Người Kinh (Trung Quốc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Người Kinh
京族
京族服 4068.jpg
Tổng số dân
32.000
Khu vực có số dân đáng kể
Đông Hưng (Quảng Tây)
Ngôn ngữ
Tiếng Việt (chữ viết chính: chữ Nôm, chữ Hán)
tiếng Quảng Đông và một ít tiếng Quan thoại
Tôn giáo
Phật giáo Đại thừa, Đạo giáo
Sắc tộc có liên quan
Người Việt

Người Kinh, hay Kinh tộc (chữ Hán: 京族, bính âm: jīngzú, Hán-Việt: Kinh tộc) là một trong số 56 dân tộc được công nhận tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Năm 2000 ước tính có khoảng 22.000 người Kinh tại Trung Quốc. Trước năm 1958, dân tộc này được chính thức gọi là người Việt (越族, Việt tộc).[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Người Kinh Trung Quốc đồng nhất về sắc tộc với người Việt tại Việt Nam. Tuy nhiên do di cư và do sự thay đổi đường biên giới quốc gia, vùng cư trú của họ hiện thuộc lãnh thổ Trung Quốc.

Đông đảo người Kinh sinh sống chủ yếu trên 3 đảo là Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu, nên các đảo được gọi chung là Kinh Đảo, còn được gọi là Kinh tộc Tam Đảo, năm 2000 có khoảng 18.000 người. Ngoài ra vào khoảng thế kỷ 16, có một số người Việt di cư lên phía bắc lập nghiệp ở vùng Trường Bình - Bạch Long, hiện có khoảng 4.000 người (2000).

Kinh Đảo hiện thuộc thành phố cấp huyện Đông Hưng, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Vùng đất Kinh Đảo vốn thuộc Đại Việt, nhưng theo Công ước Pháp-Thanh ký năm 1887 giữa Phápnhà Thanh thì bị sáp nhập vào Trung Quốc[2][3].

Văn hóa, ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian trôi qua, nhóm người Kinh này chịu ảnh hưởng ít nhiều từ văn hóa Trung Hoa, tuy vậy văn hóa truyền thống của người Kinh vẫn được duy trì. Họ vẫn nói tiếng Việt và được công nhận là một dân tộc thiểu số tại Trung Quốc. Họ tạo thành một trong số 56 dân tộc được chính thức công nhận tại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Người Kinh ở Trung Quốc vẫn nói tiếng Việt nhưng tiếng nói của họ pha trộn nhiều với tiếng Quảng Đông, tiếng Quan Thoại kèm với nhiều từ cổ của tiếng Việt. Về cơ bản, họ vẫn có thể nói chuyện và thông hiểu với người ViệtViệt Nam. Với chữ viết, vì không bị ảnh hưởng bởi chính sách xóa bỏ chữ Hán và thay bằng chữ Quốc ngữ của chính quyền thuộc địa thực dân Pháp trong giai đoạn Pháp thuộc, họ vẫn sử dụng chữ Hán như người Việt xưa, đồng thời lưu truyền và dạy cho người trẻ chữ Nôm của người Việt. Những thế hệ mới đã làm quen với ký tự Latinh thì có tổ chức dạy và học chữ Quốc ngữ để hiểu cách phiên âm bằng chữ Latinh đồng thời có thể giao lưu qua văn viết với người Việt tại Việt Nam và các nước khác trên thế giới.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “京 族”. Đảng Cộng sản Trung Quốc. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2020. 
  2. ^ Trần Đức Thanh Phong, Trần Đức Giang, Đỗ Thông Minh. Kỷ niệm 100 năm phong trào Đông Du. Tokyo: Tân Văn, 2005
  3. ^ Nhân Tuấn Ngô Quốc Dũng. Biên giới Việt Trung 1885-2000. Marseille: Dũng Châu, 2005. trang 87-116.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]