Bước tới nội dung

Nghệ thuật Lưỡng Hà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nghệ thuật Lưỡng Hà
Bức tượng Diorite của Gudea, hoàng tử của Lagash, được cúng dâng cho thần Ningishzida; 2120 BC (Third Dynasty of Ur|giai đoạn Neo-Sumerian); cao 46 cm, rộng 33 cm, sâu 22,5 cm. Gudea của Lagash nổi tiếng với nhiều tác phẩm chân dung, và nhiều bức tượng của ông đã được khai quật khắp Iraq.

Nghệ thuật Lưỡng Hà được lưu giữ trong các ghi chép từ thời các cộng đồng săn bắt hái lượm (thiên niên kỷ thứ 8 TCN) cho đến các nền văn hóa thời Đồ Đồng như Sumer, Akkad, BabylonAssyria. Sau đó, trong thời Đồ Sắt, các đế chế Tân Assyria và Tân Babylon kế tiếp nhau cai trị khu vực này. Được xem rộng rãi là cái nôi của nền văn minh, Lưỡng Hà đã mang lại nhiều thành tựu văn hóa quan trọng, trong đó có những ví dụ cổ xưa nhất là về chữ viết.

Nghệ thuật Lưỡng Hà sánh ngang với Ai Cập cổ đại về sự tráng lệ, tinh vi và cầu kỳ ở khu vực Tây Âu - Á, từ thiên niên kỷ thứ 4 TCN cho đến khi đế chế Ba Tư Achaemenid chinh phục vùng đất này vào thế kỷ 6 TCN. Trọng tâm của nghệ thuật Lưỡng Hà nằm ở nhiều hình thức điêu khắc bền vững bằng đáđất sét; số lượng tranh vẽ còn lại rất ít, nhưng những gì được bảo tồn cho thấy ngoại trừ một vài trường hợp,[1] hội họa chủ yếu được dùng cho các họa tiết hình học và hoa văn thực vật, trong khi phần lớn các tác phẩm điêu khắc cũng từng được tô màu. Ấn hình trụ được lưu giữ với số lượng lớn, nhiều chiếc có các cảnh chạm khắc phức tạp và tinh xảo dù kích thước rất nhỏ.

Nghệ thuật Lưỡng Hà còn tồn tại dưới nhiều hình thức: ấn hình trụ, các tượng tròn nhỏ, và các phù điêu với nhiều kích cỡ khác nhau, bao gồm cả những tấm phù điêu gốm đúc rẻ tiền dùng trong gia đình - một số mang tính tôn giáo, số khác dường như không.[2] Những chủ đề được ưa chuộng bao gồm: các vị thần, có thể đứng một mình hoặc đi kèm người thờ phụng; các loài động vật trong nhiều bối cảnh khác nhau: lặp lại theo hàng, đứng đơn lẻ, giao chiến với nhau hoặc với con người, đối xứng qua lại hoặc kèm theo con người hay thần linh trong mô típ “Chúa tể muông thú”, hoặc bên cạnh “Cây sự sống”.[3]

Các bia đá, lễ vật dâng hiến hay những tấm bia có thể nhằm tưởng niệm chiến thắng và mô tả yến tiệc cũng được tìm thấy trong các đền thờ; khác với những tấm bia chính thức, chúng thường thiếu các dòng chữ giải thích ý nghĩa;[4] Bia Kền Kền (Stele of the Vultures) là một ví dụ sớm về loại bia có khắc chữ,[5] trong khi Trụ đen Shalmaneser III (Black Obelisk of Shalmaneser III) là một tác phẩm muộn, có kích thước lớn và còn được bảo tồn tốt.[6]

Tiền sử Lưỡng Hà

[sửa | sửa mã nguồn]
Các địa điểm chính của Thời Kỳ Đồ Đá Trước Gốm (Pre-Pottery Neolithic) ở Vành Đai Màu Mỡ khoảng năm 7500 TCN. Phía bắc và tây bắc của Lưỡng Hà đã có người định cư; các khu vực còn lại, với lượng mưa không đủ, vẫn chưa được định cư.

Các vùng cao nguyên của Lưỡng Hà đã có người cư trú từ thời người Neanderthal, chẳng hạn như tại hang Shanidar (khoảng 65.000–35.000 năm trước), nhưng chưa phát hiện dấu vết nào về hoạt động sáng tạo nghệ thuật.[7][8] Những sản phẩm nghệ thuật đầu tiên của Lưỡng Hà chỉ xuất hiện tại khu vực Thượng Lưỡng Hà vào cuối thời kỳ Đồ Đá Mới, trong giai đoạn Đồ Đá Mới Tiền Gốm A, với các hình khắc đơn giản về con người và động vật, cũng như các công trình đá lớn (khoảng 9.500-8.000 TCN). Giai đoạn này tiếp nối thời kỳ phát triển sớm hơn tại Levant, như ở hang Hayonim, nơi đã tìm thấy những bức chạm khắc động vật chẳng hạn ngựa có niên đại từ thời kỳ Đá Cũ Thượng, vào khoảng 40.000-18.500 năm trước.[9][10]

Trong thời kỳ Tiền sử và Cổ đại Lưỡng Hà, khí hậu mát mẻ hơn so với Ai Cập hay lưu vực sông Ấn, khiến các thung lũng sông TigrisEuphrates khác xa so với vùng sa mạc ngày nay. Ở vùng cao nguyên, từng dải rừng đan xen với thảo nguyên và savan phong phú về hệ thực vật, đồng thời có nhiều loài động vật như dê, lợn rừng, hươu và cáo. Sau khi nông nghiệp ra đời, nông dân canh tác tại các thung lũng, nhưng cộng đồng lại sinh sống trên những ngọn đồi dễ phòng thủ hơn. Khác với Trung Quốc hay nền văn minh lưu vực sông Ấn, các ngôi làng ở Lưỡng Hà có hai hướng kinh tế: xuôi xuống đồng bằng để canh tác ngũ cốc và ngược lên vùng núi Anatolia giàu mỏ vàng, đồng. Các nền văn hóa Lưỡng Hà vì thế luôn trong trạng thái biến đổi vừa đem lại lợi thế vừa tạo ra nhiều thách thức.

Nghệ thuật thời Kỳ Đồ đá Mới trước gốm (khoảng 9000–7000 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]

Tân Đồ Đá Mới Tiền Gốm A

[sửa | sửa mã nguồn]
Người Urfa, từ Thượng Lưỡng Hà vào khoảng năm 9000 TCN là "tác phẩm điêu khắc kích thước thật tự nhiên lâu đời nhất của con người".[11] Bảo tàng Şanlıurfa.

Sau thời kỳ Hậu Kỳ Đá CũCận Đông, nhiều địa điểm thuộc giai đoạn Tân Đồ Đá Mới Tiền Gốm A (Pre-Pottery Neolithic A) đã được phát hiện tại Thượng Lưỡng Hà và vùng núi phía bắc giáp ranh Lưỡng Hà. Đặc biệt, vào khoảng năm 9000 TCN, trên thượng lưu sông Euphrates đã xuất hiện những công trình đá khổng lồ (megalith) cổ xưa nhất thế giới tại Göbekli Tepe,[12] cùng thời kỳ đó, nông nghiệp được biết đến lần đầu tiên tại Tell Abu Hureyra, một địa điểm thuộc văn hóa Natufian trước đó.[13]

Tại Göbekli Tepe, người ta đã phát hiện nhiều phù điêu mô tả động vật với phong cách hiện thực, cùng một số tác phẩm điêu khắc động vật và các mảnh phù điêu mô tả con người hoặc thần linh, có niên đại khoảng 9000 TCN. Tại một địa điểm gần đó, tượng Urfa Man có niên đại thuộc giai đoạn Tân Đồ Đá Mới Tiền Gốm (khoảng 9000 TCN) và được coi là “tác phẩm điêu khắc người kích thước thật có phong cách tự nhiên cổ xưa nhất”.[11] Một chút muộn hơn, những tượng người đầu tiên bằng đá và đất sét nung đã được tìm thấy tại các địa điểm khác ở Thượng Lưỡng Hà, chẳng hạn như Mureybet, có niên đại từ khoảng 8500-8000 TCN.[14]

Tân Đồ Đá Mới Tiền Gốm B

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào khoảng năm 8000 TCN, trong giai đoạn Tân Đồ Đá Mới Tiền Gốm B (Pre-Pottery Neolithic B), trước khi con người phát minh ra đồ gốm nhiều khu định cư sơ khai đã trở nên thành thạo trong việc chế tác những bình chứa tinh xảo và đẹp mắt từ đá, sử dụng các vật liệu như thạch cao (alabaster) hoặc granite, đồng thời dùng cát để tạo hình và đánh bóng. Các nghệ nhân tận dụng vân đá để đạt hiệu quả thẩm mỹ tối đa. Những hiện vật như vậy đã được tìm thấy rất nhiều dọc theo sông Euphrates thượng lưu ở khu vực ngày nay là đông Syria, đặc biệt tại địa điểm Bouqras.[15]

Tại đông bắc Lưỡng Hà, văn hóa Jarmo (khoảng 7500 TCN), với trung tâm là địa điểm Jarmo (Qal'at Jarmo), là một khu khảo cổ trước lịch sử nằm ở Iraq hiện đại, dưới chân dãy núi Zagros. Các cuộc khai quật cho thấy Jarmo là một cộng đồng nông nghiệp, có niên đại từ khoảng 7500 TCN, dựa vào hệ thống tưới tiêu từ mưa tự nhiên. Đây là giai đoạn trước khi con người mở rộng ra các đồng bằng phù sa ở trung tâm Lưỡng Hà. Jarmo tồn tại đồng thời với nhiều địa điểm Tân Đồ Đá Mới quan trọng khác như Jericho ở phía nam Levant, Çatalhöyük ở Anatolia hay Tell Sabi Abyad ở phía bắc Syria. Một số mảnh bình đá và lọ thạch cao (alabaster) cũng đã được tìm thấy tại Jarmo, có niên đại khoảng 7500 TCN, trước khi con người phát minh ra đồ gốm vào khoảng 7000 TCN.[16]

Những thí nghiệm đầu tiên với đồ gốm (khoảng 7000 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]
Sau giai đoạn Tân Đồ Đá Mới Tiền Gốm ban đầu từ tây bắc Lưỡng Hà đến Jarmo (các chấm đỏ, khoảng 7500 TCN), nghệ thuật Lưỡng Hà từ thiên niên kỷ thứ 7 đến thứ 5 tập trung xung quanh văn hóa Hassuna ở phía bắc, văn hóa Halaf ở tây bắc, văn hóa Samarra ở trung tâm Mesopotamia và văn hóa Ubaid ở đông nam, sau này mở rộng để bao phủ toàn bộ khu vực.

Các địa điểm phía bắc Lưỡng Hà như Tell Hassuna và Jarmo là một trong những địa điểm cổ xưa nhất ở Cận Đông nơi phát hiện đồ gốm xuất hiện trong các lớp khai quật mới nhất có niên đại từ thiên niên kỷ thứ 7 TCN.[16] Những sản phẩm gốm này được làm thủ công, có thiết kế đơn giản với thành dày, và được xử lý bằng dung môi thực vật. Ngoài ra còn có các tượng đất sét mang hình dạng động vật hoặc con người bao gồm cả các tượng phụ nữ mang thai, được coi là những nữ thần sinh sản, tương tự như Nữ Thần Mẹ của các văn hóa Tân Đồ Đá Mới sau này trong cùng khu vực.

Văn hóa Halaf (6000-5000 TCN, tây bắc Lưỡng Hà)

[sửa | sửa mã nguồn]

Đồ gốm được trang trí bằng các họa tiết hình học trừu tượng và các hoa văn, đặc biệt trong văn hóa Halaf, nơi nổi tiếng với các tượng đất sét liên quan đến sinh sản cũng được vẽ bằng các đường nét. Đất sét là vật liệu chủ yếu và phổ biến; các tượng được tạo hình thường được tô màu với các họa tiết đen. Những chiếc bình, đặc biệt là bình rót và bát, được chế tác tỉ mỉ và nhuộm màu, đã được trao đổi thương mại. Về màu sắc, đất sét chứa oxit sắt được pha loãng với các mức độ khác nhau hoặc trộn với các khoáng chất khác để tạo ra các sắc màu khác nhau.

Văn hóa Halaf cũng chứng kiến sự xuất hiện sớm nhất được biết đến của các con dấu in (stamp seals).[18] Chúng chủ yếu mang các họa tiết hình học.[18]

Các tượng phụ nữ liên quan đến sinh sản bằng đất sét có trang trí màu, có thể là các nữ thần, cũng xuất hiện trong giai đoạn này, khoảng 6000–5100 TCN.[19]

Văn hóa Hassuna (6000–5000 TCN, phía bắc Lưỡng Hà)

[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa Hassuna là một nền văn hóa khảo cổ thời Tân Đồ Đá Mới ở phía bắc Lưỡng Hà, có niên đại từ đầu thiên niên kỷ thứ sáu TCN. Văn hóa này được đặt theo tên địa điểm điển hình Tell Hassuna ở Iraq. Các địa điểm khác nơi tìm thấy hiện vật Hassuna bao gồm Tell Shemshara. Trang trí trên đồ gốm chủ yếu là các hình học, kèm theo một vài họa tiết dê núi (ibex).

Văn hóa Samarra (6000–4800 TCN, Trung Lưỡng Hà)

[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa Samarra là một nền văn hóa khảo cổ thời Đá và Đồng (Chalcolithic) ở phía bắc Lưỡng Hà, có niên đại khoảng 5500–4800 TCN. Văn hóa này phần nào trùng lắp với văn hóa Hassuna và giai đoạn đầu của văn hóa Ubaid.

Văn hóa Ubaid (khoảng 6500–3800 TCN, phía nam Lưỡng Hà)

[sửa | sửa mã nguồn]
Sự bành trướng về phía Bắc của nền văn hóa Ubaid sau khoảng năm 4500 TCN

Thời kỳ Ubaid (khoảng 6500–3800 TCN)[20] là một thời kỳ tiền sử của Lưỡng Hà. Tên gọi được đặt theo Tell al-'Ubaid ở phía nam Lưỡng Hà, nơi các cuộc khai quật lớn đầu tiên về hiện vật thời kỳ Ubaid được tiến hành, ban đầu bởi Henry Hall và sau đó bởi Leonard Woolley.[21]

Ở Nam Lưỡng Hà, thời kỳ này là giai đoạn sớm nhất được biết đến trên các đồng bằng phù sa, mặc dù có khả năng các giai đoạn sớm hơn tồn tại nhưng bị che khuất dưới lớp phù sa.[22] Ở phía nam, thời kỳ này kéo dài rất lâu từ khoảng 6500 đến 3800 TCN, trước khi bị thay thế bởi thời kỳ Uruk.[23]

Ở phía bắc Lưỡng Hà, văn hóa Ubaid mở rộng trong giai đoạn từ khoảng 5300 đến 4300 TCN. Nó được tiền nhiệm bởi thời kỳ Halaf và giai đoạn chuyển tiếp Halaf–Ubaid, và tiếp nối bởi thời kỳ Chalcolithic muộn. Thời kỳ mới này được gọi là Ubaid phương Bắc để phân biệt với Ubaid gốc ở phía nam Lưỡng Hà.[24]

Vào thời kỳ Ubaid 3 (khoảng 4500 TCN), nhiều hiện vật gốm Ubaid đã được phát hiện dọc theo Vịnh Ba Tư, xa tới Dilmun, nơi cũng tìm thấy đồ gốm của văn minh Thung lũng Ấn.[25]

Con dấu in (stamp seal) bắt đầu mô tả động vật theo phong cách cách điệu, và cũng xuất hiện hình ảnh đầu tiên được biết đến của “Chúa tể các loài vật” vào cuối thời kỳ, khoảng 4000 TCN.

Lịch sử Lưỡng Hà

[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Sumer (khoảng 4000–2270 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]

Sự trỗi dậy của văn hóa Sumer, không thuộc nhóm ngôn ngữ Semitic, kéo dài khoảng hai thiên niên kỷ, chứng kiến sự phát triển của các truyền thống nghệ thuật tinh xảo, cũng như sự phát minh ra chữ viết, ban đầu thông qua các ký hiệu hình tượng (pictographic), sau đó là chữ hình nêm (cuneiform).

Thời kỳ Tiền Triều đại: Uruk (khoảng 4000–3100 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]
Giai đoạn lịch sử, thời kỳ đầu của nền văn minh chữ viết bắt đầu với nền văn hóa thời kỳ Uruk (tập trung vào khu vực màu vàng) và thời kỳ Jemdet Nasr (màu nâu).

Thời kỳ Tiền Viết hoặc Uruk, được đặt theo tên thành phố Uruk ở miền nam Lưỡng Hà (khoảng 4000–3100 TCN), tồn tại từ giai đoạn thời kỳ Đồ Đồng tiền sử đến đầu thời kỳ Đồng Thau, tiếp nối sau thời kỳ Ubaid và được kế tiếp bởi thời kỳ Jemdet Nasr, thường có niên đại 3100–2900 TCN.[28] Thời kỳ này chứng kiến sự xuất hiện của đời sống đô thị ở Lưỡng Hà và những bước khởi đầu của nền văn minh Sumer,[29] cũng trong giai đoạn này, nghệ thuật Lưỡng Hà trải qua “thời kỳ sáng tạo vĩ đại” đầu tiên. Cũng trong giai đoạn này, nghệ thuật Mesopotamia trải qua “thời kỳ sáng tạo vĩ đại” đầu tiên.[30] Một chút sớm hơn, thành phố phía bắc Tell Brak, nay thuộc Syria, cũng chứng kiến quá trình đô thị hóa và xây dựng một ngôi đền mang ý nghĩa khu vực. Ngôi đền này được gọi là Đền Mắt (Eye Temple) do phát hiện nhiều “bức tượng mắt”, thực chất là các lễ vật, một loại đặc trưng riêng của địa điểm này. Đầu đá Tell Brak cao 7 inch cho thấy khuôn mặt được giản lược; các đầu tương tự còn được làm bằng thạch cao (gypsum). Những đầu này rõ ràng được gắn vào các cơ thể bằng gỗ, nhưng các cơ thể đó không còn tồn tại.[31] Giống như các ngôi đền ở phía nam, Đền Mắt được trang trí bằng các khảm hình nón, tạo từ những hình trụ đất sét dài khoảng bốn inch, được sơn màu khác nhau để tạo ra các họa tiết đơn giản.[32]

Các tác phẩm quan trọng từ các thành phố phía nam trong Sumer bao gồm Bình Warka và Kênh Uruk, với các cảnh phức tạp nhiều nhân vật, mô tả con người và động vật, cùng với Mặt nạ Warka. Đây là một đầu tượng thực tế hơn so với các ví dụ ở Tell Brak, cũng được chế tác để đặt trên cơ thể bằng gỗ; phần còn lại chỉ là khung cơ bản, lên đó được thêm các chi tiết đính màu, tóc dát vàng, sơn và trang sức.[33] Tượng có thể mô tả một nữ thần của đền thờ. Vỏ sò Tượng Guennol Lioness là một hiện vật nhỏ nhưng vô cùng ấn tượng, mô tả một sinh vật đầu sư tử, có thể xuất hiện từ đầu giai đoạn tiếp theo.

Có nhiều bình và đồ chứa bằng đá hoặc thạch cao (alabaster) được chạm khắc nổi sâu, cùng các phù điêu đá mô tả động vật, đều được thiết kế cho các đền thờ, nơi các bình này dùng để đựng lễ vật. Con dấu hình trụ rất tinh xảo và phức tạp, và dường như có ảnh hưởng đến các tác phẩm lớn hơn ở các giai đoạn sau. Các động vật được thể hiện thường là biểu tượng của các vị thần, một đặc điểm tiếp tục trong nghệ thuật Lưỡng Hà.[34] Vào cuối giai đoạn này, mặc dù nền kinh tế có sự mở rộng đáng kể, chất lượng nghệ thuật lại suy giảm, có lẽ do nhu cầu vượt quá khả năng cung ứng của các nghệ nhân..[35]

Các trao đổi nghệ thuật sơ khởi với Ai Cập (khoảng 3500–3200 TCN)
[sửa | sửa mã nguồn]
Vua Lưỡng Hà trên dao tiền sử Ai Cập (3400–3200 TCN)
Vua Lưỡng Hà với tư cách là Bậc thầy của các loài động vật (chi tiết), cho thấy ảnh hưởng của nghệ thuật Lưỡng Hà đối với Ai Cập vào thời kỳ đầu.[37]

Quan hệ giữa Ai Cập và Lưỡng Hà dường như phát triển từ thiên niên kỷ thứ 4 TCN, bắt đầu từ thời kỳ Uruk ở Lưỡng Hà và văn hóa Gerzean của Ai Cập tiền sử chưa có chữ viết (khoảng 3500–3200 TCN).[38] Ảnh hưởng có thể nhận thấy trong Nghệ thuật Tiền Triều đại của Ai Cập cổ đại, qua các sản phẩm nhập khẩu, và có thể cả trong việc chuyển giao chữ viết từ Lưỡng Hà sang Ai Cập[39] và tạo ra những điểm tương đồng “sâu sắc” trong những giai đoạn đầu của cả hai nền văn hóa.[40]

Các hiện vật và hình thức nghệ thuật đặc trưng của Lưỡng Hà đã xuất hiện ở Ai Cập trong giai đoạn này, cho thấy có sự trao đổi và tiếp xúc. Các mẫu thiết kế được các nghệ sĩ Ai Cập mô phỏng rất nhiều: “Vua–Lễ sĩ” Uruk với áo choàng và mũ rộng vành trong tư thế Chúa tể các loài vật, serpopard hay sepo-feline, các kỳ lân có cánh (griffin), rắn quấn quanh hoa hồng, thuyền với mũi cao, tất cả đều là đặc trưng của nghệ thuật Lưỡng Hà thời Uruk muộn (Uruk IV, khoảng 3350–3200 TCN). Hình ảnh “Vua–Lễ sĩ” tương tự xuất hiện trong nhiều tác phẩm nghệ thuật Lưỡng Hà vào cuối thời kỳ Uruk, như các Di vật Blau (Blau Monuments), con dấu hình trụ và các bức tượng.[41]

Thời kỳ Tiền Triều đại: Jemdet Nasr (3100–2900 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Jemdet Nasr kéo dài từ 3100 đến 2900 TCN. Nó được đặt theo địa điểm điển hình Tell Jemdet Nasr, nơi tập hợp các hiện vật đặc trưng của thời kỳ này lần đầu tiên được nhận diện. Phạm vi địa lý của thời kỳ này chỉ giới hạn ở miền nam–trung Iraq. Văn hóa Jemdet Nasr tiền sử cận đại là sự phát triển địa phương từ thời kỳ Uruk trước đó và tiếp tục sang thời kỳ Triều đại Sơ khai I. Thời kỳ này đặc trưng bởi các đồ gốm sơn màu đơn sắc và đa sắc lộng lẫy, cũng như sự xuất hiện của các phiến đất sét tiền hình nêm lớn, vượt xa chữ tượng hình ban đầu.

Trang phục Tiền Triều đại (4000–2700 TCN): váy kilts và “váy lưới” (net-dresses)

[sửa | sửa mã nguồn]

Loại trang phục sớm nhất được chứng thực trong nghệ thuật Sumer cổ không phải là kaunakes mà là một dạng "váy xếp ly" (kilts) hoặc “váy lưới” ôm sát phần thân dưới trong khi phần thân trên để trần.[42] Loại “váy lưới” sớm này trông giống vải dệt thông thường hơn nhiều so với kaunakes về sau, vốn trông giống lông cừu với phần eo và chân phồng rộng theo hình chuông.[42]

Thời kỳ Triều đại Sơ khai (2900–2350 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]
Cọc móng của Lugal-kisal-si, vua Uruk, khoảng 2380 TCN. Trên đó ghi: “Dành cho (nữ thần) Namma, vợ của (vị thần) An, Lugal-kisal-si, Vua Uruk, Vua Ur, đã dựng ngôi đền Namma này.”[43]

Thời kỳ Triều đại Sơ khai thường được niên đại từ 2900–2350 TCN. Mặc dù tiếp tục nhiều xu hướng trước đó, nghệ thuật của thời kỳ này nổi bật với việc nhấn mạnh các hình tượng người thờ phụng và các lễ sĩ dâng lễ vật, cùng các cảnh xã hội về tôn thờ, chiến tranh và đời sống Hoàng gia. Đồng trở thành một vật liệu quan trọng cho điêu khắc, mặc dù hầu hết các tác phẩm sau này có lẽ đã bị tái chế để lấy kim loại.[44] Rất ít các bức điêu khắc bằng đồng lớn như Đá Lintel Tell al-'Ubaid, rộng 2,59 mét và cao 1,07 mét.

Nhiều kiệt tác cũng được tìm thấy tại Nghĩa trang Hoàng gia ở Ur (khoảng 2650 TCN), bao gồm hai tượng “Dê đực trong bụi cây” (Ram in a Thicket), “Bò đồng” (Copper Bull) và đầu bò trên một trong các đàn Lyre của Ur.[45] Cái gọi là Chuẩn Ur (Standard of Ur), thực ra là một hộp khảm hoặc bộ các tấm khảm với chức năng chưa rõ, được trang trí tinh xảo với các họa tiết một phần mang tính tượng hình.[46]

Các phát hiện quan trọng của Thời kỳ Triều đại Sơ khai được tìm thấy qua các cuộc khai quật tại Ur diễn ra từ 1922 đến 1934. Những cuộc khai quật này do C. Leonard Woolley dẫn đầu, trong một dự án hợp tác giữa Bảo tàng Đại học PennsylvaniaBảo tàng Anh. Mặc dù các cuộc khai quật trải khắp Ur, Nghĩa trang Hoàng gia đã mang lại nhiều phát hiện nghệ thuật. Sir Woolley ghi nhận rằng một kỹ năng kỹ thuật quan trọng của người Sumer là sự phát triển và kiến thức về chế tác kim loại.[47] Yếu tố này xuất hiện xuyên suốt các phát hiện của Woolley, từ một dao găm đúc đến một trong những phát hiện nổi tiếng nhất của ông: bộ đôi “Dê đực trong bụi cây” hiện lưu giữ tại Bảo tàng Đại học Pennsylvania và Bảo tàng Anh.[48] Nhờ các phát hiện của Sir Woolley, chúng ta đã hiểu rõ hơn về nhiều khía cạnh của Ur hơn bao giờ hết, từ đời sống hàng ngày, kiến trúc, nghệ thuật, chính quyền cho đến tôn giáo. Sự hiểu biết mới này về văn hóa Lưỡng Hà được ghi lại qua các tài liệu khai quật của Sir Woolley, bao gồm mười tập “Ur Excavations” xuất bản năm 1927 và nhiều cuốn sách khác về các phát hiện của ông.[49] Những cuốn sách này là tài liệu vật lý, đóng vai trò là nguồn thông tin trực tiếp về Ur và Lưỡng Hà, đồng thời giúp phổ biến các phát hiện của ông và lan tỏa kiến thức về lịch sử Lưỡng Hà.

Một nhóm 12 bức tượng đền thờ, được biết đến với tên Kho Báu Tell Asmar (Tell Asmar Hoard) và nay đã bị tách rời, mô tả các vị thần, các lễ sĩ và người hiến dâng ở các kích thước khác nhau, nhưng tất cả đều theo cùng một phong cách cực kỳ giản lược. Tất cả đều có đôi mắt khảm rất to, nhưng bức tượng cao nhất, hình ảnh thờ chính mô tả vị thần địa phương, có đôi mắt khổng lồ mang lại cảm giác “sức mạnh dữ dội”.[50] Về sau trong thời kỳ này, phong cách hình học đã được thay thế bằng một phong cách tương phản mạnh, mang đến “sự thể hiện chi tiết các đặc điểm vật lý của đối tượng”; “Thay vì các khối rõ ràng, tương phản sắc nét, ta thấy các chuyển tiếp mềm mại và bề mặt được điều chỉnh tinh vi vô cùng”.

Thời kỳ Đế chế Akkad (khoảng 2271–2154 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]
Tấm Đá khắc Chiến thắng của Naram-Sin; 2255–2220 TCN; sa thạch đỏ với các mảng vàng (có thể là dấu hiệu bị cháy?); cao 200 cm, rộng 150 cm; hiện lưu giữ tại Louvre.

Đế chế Akkad là đế chế đầu tiên kiểm soát không chỉ toàn bộ Lưỡng Hà mà còn các vùng lãnh thổ khác ở Levant, từ khoảng 2271 đến 2154 TCN. Người Akkad không phải người Sumer và nói ngôn ngữ Semitic. Trong nghệ thuật, có sự nhấn mạnh lớn vào các vị vua của triều đại, đồng thời vẫn tiếp nối nhiều yếu tố nghệ thuật Sumer trước đó. Trong cả các tác phẩm lớn và nhỏ như con dấu mức độ hiện thực đã được tăng lên đáng kể,[53] nhưng các con dấu lại thể hiện “một thế giới nghiêm khắc đầy xung đột tàn nhẫn, nguy hiểm và bất định, nơi con người bị đặt dưới quyền lực không thể phản kháng của những vị thần xa xôi và đáng sợ, những vị thần mà họ phải phục vụ nhưng không thể yêu mến. Tâm trạng u ám này… vẫn là đặc trưng của nghệ thuật Lưỡng Hà…”[54]

Tấm Đá khắc Chiến thắng nổi tiếng của Vua Naram-Sin mô tả ông như một vị thần-vua (biểu tượng bằng mũ có sừng) đang leo lên ngọn núi, đứng trên các binh lính của mình và kẻ thù bị đánh bại là người Lullubi. Mặc dù tấm đá bị vỡ phần trên khi bị quân Elam của Shutruk-Nakhunte đánh cắp, nó vẫn thể hiện rõ rệt niềm tự hào, vinh quang và tính thần thánh của Naram-Sin. Tấm đá dường như phá vỡ truyền thống bằng cách sử dụng các tầng chéo liên tiếp để kể câu chuyện cho người xem, tuy nhiên các khung ngang truyền thống vẫn có thể thấy trên những mảnh nhỏ bị vỡ. Nó cao 2,01 m (6 foot 7 inch) và được làm từ sa thạch hồng.[55] Cũng từ triều đại này, phần chân trần và thân dưới của bức tượng đồng Bassetki thể hiện mức độ hiện thực chưa từng có, tương tự như đầu bằng đồng của một vị vua có râu uy nghi (hiện lưu giữ tại Louvre).

Đầu tượng tại Louvre là một bức tượng bán thân bằng đồng cỡ người thật, được tìm thấy ở Nineveh. Những đường xoăn và hoa văn tinh xảo của bộ râu cùng kiểu tóc phức tạp gợi lên quyền lực, địa vị hoàng tộc và sự giàu có, thể hiện hình mẫu lý tưởng của nam giới trong xã hội. Ngoài các giá trị thẩm mỹ, tác phẩm này còn đặc biệt vì đây là hiện vật điêu khắc rỗng đầu tiên được biết đến sử dụng kỹ thuật đúc mất sáp (lost-wax casting).[56] Có sự phá hủy có chủ ý ở phía bên trái của khuôn mặt và mắt, cho thấy bức tượng bán thân này đã bị cắt xén cố tình ở một thời kỳ sau nhằm thể hiện sự bài trừ chính trị.[57]

Thời kỳ Tân Sumer (khoảng 2112–2004 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự sụp đổ của Đế chế Akkad, một triều đại địa phương xuất hiện ở Lagash. Gudea, vị vua của Lagash (trị vì khoảng 2144–2124 TCN), là người bảo trợ lớn cho các ngôi đền mới vào đầu thời kỳ này, và có tổng cộng 26 bức tượng của Gudea, hầu hết khá nhỏ còn sót lại từ các ngôi đền được chế tác tinh xảo, chủ yếu từ đá diorite “đắt tiền và rất cứng”.

Cung điện Hoàng gia phía bắc của Mari đã tạo ra một số hiện vật quan trọng từ trước khoảng 1800 TCN, bao gồm cả Tượng Iddi-Ilum,[58] và những di tích bích họa cung điện Lưỡng Hà rộng lớn nhất còn sót lại.[1]

Nghệ thuật Tân Sumer của Triều đại thứ ba Ur đạt đến đỉnh cao mới, đặc biệt về mức độ hiện thực và sự tinh xảo trong chế tác.

Thời kỳ Amorite và Kassite (khoảng 2000–1100 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]
Phù điêu Burney từ thời kỳ Isin-Larsa hoặc Vương triều Babylon thứ nhất (thế kỷ 19–18 TCN), có thể khắc họa Ereshkigal hoặc Ishtar; đất sét; cao 49,5 cm, rộng 37 cm, dày 4,8 cm.
Tiêu đề "Rim-Sin, Vua của Larsa" trên bát đá: 𒀭𒊑𒅎𒀭𒂗𒍪 Rim-Sin 𒈗 Vua của 𒌓𒀕 Larsa

Lịch sử chính trị của giai đoạn gần 1000 năm này khá phức tạp, được đánh dấu bởi sự nổi lên của các nhà nước nói tiếng Semitic có nguồn gốc từ tây bắc Lưỡng Hà. Thời kỳ này bao gồm giai đoạn Amorite Isin-Larsa và Triều đại Babylon thứ nhất hay thời kỳ Babylon Cổ (khoảng 1830–1531 TCN), một khoảng thời gian dưới sự cai trị của người Kassite (khoảng 1531–1155 TCN) tiếp theo là các cuộc xâm lược của người Elam, trong khi Đế chế Assyria Trung kỳ (1392–934 TCN) phát triển ở phía bắc Lưỡng Hà. Giai đoạn này kết thúc với sự xuất hiện quyết định của Đế chế Tân Assyria dưới triều đại của Adad-nirari II, bắt đầu từ năm 911 TCN.

Thời kỳ Isin-Larsa (khoảng 2000–1800 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Isin-Larsa là một giai đoạn đầy biến động, được đánh dấu bởi sự gia tăng ảnh hưởng của người Amorite ở tây bắc Lưỡng Hà. Cuộc sống thường bất ổn, và các cuộc xâm lược của những dân tộc không phải Sumer là một chủ đề lặp đi lặp lại.

Triều đại Babylon đầu tiên (1830–1531 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thế kỷ 18 TCN, Hammurabi (1792–1750 TCN), vị vua Amorite của Babylon, đã biến Babylon thành một cường quốc lớn và cuối cùng chinh phục toàn bộ Lưỡng Hà và các vùng lân cận. Ông nổi tiếng với bộ luật của mình và những cuộc chinh phạt, nhưng cũng được biết đến nhờ khối lượng lớn các tài liệu còn tồn tại từ thời kỳ trị vì của ông. Trong giai đoạn này, Babylon trở thành một thành phố vĩ đại, thường là trung tâm quyền lực. Tuy nhiên, đây không phải là thời kỳ phát triển nghệ thuật rực rỡ, khi những kẻ xâm lược này không mang lại động lực nghệ thuật mới,[59] và nhiều tác phẩm nghệ thuật tôn giáo mang tính bảo thủ rõ rệt, có lẽ như một cách khẳng định có chủ ý các giá trị Sumer. Chất lượng chế tác thường thấp hơn so với các thời kỳ trước và sau. Một số tác phẩm “phổ biến” lại thể hiện mức độ hiện thực và chuyển động, chẳng hạn như bức tượng nhỏ của một vị thần bốn đầu đang bước đi từ Ishchali, được cho là thuộc giai đoạn từ 2000 đến 1600 TCN.[60]

Bức Phù điêu Burney là một tấm phù điêu đất nung bất thường, tinh xảo và tương đối lớn (50 × 38 cm) mô tả một nữ thần khỏa thân có cánh, chân giống chân chim săn mồi, cùng các con cú và sư tử đi kèm. Nó có niên đại từ thế kỷ 18 hoặc 19 TCN, và có thể được đúc. Các tác phẩm tương tự, như tượng nhỏ hoặc phù điêu các vị thần, được làm cho các bàn thờ trong nhà hoặc các đền thờ ven đường nhỏ, và những mẫu phù điêu đất nung nhỏ đúc sẵn có thể đã được bày bán làm quà lưu niệm từ các đền thờ.[61]

Bức “Lễ phong vương của Zimri-Lim”, hiện trưng bày tại Louvre, là một bức bích họa cung điện lớn và là di sản nổi bật còn sót lại của nghệ thuật tường Lưỡng Hà, mặc dù những bố cục tương tự có lẽ từng phổ biến trong các cung điện.

Sau khi Hammurabi qua đời, triều đại Babylon đầu tiên kéo dài thêm khoảng một thế kỷ rưỡi, nhưng đế chế của ông nhanh chóng tan rã, và Babylon một lần nữa trở thành một quốc gia nhỏ. Triều đại Amorite chấm dứt vào năm 1595 TCN, khi Babylonia rơi vào tay vua Hittite Mursilis, sau đó người Kassite tiếp quản quyền lực.

Kassites (1600–1155 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]

Quê hương gốc của người Kassite vẫn chưa được biết rõ, nhưng dường như nằm ở dãy núi Zagros, trong khu vực ngày nay là tỉnh Lorestan của Iran. Thời kỳ này nói chung không phải là giai đoạn đỉnh cao về chất lượng hình ảnh trên con dấu trụ; vào những thời điểm khác nhau, phần chữ khắc được chú trọng hơn hình ảnh, và sự đa dạng của các cảnh được thể hiện giảm đi, với “cảnh dâng lễ” của một vị vua trước một vị thần, hoặc một quan chức trước một vị vua ngồi, đôi khi trở thành tiêu chuẩn.[63] Đặc biệt từ thời kỳ Kassite, còn tồn tại nhiều bia đá kudurru, chủ yếu chứa các bản khắc ghi chép việc cấp đất, ranh giới, và các hồ sơ chính thức khác, nhưng thường đi kèm với hình tượng và biểu tượng của các vị thần hoặc vua; một ví dụ là sắc lệnh cấp đất của Meli-Shipak II.

Thời kỳ Assyria(khoảng 1500 – 612 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]

Một phong cách nghệ thuật Assyria, khác biệt với nghệ thuật Babylon – vốn là nghệ thuật chiếm ưu thế cùng thời ở Lưỡng Hà – bắt đầu xuất hiện khoảng năm 1500 TCN, trước khi đế chế của họ mở rộng bao gồm Sumer, và tồn tại cho đến khi Nineveh sụp đổ vào năm 612 TCN.

Pair of Lamassus, Nimrud

Việc Đế chế Tân-Assyria (911–609 TCN) chinh phục toàn bộ Lưỡng Hà cùng nhiều vùng lãnh thổ xung quanh đã tạo ra một nhà nước rộng lớn và giàu có hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đó, đồng thời phát triển nghệ thuật cực kỳ hoành tráng trong các cung điện và nơi công cộng, chắc chắn phần nào nhằm sánh ngang sự tráng lệ của nghệ thuật đế chế Ai Cập lân cận.

Từ khoảng năm 879 TCN, người Assyria phát triển một phong cách gồm các tấm phù điêu lớn, cực kỳ chi tiết, khắc nổi thấp trên đá hoặc thạch cao, ban đầu được sơn màu, dành cho cung điện. Các phù điêu này mô tả chính xác các hoạt động hoàng gia, chủ yếu là săn bắn và chiến tranh. Các hình động vật chiếm vị trí chủ đạo, đặc biệt là ngựa và sư tử, được tái hiện một cách lộng lẫy với chi tiết tuyệt vời.

Các hình người tương đối cứng và tĩnh, nhưng cũng được khắc chi tiết tỉ mỉ như trong các cảnh chiến thắng của các vụ bao vây, trận đánh và chiến đấu cá nhân. Trong số các phù điêu Assyria nổi tiếng nhất phải kể đến các cảnh “Săn Sư tử” của Ashurbanipal bằng thạch cao và các phù điêu Lachish thể hiện chiến dịch quân sự ở Palestine, cả hai đều thuộc thế kỷ 7 TCN, từ Nineveh và hiện trưng bày tại Bảo tàng Anh.[64] Các phù điêu cũng được khắc trực tiếp lên mặt đá, như tại Shikaft-e Gulgul, một phong cách mà người Ba Tư sau này tiếp tục phát triển.

Người Assyria tạo ra tương đối ít tác phẩm điêu khắc toàn khối, ngoại trừ một số ngoại lệ như các tượng lamassu khổng lồ – những sinh vật bảo vệ có đầu người và thân sư tử hoặc bò – được khắc nổi cao trên hai mặt của khối chữ nhật, với phần đầu gần như điêu khắc tròn đầy đủ (và thường có năm chân, để cả hai góc nhìn đều hoàn chỉnh). Những tác phẩm này đánh dấu các cổng thành hoàng gia kiên cố, một dạng kiến trúc phổ biến khắp Tiểu Á. Chỉ có một bức tượng phụ nữ khỏa thân được biết đến.

Hình thức Assyria về các sinh vật thần kỳ có cánh – những thần linh cánh với đầu người có râu xuất hiện trong các phù điêu đã ảnh hưởng đến nghệ thuật Hy Lạp cổ đại. Trong giai đoạn “hướng phương Đông” của mình, nghệ thuật Hy Lạp đã thêm vào các sinh vật huyền thoại có cánh như Chimera, Griffin, ngựa có cánh (Pegasus) và người (Talos).[65] Nhiều hình thể cầm xô và hình nón.

Ngay cả trước khi trở thành thế lực thống trị khu vực, người Assyria vẫn tiếp tục truyền thống con dấu hình trụ, với các họa tiết thường thể hiện sức sống mạnh mẽ và sự tinh xảo đáng kể.[64] Tại Nimrud, các đồ ngà Nimrud được chạm khắc và các bát đồng được tìm thấy, trang trí theo phong cách Assyria nhưng được sản xuất ở nhiều khu vực khác nhau của Cận Đông, trong đó nhiều món do các nghệ nhân Phoenicia và Aram tạo ra.

Thời kỳ Tân Babylon (626–539 TCN)

[sửa | sửa mã nguồn]
The reconstruction of the Ishtar Gate in the Pergamon Museum (Berlin)

Cổng Ishtar nổi tiếng, một phần hiện được phục dựng tại Bảo tàng PergamonBerlin, là lối vào chính của Babylon được xây dựng khoảng năm 575 TCN dưới triều đại Nebuchadnezzar II, vua của Đế chế Neo-Babylon, người đã lưu đày người Do Thái; đế chế này tồn tại từ 626 TCN đến 539 TCN. Các bức tường bao quanh lối vào được trang trí bằng hàng loạt các động vật chạm nổi trên gạch men nhờ đó giữ được màu sắc. Những con sư tử, rồng và bò được thể hiện. Cổng này là một phần của một dự án lớn hơn cho con đường rước lễ vào thành phố, mà các phần của nó hiện có ở nhiều bảo tàng khác.[66] Trong suốt thời kỳ này, các cổng gỗ lớn được gia cố và trang trí bằng các dải kim loại ngang lớn, thường có chạm nổi, một số trong đó vẫn còn tồn tại, chẳng hạn như các cổng Balawat.

Các loại hình nghệ thuật truyền thống khác vẫn tiếp tục được sản xuất, và người Neo-Babylon rất chú trọng khẳng định di sản cổ xưa của mình. Nhiều con dấu tinh xảo và được chạm khắc công phu vẫn còn tồn tại. Sau khi Lưỡng Hà rơi vào tay Đế chế Achaemenid của Ba Tư, vốn có truyền thống nghệ thuật đơn giản hơn nhiều nghệ thuật Lưỡng Hà cùng với nghệ thuật Hy Lạp cổ đại trở thành nguồn ảnh hưởng chính đối với phong cách Achaemenid đa văn hóa phát triển sau đó,[67] nhiều yếu tố cổ xưa vẫn được giữ lại trong khu vực ngay cả trong nghệ thuật Hy Lạp hóa xuất hiện sau khi Alexander Đại đế chinh phục vùng đất này.

Đặc trưng

[sửa | sửa mã nguồn]

Nơi thờ tự trung tâm là ziggurat, một kim tự tháp bậc thang với cầu thang dẫn lên bàn thờ, nơi người hành lễ nâng bản thân gần hơn với trời.

Các tác phẩm điêu khắc, chủ yếu có kích thước nhỏ, là những di sản nghệ thuật còn tồn tại chính. Trong giai đoạn cuối, các tác phẩm điêu khắc Assyria cho cung điện thường rất lớn. Hầu hết các tượng Sumer và Akkad đều ở tư thế cầu nguyện. Các loại đá chính được sử dụng là đá vôi và thạch cao.

Zainab Bahrani cho rằng nghệ thuật thị giác ở Babylonia và Assyria không nhằm mục đích đơn giản là mô phỏng hay sao chép thực tại; mục tiêu là tạo ra một hình tượng thay thế cho thực thể thật. Hình tượng này sau đó được nhận thức như một phần của thực tại.[68]

Kiến trúc

[sửa | sửa mã nguồn]

Lưỡng Hà cổ đại được biết đến nhiều nhất với các công trình xây dựng bằng gạch bùn và việc xây dựng các ziggurat, chiếm vị trí nổi bật trong mỗi thành phố và bao gồm một gò nhân tạo thường nhô lên theo các bậc thang lớn trên cùng là một ngôi đền. Gò này chắc chắn nhằm nâng đền lên vị trí uy nghi trong một thung lũng sông vốn bằng phẳng. Thành phố lớn Uruk có nhiều khu vực thờ tự, chứa nhiều ngôi đền lớn và tham vọng hơn bất kỳ công trình nào từng biết đến trước đó.[69]

Từ “ziggurat” là dạng Anh hóa của từ Akkad ziqqurratum, tên gọi dành cho các tháp bậc thang vững chắc xây bằng gạch bùn. Nó bắt nguồn từ động từ zaqaru (“cao lên”). Các công trình này được mô tả như những ngọn núi nối Trái Đất và thiên đường.

Ziggurat của Ur, do Leonard Woolley khai quật, có kích thước cơ sở 64 x 46 mét và ban đầu cao khoảng 12 mét với ba tầng. Nó được xây dưới triều đại Ur-Nammu (khoảng 2100 TCN) và được xây lại dưới triều Nabonidus (555–539 TCN), khi chiều cao có thể được tăng lên khoảng bảy tầng.[70]

Các cung điện Assyria có một sân công cộng rộng lớn, với dãy phòng ở phía đông và một loạt đại sảnh yến tiệc ở phía nam. Đây trở thành bố cục truyền thống của các cung điện Assyria, được xây dựng và trang trí nhằm tôn vinh nhà vua. Số lượng lớn các món đồ nội thất bằng ngà voi cũng được tìm thấy trong một số cung điện.

Trang sức

[sửa | sửa mã nguồn]
Necklace; 2600–2500 TCN; gold and lapis lazuli; length: 22.5 cm; Royal Cemetery at Ur, Iraq

Các thiết kế trang sức ưa chuộng ở Lưỡng Hà là các họa tiết lấy cảm hứng từ thiên nhiên và hình học, như lá, nón, xoắn ốc và chùm nho. Trang sức Sumer và Akkad được chế tác từ lá vàng và bạc, nạm nhiều loại đá bán quý (chủ yếu là mã não, carnelian, jasper, lapis lazuli và chalcedony). Nhiều tài liệu cũng được tìm thấy liên quan đến thương mại và sản xuất trang sức từ các khu định cư Sumer.

Ở các giai đoạn sau, những người thợ kim hoàn Lưỡng Hà sử dụng các kỹ thuật chế tác kim loại tinh xảo như cloisonné, khắc, granulation và filigree. Số lượng và kích thước đa dạng của vòng cổ, vòng tay, vòng chân, mặt dây chuyền và ghim cài có thể phản ánh việc trang sức được cả nam, nữ và thậm chí trẻ em đeo.

Sưu tập

[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ sưu tập quan trọng bao gồm Bảo tàng Louvre, Bảo tàng Vorderasiatisches (Berlin, Đức), Bảo tàng Anh (Luân Đôn), Bảo tàng Nghệ thuật Lưỡng Hà (New York) và Bảo tàng Quốc gia Iraq (Baghdad). Bảo tàng sau đã bị cướp phá rộng rãi sau sự sụp đổ của trật tự pháp luật sau cuộc xâm lược Iraq năm 2003, nhưng các hiện vật quan trọng nhất phần lớn đã được thu hồi.

Một số bảo tàng khác cũng có các bộ sưu tập đáng chú ý, đặc biệt là các ấn trụ rất nhiều. Các bảo tàng ở Syria có các bộ sưu tập quan trọng từ các di chỉ ở Syria hiện đại. Các bảo tàng khác có bộ sưu tập nghệ thuật Lưỡng Hà quan trọng bao gồm: Viện Đông Phương Chicago, Bảo tàng Khảo cổ Istanbul (Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ), Bảo tàng Khảo cổ và Nhân loại học Đại học Pennsylvania, Rijksmuseum van Oudheden (Leiden, Hà Lan) và Bảo tàng Israel (Jerusalem). Cổng Ishtar được tái dựng hiện lưu giữ tại Bảo tàng Pergamon ở Berlin.

Tài liệu tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Trích dẫn

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b Frankfort, 124-126
  2. ^ Frankfort, Chapters 2–5
  3. ^ Convenient summaries of the typical motifs of cylinder seals in the main periods are found throughout in Teissier
  4. ^ Frankfort, 66–74
  5. ^ Frankfort, 71–73
  6. ^ Frankfort, 66–74; 167
  7. ^ Murray, Tim (2007). Milestones in Archaeology: A Chronological Encyclopedia (bằng tiếng Anh). ABC-CLIO. tr. 454. ISBN 9781576071861. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2019.
  8. ^ Edwards, Owen (tháng 3 năm 2010). "The Skeletons of Shanidar Cave". Smithsonian. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2014.
  9. ^ Yiśraʼel (Jerusalem), Muzeʼon; Museum (Jerusalem), Israel (1986). Treasures of the Holy Land: Ancient Art from the Israel Museum (bằng tiếng Anh). Metropolitan Museum of Art. tr. 29. ISBN 9780870994708. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2019.
  10. ^ Israel Museum Studies in Archaeology [Nghiên cứu của Bảo tàng Israel về Khảo cổ học] (bằng tiếng Anh). 2002. tr. 10.
  11. ^ a b Chacon, Richard J.; Mendoza, Rubén G. (2017). Feast, Famine or Fighting?: Multiple Pathways to Social Complexity (bằng tiếng Anh). Springer. tr. 120. ISBN 9783319484020. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2019.
  12. ^ Sagona, Claudia (ngày 25 tháng 8 năm 2015). The Archaeology of Malta (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 47. ISBN 9781107006690. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2016.
  13. ^ "The Earliest Uses of Clay in Syria | Expedition Magazine". www.penn.museum. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2019.
  14. ^ Otte, Marcel (ngày 18 tháng 11 năm 2008). La protohistoire (bằng tiếng Pháp). De Boeck Supérieur. ISBN 978-2-8041-5923-8.
  15. ^ "Metropolitan Museum of Art". www.metmuseum.org. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2019.
  16. ^ a b Maisels, Charles Keith (2003). The Emergence of Civilisation: From Hunting and Gathering to Agriculture, Cities and the State of the Near East (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 104–105. ISBN 9781134863280. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2019.
  17. ^ "Site officiel du musée du Louvre". cartelfr.louvre.fr. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2019.
  18. ^ a b Brown, Brian A.; Feldman, Marian H. (2013). Critical Approaches to Ancient Near Eastern Art (bằng tiếng Anh). Walter de Gruyter. tr. 304. ISBN 9781614510352. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019.
  19. ^ "Site officiel du musée du Louvre". cartelfr.louvre.fr. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019.
  20. ^ Carter, Robert A. and Philip, Graham Beyond the Ubaid: Transformation and Integration in the Late Prehistoric Societies of the Middle East (Studies in Ancient Oriental Civilization, Number 63) Lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2013 tại Wayback Machine The Oriental Institute of the University of Chicago (2010) ISBN 978-1-885923-66-0 p. 2; "Radiometric data suggest that the whole Southern Mesopotamian Ubaid period, including Ubaid 0 and 5, is of immense duration, spanning nearly three millennia from about 6500 to 3800 B.C."
  21. ^ Hall, Henry R. and Woolley, C. Leonard. 1927. Al-'Ubaid. Ur Excavations 1. Oxford: Oxford University Press.
  22. ^ Adams, Robert MCC. and Wright, Henry T. 1989. 'Concluding Remarks' in Henrickson, Elizabeth and Thuesen, Ingolf (eds.) Upon This Foundation - The ’Ubaid Reconsidered. Copenhagen: Museum Tusculanum Press. pp. 451–456.
  23. ^ Carter, Robert A. and Philip, Graham. 2010. 'Deconstructing the Ubaid' in Carter, Robert A. and Philip, Graham (eds.) Beyond the Ubaid: Transformation and Integration in the Late Prehistoric Societies of the Middle East. Chicago: The Oriental Institute of the University of Chicago. p. 2.
  24. ^ Susan Pollock; Reinhard Bernbeck (2009). Archaeologies of the Middle East: Critical Perspectives. tr. 190. ISBN 9781405137232. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2019.
  25. ^ Stiebing, William H. Jr. (2016). Ancient Near Eastern History and Culture (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 85. ISBN 9781315511160. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2019.
  26. ^ The Looting Of The Iraq Museum Baghdad The Lost Legacy Of Ancient Mesopotamia. 2005. tr. Chapter III.
  27. ^ "Site officiel du musée du Louvre". cartelfr.louvre.fr. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019.
  28. ^ Crawford 2004, tr. 69
  29. ^ Crawford 2004, tr. 75
  30. ^ Frankfort, 27
  31. ^ Frankfort, 241-242
  32. ^ Frankfort, 24, 242
  33. ^ Frankfort, 24-28, 31-32
  34. ^ Frankfort, 28-37
  35. ^ Frankfort, 36-39
  36. ^ "Vorderasiatisches Museum Berlin". repository.edition-topoi.org. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2019.
  37. ^ url=https://web.archive.org/web/20210618131255/https://books.google.com/books?id=z0NwDwAAQBAJ&pg=PA424 |url-status=live }}
  38. ^ Shaw, Ian. & Nicholson, Paul, The Dictionary of Ancient Egypt, (London: British Museum Press, 1995), p. 109.
  39. ^ Mitchell, Larkin. "Earliest Egyptian Glyphs". Archaeology. Archaeological Institute of America. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2012.
  40. ^ Hartwig, Melinda K. (2014). A Companion to Ancient Egyptian Art (bằng tiếng Anh). John Wiley & Sons. tr. 427. ISBN 9781444333503. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2019.
  41. ^ Collon, Dominique (1995). Ancient Near Eastern Art (bằng tiếng Anh). University of California Press. tr. 51–53. ISBN 9780520203075. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2019.
  42. ^ a b Crawford, Harriet (2013). The Sumerian World (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 703–705. ISBN 978-1-136-21911-5. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2020.
  43. ^ Art of the First Cities: The Third Millennium B.C. from the Mediterranean to the Indus (bằng tiếng Anh). Metropolitan Museum of Art. 2003. tr. 64–65. ISBN 978-1-58839-043-1. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2020.
  44. ^ Frankfort, 55
  45. ^ Frankfort, 61–66
  46. ^ Frankfort, 71-76
  47. ^ Woolley, C. Leonard (1933). "Excavations at Ur". Journal of the Royal Society of Arts. 82 (4227): 46–59. ISSN 0035-9114.
  48. ^ ""Ram In the Thicket" - Near East Section Highlights - Penn Museum". www.penn.museum. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2024.
  49. ^ "Ur | Mesopotamia, Map, Definition, History, & Facts | Britannica". www.britannica.com (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2024.
  50. ^ Frankfort, 46-49; the group are now divided between the Metropolitan Museum, New York, Oriental Institute, Chicago, and the National Museum of Iraq (with the god).
  51. ^ Louvre Lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2017 tại Wayback Machine Pouysségur, Patrick , ed. "Perforated Relief of King Ur-Nanshe." Louvre Museum. Louvre Museum. Web. 13 Mar 2013.
  52. ^ Parrot, André (1953). "Les fouilles de Mari Huitième campagne (automne 1952)". Syria. 30 (3/4): 196–221. doi:10.3406/syria.1953.4901. ISSN 0039-7946. JSTOR 4196708.
  53. ^ Frankfort, 83–91
  54. ^ Frankfort, 91
  55. ^ Kleiner, Fred (2005). Gardner's Art Through The Ages. Thomson-Wadsworth. tr. 41. ISBN 0-534-64095-8.
  56. ^ Stokstad, Marilyn (2018). Art History. Upper Saddle River: Pearson. tr. 36. ISBN 9780134479279.
  57. ^ Nylander, Carl (tháng 7 năm 1980). "Earless in Nineveh: Who Mutilated 'Sargon's' Head?". American Journal of Archaeology. 84 (3): 329–333. doi:10.2307/504709. JSTOR 504709. S2CID 193037843.
  58. ^ Frankfort, 114–119
  59. ^ Frankfort, 127
  60. ^ Roux, Georges (1992). Ancient Iraq (bằng tiếng Anh). Penguin Books Limited. tr. 204. ISBN 9780141938257. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2019.
  61. ^ Frankfort, 110–112
  62. ^ Roux, Georges (ngày 27 tháng 8 năm 1992), "The Time of Confusion", Ancient Iraq, Penguin Books, tr. 266, ISBN 9780141938257, lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2019, truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019
  63. ^ Frankfort, 102-126
  64. ^ a b Frankfort, 141–193
  65. ^ Frankfort, 205
  66. ^ Frankfort, 203–205
  67. ^ Frankfort, 348-349
  68. ^ Aviram, Joseph; Gitin, Seymour; Mazar, Amihai; Geva, Hillel; Paris, Alan; Carmon, Efrat; Israel exploration society; Institute of archaeology (2011). ʾEreṣ-Yiśraʾel: meḥqariym biydiyʿat haʾareṣ wʿatiyqwteyha (bằng tiếng Quechua). Yrwšalayim: haḤebrah laḥaqiyrat ʾEreṣ-Yiśraʾel wʿatiyqwteyha haʾWniybersiyṭah haʿibriyt biYrwšalayim, haMakwn lʾarkeʾwlwgyah. ISBN 978-965-221-084-5.
  69. ^ Risebero, Bill (2018). The Story of Western Architecture (bằng tiếng Anh). Bloomsbury. tr. 13. ISBN 978-1-3500-9212-9.
  70. ^ "Gods and Goddesses". Mesopotamia.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2015.