Nguyễn Đề

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Nguyễn Đề (阮提, 1761-1805), húy là Nễ, tự Nhất Quế, hiệu Quế Hiên (桂軒, Gia phả ghi là Quế Hiên công); sau đổi tên là Đề, tự Tiến Phủ, hiệu Tỉnh Kiên, biệt hiệu Văn Thôn Cư Sĩ, là nhà thơ Việt Nam ở cuối thế kỷ 18-đầu thế kỷ 19.

Quế Hiên Công
桂軒公
Quan Triều Lê Mạt_Nhà Nguyễn (chi tiết...)
Tả đồng nghị Trung thư sảnh
Tại vị1796 - 1785
Thông tin chung
Hậu duệNguyễn Gai.
Nguyễn lịch.
Nguyễn Vĩ.
Tên đầy đủNguyễn Đề 阮提
Tước hiệu Xu mật viện sự Đức Phái hầu .
Thái sử, Thự Tả thị lang Nghi Thành hầu..
Tước vịTả đồng nghị Trung thư sảnh
Thụy hiệuVăn Thôn Cư Sĩ
Thân phụXuân Quận Công
Sinh1761
Hà Tĩnh
Mất1805
Thăng Long

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Đề sinh ngày 13 tháng 2 năm Tân Tỵ (1761) tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.

Ông là con thứ sáu của Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm (1708-1755) và Trần Thị Tần (1740-1778)[1], và là anh cùng mẹ với Nguyễn Du.

Nhờ cha làm quan lớn (Tể tướng), nên những năm tháng thiếu thời, ông sống khá yên vui cùng các anh em trong một cơ ngơi bề thế ở phường Bích Câu, trong kinh thành Thăng Long.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1768, mới 7 tuổi, ông đã được tập ấm: Hoằng tín đại phu, Trung thành môn vệ úy, Khuê Nhạc bá.

Năm 1780, nhờ thông minh và chăm chỉ, ông đỗ đầu kỳ khảo khóa ở Quốc tử giám.

Năm 1783, ông đỗ đầu kỳ thi ở huyện Thọ Xương và ở huyện Đông Ngàn. Tháng 10 cùng năm, ông đỗ Giải nguyên lúc 23 tuổi khoa thi Hương trường thi Phụng Thiên.

Năm 1786, ông được vua Lê Hiển Tông bổ làm Thị nội văn chức, giữ việc thường trực tại nhà học của con chúa Trịnh; rồi kiêm Phó Tri Thị nội Thư tả Lại phiên ở phủ chúa. Sau nữa, ông thăng Xu mật viện sự Đức Phái hầu. Cùng năm, quân Tây Sơn ra Bắc, ông được giao giữ chức Hiệp tán quân cơ đạo quân Sơn Tây.

Năm Kỷ Dậu (1789), vua Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, ông theo không kịp phải lánh về quê mẹ ở Bắc Ninh.

Năm Quang Trung thứ 3 (1790), nhờ người quen đề cử, ông được nhà Tây Sơn mời ra giúp việc từ hàn, tiếp đến là Hàn lâm viện thị thư, rồi được cử làm Phó sứ (do Nguyễn Quang Hiển dẫn đầu) đi đến Yên Kinh tuế cống triều Thanh.

Về nước, ông được thăng Đông các đại học sĩ, gia tăng Thái sử, Thự Tả thị lang Nghi Thành hầu.

Năm 1794, thời Cảnh Thịnh, ông được thăng Tả phụng nghi bộ Binh, vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp tán nhung vụ, cai quản tinh binh.

Năm 1795, ông được cử sang Trung Quốc lần hai, để chúc mừng vua Thanh là Càn Long làm lễ nhường ngôi cho con là Gia Khánh.

Tháng 2 năm 1796, ông về nước, được phong chức Tả đồng nghị Trung thư sảnh.

Năm 1802, nhà Tây Sơn sụp đổ, vua mới là Gia Long lệnh cho ông theo xe vua ra Bắc Hà và làm việc tại Bắc Thành, dưới quyền quan Tổng trấn.

Năm 1805, trong lần về chịu tang người thiếp, ông bị một viên Tri phủ truy bức nhân có một vụ việc tại làng. Rồi vì quá uất ức, ông đã qua đời lúc 54 tuổi.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Ông có hai người vợ:

  • Vợ chính thất họ Trịnh, không có con;
  • Vợ thứ sinh ba con trai là Giai, Lịch và Vĩ.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Đề đã để lại 2 tập thơ chữ Hán, đó là:

  • Quế Hiên giáp, ất tập (Tập thơ Quế Hiên, I và II).
  • Hoa trình tiêu khiển tập (Tập thơ tiêu khiển trên đường đi sứ).

Ngoài ra, khi Gia Long chiếm thành Phú Xuân, ông có soạn một bài quốc âm và làm biểu dâng lên, được Gia Long khen ngợi.

Hiện nay ở Thư viện Hán Nôm (Hà Nội) đang lưu giữ tập thơ mang tên Hoa Trình tiêu khiển hứng tiền hậu tập, mang ký hiệu A. 1361 và VHv.149. Ở Thư viện Viện văn học (Hà Nội) có bản mang tên Hoa trình thi tập, mang ký hiệu HN.360. Đây là những bản sao của Quế Hiên giáp, ất tậpHoa trình tiêu khiển tập.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Có thể nói, Nguyễn Đề làm quan với Tây Sơn và nhà Nguyễn khá tự nguyện và hăm hở, không mặc cảm, ít vướng bận nghĩa "trung quân", thậm chí có lúc ông còn chỉ trích những người bảo thủ, lánh đời. Vì chuyện này, ông phải chịu không ít lời gièm pha. Trên ba trăm bài thơ của ông đều là những bài thơ vịnh cảnh, ngụ hứng, cảm hoài, thù tạc...Trong số đó có gần chục bài thơ viết cho em trai là Tố Như (tức Nguyễn Du)...Tuy viết bằng chữ Hán, nhưng thơ ông có giọng điệu bình dị, ít triết lý và được thể hiện bằng thứ ngôn ngữ tinh tế mà không cầu kỳ và kiểu cách.[2]

Nguyễn Đề là nhà thơ có tấm lòng nhân nghĩa, vị tha; có tâm hồn sâu lắng và nhiều trăn trở...Ngòi bút của ông bình dị, nhưng có nhiều bài hay, câu hay. Đặc biệt, ông có hàng chục bài thơ viết cho Nguyễn Du với tất cả tình cảm yêu thương của một người anh dành cho một đứa em trai có số phận khá vất vả, long đong. Lần Nguyễn Du nuôi chí chống Tây sơn, việc bại lộ bị bắt giam. Nhờ ông có thân quen với viên tướng Tây Sơn là Nguyễn Thận mà người em (Nguyễn Du) được thả. Tuy hai anh em sống cách xa nhau, và mỗi người một số phận; song họ luôn nhớ nhau, đặc biệt là tình cảm của ông đối với Nguyễn Du (và ngược lại) vô cùng sâu sắc. Đây thật là một thứ tình anh em hiếm thấy trong lịch sử Văn học Việt Nam.[3]

Thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Quyết giang
Quần sơn liêu tịch dã thê lương
Thanh Quyết tân đầu cảnh khả thương
Nhất đới trường giang yên thuỷ thệ
Kỷ đôi tàn luỹ thảo đài hoang
Bắc nam tận thuộc kim dư bản
Thắng phụ không lưu cổ chiến trường
Trù trướng bất kham tuân vãng sự
Đình tiên tiếu chước điếu tà dương
Sông Thanh Quyết
Núi non vắng vẻ ruộng thê lương
Cảnh bến đò này thực đáng thương
Một giải sông dài mây nước cuốn
Mấy mô thành cũ cỏ rêu hoang
Bắc nam nay đã chung đồ bản
Thua được còn bao dấu chiến trường
Ngao ngán việc xưa không muốn hỏi
Dừng cương nhắp chén viếng tà dương.
(Đỗ Ngọc Toại dịch)
  • Phụ chép một bài thơ của Nguyễn Du gửi cho anh là Nguyễn Đề:
Ức gia huynh
Lục tháp thành nam hệ nhất quan
Hải Vân dạ độ thạch toàn ngoan.
Cùng xu lam chướng tam niên thú,
Cố quốc yên hoa nhị nguyệt hàn.
Nhất biệt bất tri hà xứ trú,
Trùng phùng đương tác tái sinh khan.
Hải thiên mang điểu thiên dư lý,
Thần phách tương cầu mộng diệc tan.
Dịch nghĩa:
Nhớ anh.
Một chức quan buộc anh ở phía nam tòa thành sáu tháp[4],
Ban đêm vượt đèo Hải Vân đá lởm chởm.
Ba năm đóng thú ở vùng núi lam chướng,
Tiết tháng Hai lạnh lẽo, nhìn hoa khói quê nhà.
Một phen từ biệt, không biết nay ở nơi nào?
Cuộc trùng phùng có lẽ phải đợi đến kiếp sau.
Trời bể mênh mông, đường xa nghìn dặm,
Hồn phách tìm nhau, dầu trong giấc mộng cũng khó.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trần Thị Tần, con gái một người thuộc hạ làm chức câu kế, người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, trẻ hơn chồng 32 tuổi. Bà sinh được năm con, bốn trai và một gái. Thứ tự như sau: Nguyễn Trụ, Nguyễn Nễ (hơn Nguyễn Du 4 tuổi), Nguyễn Thị Diên {vợ của Vũ Trinh}, Nguyễn Du, Nguyễn Ức (kém Nguyễn Du 2 tuổi). Năm 1775, người con đầu của bà Tần mất, mới 18 tuổi, năm sau chồng mất, hai cái tang liền làm cho bà đau buồn rồi lâm bệnh mất ngày 27 tháng 7 năm 1778, khi mới 39 tuổi
  2. ^ Lược theo Trần Hải Yến, Từ điển Văn học (bộ mới), tr. 1128.
  3. ^ Lược theo Tạ Ngọc Liễn, tr. 290-292.
  4. ^ Chỉ thành Quy Nhơn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhiều người soạn, Từ điển Văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Tạ Ngọc Liễn, Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2008.
  • Lê Thước và Trương Chính, Thơ chữ Hán Nguyễn Du. Nhà xuất bản Văn học, 1978.
  • Đỗ Ngọc Toại, Thơ văn dịch. Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2006.
  • Nguyễn Thị Phượng, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Đề. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1995.