Nguyên Thiên Thuận Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên Thiên Thuận Đế
元天順帝
A Tốc Cát Bát Hãn
阿剌吉八汗
Hoàng đế Trung Hoa, Khả Hãn Mông Cổ (chi tiết...)
Ragibagh.jpg
Một bức chân dung hiện đại của Ragibagh Khan (Hoàng đế Thiên Thuận đế)
Hoàng đế Đại Nguyên
Trị vìtháng 10 năm 1328 – 14 tháng 11 năm 1328
Đăng quangtháng 10 năm 1328
Tiền nhiệmNguyên Thái Định Đế
Kế nhiệmNguyên Văn Tông
Khả Hãn Mông Cổ (danh nghĩa)
Tại vịtháng 10 năm 1328 – 14 tháng 11 năm 1328
Tiền nhiệmDã Tôn Thiết Mộc Nhi
Kế nhiệmTrát Nha Đốc hãn
Thông tin chung
Tên đầy đủBorjigin Arigabag (孛兒只斤阿剌吉八, Bột-nhi-chỉ-cân A-tốc-cát-bát, ᠷᠠᠽᠢᠪᠠᠭ)
Niên hiệuThiên Thuận (天順)
Thân phụNguyên Thái Định Đế
Thân mẫuBabukhan
Sinh1320
Mất14 tháng 11, 1328 (tuổi 7-8)

Ragibagh Khan Nguyên Thiên Thuận Đế tên thật là Borjigit Arigabag (Hán Việt: Bột Nhi Chỉ Cân A Tốc Cát Bát) (1320-1328) là hoàng đế thứ 7 của nhà Nguyên và là đại hãn thứ 11 của đế quốc Mông Cổ là con trai của Nguyên Thái Định Đế Dã Tôn Thiết Mộc Nhi.

Lên ngôi hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

A Tốc Cát Bát là con trai cả của Nguyên Thái Định đế. Mẹ của ông, Babukhan Khatun, xuất thân từ gia tộc Khunggirad, người đã nắm quyền thông qua hôn nhân với gia đình hoàng tộc. Ông trở thành Thái tử lúc còn nhỏ vào năm 1324. Vào tháng 8 năm 1328, sau khi Thái Định đế chết ở Mạc Bắc, ông đã được chọn kế vị bởi một sĩ quan Hồi giáo là Đảo Thích Sa trong tháng tới.

Tuy nhiên, cái chết đột ngột của Nguyên Thái Định đế đã gây ra một cuộc nổi dậy của một phe chống chính thống, những người không hài lòng với sự lộng quyền của các đám cận thần của ông ta bao gồm Đảo Thích Sa, người đã phụng sự ông kể từ khi ông đóng quân ở Mông Cổ. Trong tháng thứ tám, chỉ huy Qipchaq là Yên Thiếp Mộc Nhi, người đang đóng quân tại Đại Đô, đã tiến hành một cuộc đảo chính và kêu gọi triều đình tôn người con thứ của Nguyên Vũ Tông là Bột Nhi Chỉ Cân Đồ Thiếp Mộc Nhi làm hoàng đế ở Đại Đô, tức Nguyên Văn Tông, niên hiệu là Thiên Lịch. Văn Tông được chào đón vào Đại Đô trong cùng tháng mà A Tốc Cát Bát đăng cơ ở Thượng Đô.

Tranh ngôi với Nguyên Văn Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Do một nước không thể có hai vua, 2 phe của A Tốc Cát Bát và Đồ Thiếp Mộc Nhi quyết định giao chiến với nhau. Cuộc nội chiến được gọi là chiến tranh hai đô nổ ra. Quân đội của A Tốc Cát Bát đã vượt qua Vạn Lý Trường Thành tại nhiều điểm và tiến quân thẳng đến Đại Đô; nhưng đã bị quân của Yên Thiếp Mộc Nhi đánh cho tan tác. Vào thời điểm đó, hầu hết quân đội của A Tốc Cát Bát đều bị kẹt ở mặt trận Vạn Lý Trường Thành, và Thượng Đô buộc phải đầu hàng vào ngày hôm sau. Đảo Thích Sa và hầu hết những người trung thành hàng đầu với A Tốc Cát Bát đều bị bắt làm tù binh và sau đó bị phe Đại Đô xử tội chết; nhưng A Tốc Cát Bát được cho là đã mất tích, mặc dù khả năng cao là cũng đã bị sát hại.

Những tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Do sự khan hiếm các nguồn lịch sử và tính đa ngôn ngữ của chúng, tên của A Tốc Cát Bát có rất nhiều biến thể. Biên niên sử đỏ Tây Tạng (Hu lān deb ther) gọi ông là "Ra khyi phag." Các biên niên sử Mông Cổ sau này như Erdeni-yin tobchiAltan tobchi đánh vần ông ta là Radzibaγ hoặc Raǰibaγ. Nguyên sử gọi ông là A-su-ji-ba (阿 速 吉), nhưng rõ ràng đó là một lỗi chính tả của A-la-ji-ba (阿 剌 吉 八). Chữ "a" ban đầu ngăn từ bắt đầu bằng "r" trong tiếng Mông Cổ. Nó trông giống như một họa sĩ người Mông Cổ hiện đại Ts.Mandir đã giải thích tên của mình là "Asidkebe" (tiếng Pháp). Theo một số học giả, tên của ông là từ tiếng Phạn là "rāja-pika", có nghĩa là "vua cuckoo". Trong tiếng Trung Quốc, ông còn được gọi là hoàng đế Thiên Thuận theo niên hiệu của mình.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]