Người Ra Glai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Raglai
Tổng số dân
96.931[1] (1999); 122.245[2] (2009)
Khu vực có số dân đáng kể
Ninh Thuận, Khánh Hòa, Bình Thuận
Ngôn ngữ
Ra Glai, Việt

Dân tộc Ra Glai, còn viết là Ra-glai hoặc Raglai (tên gọi khác Ra Glây, Hai, Noana, La Vang[cần dẫn nguồn]) là dân tộc thiểu số thuộc hệ ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia cư trú chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận và huyện Khánh Sơn, phía nam tỉnh Khánh Hòa cũng như tại Bình Thuận.

Dân số và địa bàn cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số theo điều tra dân số 1999 là gần 97.000 người.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ra Glai ở Việt Nam có dân số 122.245 người, có mặt tại 18 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ra Glai cư trú tập trung tại các tỉnh: Ninh Thuận (58.911 người, chiếm 48,2% tổng số người Ra Glai tại Việt Nam), Khánh Hòa (45.915 người, chiếm 37,6% tổng số người Ra Glai tại Việt Nam), Bình Thuận (15.440 người) và Lâm Đồng (1.517 người) [2]...

Đặc điểm kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây dân tộc Ra Glai sống du canh bằng nương rẫy. Trên rẫy thường trồng lúa ngô... Hiện nay họ làm cả ruộng nước. Săn bắn, hái lượm và các nghề thủ công (chủ yếu là nghề rèn và đan lát) giữ vai trò quan trọng trong mỗi gia đình.

Tổ chức cộng đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ra glai sống thành từng pa-lây (buôn làng) trên khu đất cao, bằng phẳng và gần nguồn nước. Mỗi pa-lây thường gồm vài chục nóc nhà của một dòng họ. Số thành viên trong nhà thường gồm bố, mẹ và các con chưa lập gia đình. Đứng đầu pa-lây là pô pa-lây (trưởng làng), thường đó là người có công khai phá đất đầu tiên. Trưởng làng có trách nhiệm làm lễ cúng trời đất khi bị hạn hán nặng. Người có uy tín nhất dòng họ gọi là kây pa-lây (già làng).

Già làng Pi Năng Huỳnh từng là đại úy quân đội, 15 năm làm Bí thư huyện ủy Khánh Sơn (thôi chức năm 1987) và là người Ra glai đầu tiên tham gia Ban chấp hành Tỉnh ủy Khánh Hòa.

Hôn nhân gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Trong xã hội người Ra Glai còn tồn tại chế độ mẫu hệ, đàn ông sống trọn đời ở nhà vợ, con cái đều lấy họ mẹ, người phụ nữ lớn tuổi nhất trong gia đình được thừa hưởng tài sản. Mẹ hay vợ là chủ nhà có quyền quyết định trong gia đình. Cô gái nếu ưng thuận chàng trai nào thì nói với bố mẹ lo lễ cưới chồng. Trong hôn nhân ngoài quyền của người mẹ, tiếng nói của ông cậu khá quan trọng. Người Ra Glai có nhiều dòng họ: Chamalé hay Chăm Ma-Léc (tiếng Việt dịch là Mấu), Pi Năng (tiếng Việt dịch là Cau, đọc trại là Cao), KaTơr hay Ka-Tơ (tiếng Việt dịch là Bo Bo), Ha Vâu (tiếng Việt dịch là Tro), Patâu (tiếng Việt dịch là Đá, Thạch,...), Pu Pươi, Asah, Tala, Jack, Taing, Cao,... trong đó họ Chamalé là đông hơn cả. Mỗi họ đều có một sự tích, truyền thuyết kể về nguồn gốc của họ mình.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ra Glai có những trường ca, truyện thần thoại, truyện cổ tích mang giá trị lịch sử, nghệ thuật và có tính giáo dục sâu sắc.

Hình thức hát đối đáp khá phổ biến trong sinh hoạt văn nghệ. Nhạc cụ của người Ra Glai gồm nhiều loại, ngoài chiêng, cồng còn có đàn bầu, kèn môi, đàn ống tre...

Hàng năm sau mùa thu hoạch, cả làng hội tụ thịt trâu, bò, lợn để cúng Giàng và ăn mừng lúa mới.

Nhà cửa[sửa | sửa mã nguồn]

Một căn nhà sàn kiểu Raglai.

Nhà sàn là nhà ở truyền thống của người Ra Glai. Từ nền đất đến nhà sàn không cao quá một mét.

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Không có cá tính tộc người qua trang phục mà chịu ảnh hưởng khá đậm của các dân tộc trong cùng nhóm ngôn ngữ (như Chăm, Ê Đê...).

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Điều tra dân số 1999, bảng tính xls
  2. ^ a b Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.