Ngộ độc ethylene glycol

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Ngộ độc ethylene glycol
Đồng nghĩaEthylene glycol toxicity
Ethylene glycol.svg
Ethylene glycol
KhoaEmergency medicine
Triệu chứngSớm: Say thuốc, Nôn mửa, Đau bụng[1]
Sau đó: Altered level of consciousness, Đau đầu, Epileptic seizure[1]
Biến chứngSuy thận, Brain damage[1]
Nguyên nhânUống ethylene glycol[1]
Phương thức chẩn đoánCalcium oxalate crystals in the urine, Nhiễm toan or increased Osmol gap in the blood[1]
Điều trịAntidote, Thẩm phân máu[2]
Dược phẩm nội khoaFomepizole, Etanol[2]
Tần suất> 5,000 cases per year (US)[3]
Wikipedia không phải là một văn phòng y tế Phủ nhận y khoa 

Ngộ độc ethylene glycol là ngộ độc do uống ethylene glycol.[1] Các triệu chứng sớm bao gồm nhiễm độc, nôn mửađau bụng.[1] Các triệu chứng sau này có thể bao gồm giảm mức độ ý thức, đau đầu và co giật.[1] Kết quả lâu dài có thể bao gồm suy thận và tổn thương não.[1] Độc tính và tử vong có thể xảy ra sau khi uống dù chỉ một lượng nhỏ.[1]

Ethylene glycol là một chất lỏng không màu, không mùi, ngọt, thường được tìm thấy trong chất chống đông.[1] Ngộ độc có thể xảy ra do vô tình hoặc cố ý tự tử.[2] Khi cơ thể phân giải chất này, nó sẽ bị tách thành axit glycolicaxit oxalic gây ra phần lớn độc tính.[1][4] Chẩn đoán có thể bị nghi ngờ khi nhìn thấy tinh thể canxi oxalat trong nước tiểu hoặc khi nhiễm toan hoặc tăng khoảng cách osmol trong máu.[1] Chẩn đoán có thể được xác nhận bằng cách đo nồng độ ethylene glycol trong máu; tuy nhiên, nhiều bệnh viện không có khả năng thực hiện xét nghiệm này.[1]

Điều trị sớm làm tăng cơ hội có kết quả tốt.[2] Điều trị bao gồm việc cân bằng người bệnh, sau đó là sử dụng thuốc giải độc.[2] [2] Thuốc giải độc được ưu tiên là fomepizole với ethanol được sử dụng nếu không có sẵn.[2] Thẩm tách máu cũng có thể được sử dụng ở những nơi có tổn thương nội tạng hoặc mức độ nhiễm toan cao.[2] Các phương pháp điều trị khác có thể bao gồm natri bicarbonat, thiaminemagiê.[2]

Hơn 5000 trường hợp ngộ độc chất này xảy ra ở Hoa Kỳ mỗi năm.[3] Những người bị ảnh hưởng thường là người lớn và nam giới.[4] Tử vong do ethylene glycol đã được báo cáo vào đầu năm 1930.[5] Một đợt bùng phát tử vong vào năm 1937 do một loại thuốc trộn trong một hợp chất tương tự, diethylene glycol, dẫn đến Đạo luật Thực phẩm, Dược phẩm và Mỹ phẩm năm 1938 tại Hoa Kỳ bắt buộc phải có bằng chứng về sự an toàn trước khi thuốc mới được bán.[5] Các sản phẩm chống đông đôi khi có một chất làm cho nó thêm đắng để không khuyến khích trẻ em và các động vật khác uống nhưng điều này chưa được chứng minh thực sự có hiệu quả.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Kruse, JA (tháng 10 năm 2012). “Methanol and ethylene glycol intoxication.”. Critical Care Clinics 28 (4): 661–711. PMID 22998995. doi:10.1016/j.ccc.2012.07.002. 
  2. ^ a ă â b c d đ e ê Beauchamp, GA; Valento, M (tháng 9 năm 2016). “Toxic Alcohol Ingestion: Prompt Recognition And Management In The Emergency Department.”. Emergency medicine practice 18 (9): 1–20. PMID 27538060. 
  3. ^ a ă Naidich, Thomas P.; Castillo, Mauricio; Cha, Soonmee; Smirniotopoulos, James G. (2012). Imaging of the Brain: Expert Radiology Series (bằng tiếng Anh). Elsevier Health Sciences. tr. 960. ISBN 0323186475. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2017. 
  4. ^ a ă Ferri, Fred F. (2016). Ferri's Clinical Advisor 2017: 5 Books in 1 (bằng tiếng Anh). Elsevier Health Sciences. tr. 794. ISBN 9780323448383. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2017. 
  5. ^ a ă Shaw, Leslie M. (2001). The Clinical Toxicology Laboratory: Contemporary Practice of Poisoning Evaluation (bằng tiếng Anh). Amer. Assoc. for Clinical Chemistry. tr. 197. ISBN 9781890883539. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2017.