Bước tới nội dung

Nghi Sơn (thị xã)

19°27′13″B 105°43′38″Đ / 19,45361°B 105,72722°Đ / 19.45361; 105.72722
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nghi Sơn
Thị xã
Bình minh trên bãi biển Hải Hòa

Tên cũTĩnh Gia
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
VùngBắc Trung Bộ
TỉnhThanh Hóa
Thành lập1/6/2020
Giải thể1/7/2025
Loại đô thịLoại IV
Năm công nhận2019[1]
Địa lý
Tọa độ: 19°27′13″B 105°43′38″Đ / 19,45361°B 105,72722°Đ / 19.45361; 105.72722
Bản đồBản đồ thị xã Nghi Sơn
Nghi Sơn trên bản đồ Việt Nam
Nghi Sơn
Nghi Sơn
Vị trí thị xã Nghi Sơn trên bản đồ Việt Nam
Diện tích455,61 km²[2]
Dân số (2022)
Tổng cộng302.210 người[2]
Thành thị179.837 người (59,51%)
Nông thôn122.373 người (40,49%)
Mật độ663 người/km²
Dân tộcKinh,...
Khác
Mã hành chính407[3]
Mã bưu chính427xx
Biển số xe36-C1/BK

Nghi Sơn là một thị xã ven biển cũ nằm ở phía đông nam tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam.

Vị trí địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Thị xã Nghi Sơn có vị trí địa lý:

Địa hình của thị xã thuộc loại bán sơn địa, bao gồm những hang động, đồng bằng và đường bờ biển dài. Thị xã cũng có một số hòn đảo nhỏ, 3 cửa lạch, 2 cảng biển lớn. 12% dân số là Kitô hữu.

Đây là địa phương có tuyến đường cao tốc Quốc lộ 45 – Nghi Sơn và tuyến đường cao tốc Nghi Sơn – Diễn Châu đi qua.

Khí hậu

[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Thị xã Nghi Sơn trước đây vốn là huyện Tĩnh Gia thuộc tỉnh Thanh Hóa.

Vào thời Hùng Vương, Tĩnh Gia thuộc bộ Cửu Chân, một trong 5 bộ của nước Văn Lang. Thời kỳ văn hóa Đông Sơn (cách ngày nay hơn 2000 năm), các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở núi Chè (Mai Lâm) các công cụ bằng đồng của người Việt cổ. Thời An Dương Vương, thuộc đất Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương.

Thời thuộc Hán, Tĩnh Gia thuộc huyện Cư Phong của quận Cửu Chân. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), vua Lê Thánh Tông đặt tên là huyện Ngọc Sơn do phủ Tĩnh Ninh kiêm lý.

Đến Thời Nguyễn, đầu thế kỷ XIX (khoảng giữa đời Gia Long), huyện Ngọc Sơn bao gồm 4 tổng là: Văn Trinh, Văn Trường, Liên Trì và Duyên La gồm 220 xã, thôn, trang, phường, tộc, giáp. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), huyện Ngọc Sơn bao gồm 4 tổng nói trên và thêm 2 tổng mới do tách từ Văn Trường và Văn Trinh thành 6 tổng gồm 245 xã, thôn, phường, giáp. Năm 1838, vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính, một số huyện ở Thanh Hóa có sự tách nhập, thay đổi tên gọi. Các huyện Ngọc Sơn, Nông Cống, Quảng Xương gộp thành phủ Tĩnh Gia. Cuối thời Nguyễn, phủ Tĩnh Gia chỉ bao gồm địa giới huyện Ngọc Sơn. Đến trước Cách mạng tháng Tám, tổng Văn Trinh được nhập về Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia còn 5 tổng là Văn Trường, Yên Thái, Sen Trì, Văn Trai và Tuần La bao gồm 206 làng, thôn.

Sau Cách mạng Tháng Tám, huyện Tĩnh Gia gồm 35 xã: Anh Sơn, Bình Minh, Các Sơn, Định Hải, Hải An, Hải Bình, Hải Châu, Hải Hòa, Hải Lĩnh, Hải Nhân, Hải Ninh, Hải Thanh, Hải Thượng, Hải Yến, Hùng Sơn, Mai Lâm, Ngọc Lĩnh, Nguyên Bình, Ninh Hải, Tân Dân, Thanh Thủy, Thanh Sơn, Tĩnh Hải, Triều Dương, Trúc Lâm, Trường Giang, Trường Lâm, Trường Minh, Trường Sơn, Trường Trung, Tùng Lâm, Tượng Lĩnh, Tượng Sơn, Tượng Văn, Xuân Lâm.

Ngày 16 tháng 12 năm 1964, sáp nhập 7 xã: Trường Minh, Trường Trung, Trường Giang, Trường Sơn, Tượng Văn, Tượng Lĩnh, Tượng Sơn vào huyện Nông Cống.[5]

Ngày 21 tháng 4 năm 1965, thành lập xã Tân Trường.

Ngày 15 tháng 3 năm 1973, thành lập xã Phú Lâm.

Ngày 29 tháng 8 năm 1980, chuyển xã Phú Sơn thuộc huyện Như Xuân (tách ra từ xã Thanh Kỳ) về huyện Tĩnh Gia quản lý.[6]

Ngày 14 tháng 12 năm 1984, chia xã Hải Thượng thành 3 xã Hải Thượng, Hải Hà, Nghi Sơn. Đồng thời thành lập thị trấn Tĩnh Gia (thị trấn huyện lỵ của huyện Tĩnh Gia) trên cơ sở tách một phần các xã Bình Minh, Hải Hòa, Hải Nhân và Nguyên Bình.[7]

Ngày 7 tháng 12 năm 2016, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 1300/QĐ-BXD về việc công nhận thị trấn Tĩnh Gia mở rộng đạt tiêu chuẩn đô thị loại III.[8][9]

Ngày 23 tháng 9 năm 2019, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 788/QĐ-BXD về việc công nhận huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV.[1]

Ngày 1 tháng 12 năm 2019, sáp nhập xã Hùng Sơn vào xã Các Sơn, sáp nhập xã Triêu Dương vào xã Hải Ninh, sáp nhập xã Hải Hòa vào thị trấn Tĩnh Gia.

Sau khi sắp xếp các đơn vị hành chính, huyện Tĩnh Gia có thị trấn Tĩnh Gia (huyện lỵ) và 30 xã: Anh Sơn, Bình Minh, Các Sơn, Định Hải, Hải An, Hải Bình, Hải Châu, Hải Hà, Hải Hòa, Hải Lĩnh, Hải Nhân, Hải Ninh, Hải Thanh, Hải Thượng, Hải Yến, Mai Lâm, Nghi Sơn, Ngọc Lĩnh, Nguyên Bình, Ninh Hải, Phú Lâm, Phú Sơn, Tân Dân, Tân Trường, Thanh Sơn, Thanh Thủy, Trúc Lâm, Trường Lâm, Tùng Lâm, Xuân Lâm.

Ngày 1 tháng 6 năm 2020, thành lập thị xã Nghi Sơn trên cơ sở huyện Tĩnh Gia, thành lập phường Hải Hòa trên cơ sở thị trấn Tĩnh Gia, thành lập 15 phường: Bình Minh, Hải An, Hải Bình, Hải Châu, Hải Lĩnh, Hải Ninh, Hải Thanh, Hải Thượng, Mai Lâm, Nguyên Bình, Ninh Hải, Tân Dân, Tĩnh Hải, Trúc Lâm, Xuân Lâm trên cơ sở 15 xã có tên tương ứng.

Ngày 1 tháng 1 năm 2025, giải thể xã Hải Yến (do nhường đất cho dự án Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn); đồng thời:

  • Chuyển phần diện tích trong Nhà máy của phường Tĩnh Hải và xã Hải Yến, phần diện tích phía nam Nhà máy của phường Tĩnh Hải về phường Mai Lâm
  • Nhập phần diện tích và dân số phía bắc Nhà máy của thôn Bắc Yến, xã Hải Yến vào phường Tĩnh Hải
  • Nhập phần diện tích và dân số phía nam Nhà máy của thôn Nam Yến, xã Hải Yến vào phường Hải Thượng
  • Chuyển dân cư của xã Hải Yến đã tái định cư tại phường Nguyên Bình về phường Nguyên Bình quản lý.[2]

Sau sắp xếp, thị xã Nghi Sơn có 16 phường và 14 xã.

Xã, phường thuộc thị xã Nghi Sơn trước khi thị xã bị giải thể
Tên Diện tích (km²) Dân số (người)
Phường (16)
Bình Minh 6,40 8.175
Hải An 6,26 7.064
Hải Bình 9,54 14.986
Hải Châu 9,08 12.036
Hải Hòa 7,62 16.879
Hải Lĩnh 8,43 7.449
Hải Ninh 10,16 18.825
Hải Thanh 2,67 20.997
Hải Thượng 27,32 11.681
Mai Lâm 22,76 10.020
Nguyên Bình 33,25 16.310
Ninh Hải 6,32 6.629
Tân Dân 9,64 7.222
Tĩnh Hải 5,44 8.784
Trúc Lâm 15,52 7.774
Xuân Lâm 9,60 10.327
Tên Diện tích (km²) Dân số (người)
Xã (14)
Anh Sơn 10,82 5.992
Các Sơn 36,06 15.012
Định Hải 26,43 3.801
Hải Hà 12,22 10.773
Hải Nhân 15,49 11.676
Nghi Sơn 3,28 9.660
Ngọc Lĩnh 8,69 7.479
Phú Lâm 19,19 4.468
Phú Sơn 34,46 5.852
Tân Trường 37,29 9.763
Thanh Sơn 9,38 8.707
Thanh Thủy 9,54 7.462
Trường Lâm 30,87 11.255
Tùng Lâm 11,88 5.152
Nguồn: Phương án số 25/PA-UBND,[2] Nghị quyết số 1238/NQ-UBTVQH15.[10]

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, thị xã Nghi Sơn bị giải thể do bỏ cấp huyện. Theo Nghị quyết số 1686/NQ-UBTVQH15[11] của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

  • Sáp nhập 2 xã Anh Sơn, Các Sơn thành xã Các Sơn
  • Sáp nhập 2 xã Tân Trường, Trường Lâm thành xã Trường Lâm
  • Sáp nhập 2 phường Hải Châu, Hải Ninh và 2 xã Thanh Sơn, Thanh Thủy thành phường Ngọc Sơn
  • Sáp nhập 2 phường Hải An, Tân Dân và xã Ngọc Lĩnh thành phường Tân Dân
  • Sáp nhập 2 phường Ninh Hải, Hải Lĩnh và xã Định Hải thành phường Hải Lĩnh
  • Sáp nhập 3 phường Hải Hòa, Bình Minh, Hải Thanh và xã Hải Nhân thành phường Tĩnh Gia
  • Sáp nhập 2 phường Nguyên Bình, Xuân Lâm thành phường Đào Duy Từ
  • Sáp nhập 3 phường Mai Lâm, Tĩnh Hải, Hải Bình thành phường Hải Bình
  • Sáp nhập phường Trúc Lâm và 3 xã Phú Sơn, Phú Lâm, Tùng Lâm thành phường Trúc Lâm
  • Sáp nhập phường Hải Thượng và 2 xã Hải Hà, Nghi Sơn thành phường Nghi Sơn.

Kinh tế của thị xã Nghi Sơn bao gồm đa dạng các ngành như: sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; các ngành dịch vụ, du lịch và công nghiệp. Nổi bật là Khu kinh tế Nghi Sơn và khu du lịch Bãi biển Hải Hòa.

Bãi biển Hải Hòa ở phường Hải Hòa

Trong 6 tháng đầu năm 2019, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã đạt 50,58% (Tính cả nguồn đầu tư vào Khu Kinh tế Nghi Sơn). Trong đó, tăng trưởng nội địa đạt 7,36%. Các ngành công nghiệp, xây dựng giữ thị trường tiêu thụ và sản xuất ổn định, giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng ước đạt 22.494 tỷ đồng; giá trị xuất khẩu hàng hóa tính cả trong Khu Kinh tế Nghi Sơn là 705 triệu USD. Tổng thu ngân sách nhà nước thực hiện được 709,1 tỷ đồng, đạt 76,5% dự toán tỉnh giao; 70,7% dự toán HĐND thị xã giao và tăng 9,8% so với cùng kỳ; thu ngân sách trên địa bàn đạt 182,1 tỷ đồng; sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp có nhiều chuyển biến. Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy, hải sản đạt 17.108 tấn, trong đó nổi bật sản lượng khai thác đạt 15.128,8 tấn.

Người nổi tiếng

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b "Thanh Hóa: Huyện Tĩnh Gia được công nhận đô thị loại IV". Báo điện tử Xây dựng. ngày 27 tháng 9 năm 2019.
  2. ^ a b c d Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (ngày 22 tháng 1 năm 2024). "Phương án số 25/PA-UBND tổng thể sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2023 - 2025 của tỉnh Thanh Hóa" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2024.
  3. ^ Cục Thống kê. "Đơn vị hành chính". Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  4. ^ Bộ trưởng Bộ Xây dựng (ngày 26 tháng 9 năm 2022). "Thông tư số 02/2022/TT-BXD ban hành QCVN 02:2022/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2023.
  5. ^ Quyết định số 177-CP năm 1964
  6. ^ Quyết định 278-CP năm 1980 về việc điều chỉnh địa giới hành chính giữa huyện Như Xuân và huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
  7. ^ Quyết định 163-HĐBT năm 1984 phân vạch địa giới xã Hải Thượng và thành lập thị trấn Tĩnh Gia thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
  8. ^ "Công nhận thị trấn Tĩnh Gia mở rộng đạt tiêu chuẩn đô thị loại III". Báo điện tử Xây dựng. ngày 1 tháng 11 năm 2016.
  9. ^ "Đẩy nhanh tiến độ xây dựng huyện Tĩnh Gia trở thành thị xã". Báo Thanh Hóa điện tử. ngày 28 tháng 10 năm 2019.
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên 1238/NQ-UBTVQH15
  11. ^ Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 16 tháng 6 năm 2025). "Nghị quyết số 1686/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Thanh Hóa năm 2025". Cổng Thông tin điện tử Quốc hội. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025.
  12. ^ Đỗ Hoàng Diệu sinh tại xã Thanh Thủy, thị xã Nghi Sơn, một trong những nhà văn đương đại nổi tiếng nhất, với các tác phẩm: Bóng Đè, Lưng Rồng, Hầm Mộ, Lam Vỹ...

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (Việt Nam) (2003), Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội