Người Dayak

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Người Dayak
Young Ibans, or Sea Dayaks.jpg
Một nhóm dân tộc thiểu số của người Dayak, Iban hoặc Sea Dajak, một nam thanh niên và cô gái trong trang phục truyền thống (khố) của nam và váy xẻ ngực ở nữ
Tổng số dân
5.9 triệu
Khu vực có số dân đáng kể
Borneo:
 Indonesia3,219,626[1]
          Tây Kalimantan1,531,989
          Trung Kalimantan1,029,182
          Đông Kalimantan351,437
          Nam Kalimantan80,708
          Jakarta45,385
          Tây Java45,233
          Nam Sulawesi29,254
          Banten20,028
          Đông Java14,741
          Nam Sumatera11,329
 Malaysiakhông rõ
          Sarawak935,935
 Brunei30,000[2]
Ngôn ngữ
Tiếng Dayak, Indonesian, Anh, Malay (Sarawak Malay)
Tôn giáo
Kitô giáo (chính)
KaharinganHồi giáo

Người Dayak /ˈd.ək/ hoặc Dyak hoặc Dayuh là những người bản địa của Borneo.[3] Nó là nhóm dân tộc với hơn 200 tiểu nhóm dân tộc sống ven sông và đồi, chủ yếu ở nội địa miền Trung và miền Nam của Borneo, với phương ngữ, phong tục, luật, lãnh thổvăn hóa riêng. Ngôn ngữ Dayak được phân loại như một phần của ngữ hệ Nam Đảochâu Á. Người Dayak theo tín ngưỡng thuyết vật linh; tuy nhiên, nhiều người đã cải đạo sang Hồi giáo và từ thế kỷ XIX đã có sự chuyển đổi hàng loạt sang Kitô giáo.[4]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Người Dayak không chỉ nói một ngôn ngữ.[5] Các ngôn ngữ bản xứ của họ thuộc về phân loại chung thuộc Ngữ tộc Mã Lai-Đa Đảo và các nhóm ngôn ngữ Borneo và Sabahan đa dạng (kể cả Land Dayak), và các ngôn ngữ Ibanic của nhánh ngôn ngữ Malayic.[6][7] Hầu hết người Dayaks ngày nay sử dụng song ngữ, ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ của họ, họ thạo tiếng Malay hoặc Indonesia, tùy thuộc vào quốc gia xuất xứ của họ.

Nhiều ngôn ngữ ở Borneo là đặc hữu (có nghĩa là chúng không được nói ở đâu khác). Người ta ước tính rằng khoảng 170 ngôn ngữ và tiếng địa phương được nói trên đảo và một số chỉ được sử dụng bởi vài trăm người, do đó đặt ra một nguy cơ nghiêm trọng cho tương lai của những ngôn ngữ và di sản liên quan.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo và lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Xã hội và phong tục[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kewarganegaraan, Suku Bangsa, Agama dan Bahasa Sehari-hari Penduduk Indonesia Hasil Sensus Penduduk 2010 [Citizenship, Ethnicity, Religion and Language Everyday, Indonesian Population Census 2010] (bằng tiếng Indonesia). Indonesian Central Bureau of Statistics. 2011. ISBN 978-979-064-417-5. 
  2. ^ “East & Southeast Asia: Brunei”. The World Factbook. Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2016. 
  3. ^ “Report for ISO 639 code: day”. Ethnologue: Countries of the World. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2007.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  4. ^ Chalmers, Ian (2006). “The Dynamics of Conversion: the Islamisation of the Dayak peoples of Central Kalimantan” (PDF). Asian Studies Association of Australia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2016. 
  5. ^ Avé, J. B. (1972). “Kalimantan Dyaks”. Trong LeBar, Frank M. Ethnic Groups of Insular Southeast Asia, Volume 1: Indonesia, Andaman Islands, and Madagascar. New Haven: Human Relations Area Files Press. tr. 185–187. ISBN 978-0-87536-403-2. 
  6. ^ Adelaar, K. Alexander (1995). Bellwood, Peter; Fox. James J.; Tryon, Darrell, biên tập. “Borneo as a cross-roads for comparative Austronesian linguistics” (PDF). The Austronesians: Historical and Comparative Perspectives (Canberra, Australia: Department of Anthropology, The Australian National University): 81–102. ISBN 1-920942-85-8. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 29 tháng 6 năm 2014. 
  7. ^ See the language list at “Borneo Languages: Languages of Kalimantan, Indonesia and East Malaysia”. Royal Netherlands Institute of Southeast Asian and Caribbean Studies, Koninklijk Instituut voor Taal-, Land- en Volkenkunde (KITLV). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Victor T King, Essays on Bornean Societies (Hull/Oxford, 1978).
  • Benedict Sandin, The Sea-Dayaks of Borneo before White Rajah Rule (Luân Đôn 1967).
  • Eric Hansen, Stranger in the Forest: On Foot Across Borneo, (Penguin, 1988), ISBN 0-375-72495-8.
  • Hans Scharer, Ngaju Religion: The Conception of God among a South Borneo People; translated by Rodney Needham (The Hague: Martinus Nijhoff, 1963).
  • Norma Youngberg, The Queen's Gold (TEACH Services, 2000)
  • Judith M. Heimann, The Airmen and the Headhunters: A True Story of Lost Soldiers, Heroic Tribesmen and the Unlikeliest Rescue of World War II, (Harcourt, 2007), ISBN 978-0-15-101434-7
  • Jean Yves Domalain, Panjamon: I Was a Headhunter, (Publisher: William Morrow, January 1973), ISBN 0-688-00143-2, ISBN 978-0-688-00143-8
  • Peter Goullart, River of the White Lily, (Luân Đôn, John Murray, 1965), ISBN 0-7195-0542-9
  • Raymond Corbey. Of jars and gongs: Two keys to Ot Danum Dayak cosmology (Leiden: Zwartenkot Art Books 2016)
  • Syamsuddin Haris. Desentralisasi dan otonomi daerah: desentralisasi, demokratisasi & akuntabilitas pemerintahan daerah (Yayasan Obor Indonesia, 2005)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]