couples Raising Children”. ABC News. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2013. “Still, more than 80 percent of the children being raised by gay couples are not adopted, according to Gates.” 
  4. ^ Haltung der American Psychological Association
  5. ^ Position Statement on Parenting
  6. ^ a ă â b Die Lebenssituation von Kindern in gleichgeschlechtlichen Lebenspartnerschaften – Ausführliche Zusammenfassung
    • Marina Rupp (Hrsg.): Die Lebenssituation von Kindern in gleichgeschlechtlichen Lebenspartnerschaften. Bundesanzeiger Verlag, 2009, ISBN 978-3-89817-807-5.
  7. ^ a ă â [1]
  8. ^ http://www.lsvd.de/fileadmin/pics/Dokumente/Adoption/LSVD_Essentiels-BMJ-Studie.pdf
  9. ^ Kirk Patrick M, Smith C, Roy R (July năm 1981). “Lesbian mothers and their children: a comparative survey”. Am J Orthopsychiatry 51 (3): 545–51. PMID 7258320. 
  10. ^ Susan Golombok, Ann Spencer and Michael Rutter (October năm 1983). “Children in lesbian and single-parent households: psychosexual and psychiatric appraisal”. J Child Psychol Psychiatry 24 (4): 551–72. doi:10.1111/j.1469-7610.1983.tb00132.x. PMID 6630329. 
  11. ^ Green R, Mandel JB, Hotvedt ME, Gray J, Smith L (April năm 1986). “Lesbian mothers and their children: a comparison with solo parent heterosexual mothers and their children”. Arch Sex Behav 15 (2): 167–84. doi:10.1007/BF01542224. PMID 3718205. 
  12. ^ http://www.baylorisr.org/wp-content/uploads/Regnerus.pdf
  13. ^ Are Children of Parents Who Had Same- Sex Relationships Disadvantaged?
  14. ^ “Family Research Council”. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015. 
  15. ^ Paul Amato. 2012. “The Well-being of Children with Gay and Lesbian Parents.” Social Science Research 41:4 (Forthcoming).
  16. ^ A Social Scientific Response to the Regnerus Controversy. ISR, Baylor University. Byron Johnson, Baylor University. Douglas Allen, Simon Fraser University. Peter Arcidiacono, Duke University. Carl L. Bankston, III, Tulane University. John Bartkowski, University of Texas at San Antonio. Thomas Cushman, Wellesley College. Mathieu Deflem, University of South Carolina. David Eggebeen, Penn State University. Sheldon Ekland-Olson, University of Texas at Austin. Michael Emerson, Rice University. Ana Cecilia Fieler, University of Pennsylvania. Marjorie Gunnoe, Calvin College. Alan Hawkins, Brigham Young University. Jonathan Imber, Wellesley College. Loren Marks, Louisiana State University. Margarita Mooney, University of North Carolina at Chapel Hill. Michael J. New, University of Michigan at Dearborn. David Popenoe, Rutgers University (emeritus). Stephen Robinson, University of North Carolina at Wilmington
  17. ^ Eminent Psychiatrist Says Homosexuality is a Disorder that Can be Cured
  18. ^ a ă Stacy, J. & Biblarz, T. J. (2001). Does sexual orientation of parents matter? American Sociological Review, 66 (2), p. 171.
  19. ^ Growing up in a lesbian family: effects on child development. Fiona L. Tasker, Susan Golombok. Guilford Press, 1997. ISBN 1-57230-412-X. P 111
  20. ^ http://www.acl.org.au/2013/05/the-harm-to-children-of-same-sex-marriage-david-van-gend-address-to-wcf/
  21. ^ http://cnsnews.com/news/article/lauretta-brown/adults-raised-gay-couples-speak-out-against-gay-marriage-federal-court
  22. ^ “Argentina Passes Gay Marriage Law”. Towardfreedom.com. Ngày 15 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  23. ^ David Morton Rayside. Queer inclusions, continental divisions: public recognition of sexual diversity in Canada and the United States. University of Toronto Press, 2008. p. 388 (p. 20). ISBN 0-8020-8629-2.
  24. ^ “Homosexual couples can adopt children, decides to Supreme Court of Justice”. Athosgls.com.br. 27 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2013. 
  25. ^ Mary C. Hurley (ngày 31 tháng 5 năm 2007). “Sexual Orientation and Legal Rights”. Parliament of Canada. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  26. ^ Jennifer A. Cooper (ngày 31 tháng 12 năm 2001). “Opinion on Common-Law Relationships”. Government of Manitoba. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  27. ^ “Gay couple leaps 'walls' to adopt son”. Edmonton Journal. Ngày 19 tháng 2 năm 2007. 
  28. ^ “Legal Information for Same Sex Couples”. Legal Information for Same Sex Couples. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2010. 
  29. ^ “Yukon Adoption: Important Adoption Issues”. Adoptiveparents.ca. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2013. 
  30. ^ “Izvanbračni parovi konačno mogu posvajati djecu” (bằng Croatian). Ngày 6 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2014. 
  31. ^ Gays given equal adoption rights[liên kết hỏng]
  32. ^ “François Hollande signs same-sex marriage into law - FRANCE”. FRANCE 24. 18 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2013. 
  33. ^ David Morton Rayside. Queer inclusions, continental divisions: public recognition of sexual diversity in Canada and the United States. University of Toronto Press, 2008. p. 388 (p. 21). ISBN 0-8020-8629-2.
  34. ^ a ă “Gay Marriage Goes Dutch”. CBS News. Associated Press. Ngày 1 tháng 4 năm 2001. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  35. ^ “Norway passes law approving gay marriage”. MSNBC. Associated Press. Ngày 17 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  36. ^ Windy City Media Group (ngày 1 tháng 10 năm 2002). “South Africa OKs Gay Adoption”. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  37. ^ [2]
  38. ^ “Sweden legalises gay adoption”. BBC News Online. Ngày 6 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  39. ^ UK Gay News (ngày 30 tháng 12 năm 2005). “New Adoption Law Gives Gay Couples Joint Rights”. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  40. ^ Ellen Thomas (ngày 20 tháng 9 năm 2009). “New legislation sees gay Scottish couples win right to adopt children”. Herald Scotland. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  41. ^ BBC News (ngày 11 tháng 12 năm 2013). “Gay adoption: Northern Ireland ban lifted”. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  42. ^ Yanina Olivera (ngày 9 tháng 9 năm 2009). “Uruguay approves Latin America's first gay adoption law”. AFP. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  43. ^ by AQ Online. “Uruguay Bill Permitting Same-sex Couples to Adopt Becomes Law”. Americasquarterly.org. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2013. 
  44. ^ a ă Shelly Dahl (ngày 4 tháng 8 năm 2007). “Stop the proposed same-sex adoption ban”. Green Left. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  45. ^ “Adoption Amendment (Same Sex Couples) Bill 2010 (No 2) – NSW Parliament”. Parliament.nsw.gov.au. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  46. ^ New laws raise hopes for more adoptions in Isle of Man
  47. ^ Jersey's civil partnership law comes into force
  48. ^ “Mexico City’s gay marriage law takes effect”. MSNBC. Associated Press. Ngày 4 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2010. 
  49. ^ “Greenwood and Fink (Providence, RI) – all legal services for same-sex adopting couples and more”. Lesbiangayadoption.com. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2013. 
  50. ^ a ă â b c d đ e ê g Human Rights Campaign (2008). “Adoption Laws: State by State”. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  51. ^ Robert Crooks, Karla Baur. Our sexuality. 10th Edition. Cengage Learning, 2008. p. 520 (p. 255). ISBN 0-495-09554-0.
  52. ^ “Florida appeals court strikes down gay adoption ban”. CNN International. Ngày 22 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2010. 
  53. ^ “How To Adopt”. Mnadopt.org. 1 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2013. 
  54. ^ “Austria: Reform needed after European Court adoption victory for lesbian couple | Amnesty International”. Amnesty.org. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2013. 
  55. ^ “Confronting Homophobia in Europe”. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2013. 
  56. ^ Ice News (ngày 23 tháng 5 năm 2009). “Finland extends same-sex adoption rules”. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  57. ^ a ă Daniel Ottosson (tháng 11 năm 2006). “LGBT world legal wrap up survey”. International Lesbian and Gay Association (ILGA). Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  58. ^ “German Court Strengthens Gay and Lesbian Adoption Rights - SPIEGEL ONLINE”. Spiegel.de. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2013. 
  59. ^ Bản mẫu:Dk icon “Order on entry into force in Greenland of the Registered Partnership Act”. Government of Greenland. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2013. 
  60. ^ “Israel sanctions overseas gay adoption”. United Press International. Ngày 25 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2010. 
  61. ^ “Gay Israeli couple allowed to adopt”. Jewish Telegraphic Agency. Ngày 11 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2010.