Nguyễn Hữu Hạnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
NGUYỄN HỮU HẠNH
Tiểu sử
Sinh

10 tháng 7, 1926(1926-07-10) (90 tuổi)

Mỹ Tho, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1946-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị ARVN Capital Military Zone Unit SSI.svg Biệt khu Thủ đô
QD I VNCH.jpg Quân đoàn I và QK 1
QD II VNCH.jpg Quân đoàn II và QK 2
QD IV VNCH.jpg Quân đoàn IV và QK 4
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
[[]]Sư đoàn 21 Bộ binh
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến -Chiến tranh Đông Dương
-Chiến tranh Việt Nam

Nguyễn Hữu Hạnh (sinh 1926) là một cựu tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông thường được biết với vai trò là Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, người đã tác động để Tổng thống Dương Văn Minh sớm đi đến quyết định kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hòa buông vũ khí trước sức tấn công của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam vào cuối tháng 4 năm 1975, chấm dứt cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Thân thế và bước đầu binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 10 tháng 7 năm 1926, trong một gia đình điền chủ bậc trung khá giả tại ấp Phú Thuận, xã Phú Phong, quận Châu Thành, Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Năm 1945, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Mỹ Tho với văn bằng Tú tài bán phần (Par I).

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1949, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 46/103072. Theo học tại trường Võ bị Địa phương Nam Việt Vũng Tàu (Cap Saint Jacques). Mãn khóa cùng năm, tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy.[1] Ra trường ông được điều đi phục vụ tại một đơn vị Bộ binh giữ chức vụ Trung đội trưởng dưới quyền Thiếu úy Đại đội trưởng Dương Văn Minh, khởi đầu của mối quan hệ thân tình của ông với tướng Dương Văn Minh về sau này. Giữa năm 1950, ông được thăng cấp Thiếu úy tại nhiệm. Cuối năm 1951, ông được thăng cấp Trung úy làm Đại đội trưởng Bộ binh.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1952, Quân đội Quốc gia thành lập Bộ Tổng Tham mưu, chính thức chuyển sang cơ cấu mới này, ông được thăng cấp Đại úy và được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Phân khu Sài Gòn-Chợ Lớn. Năm 1954, ông được chỉ định làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 30 Việt Nam Biệt lập.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1955, ông đực thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống đổi tên Quân đội Quốc gia thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa và mở chiến dịch tiêu diệt Lực lượng Vũ trang của các Giáo phái. Tháng 9 cùng năm ông được giữ chức vụ Tham mưu trưởng Chiến dịch Hoàng Diệu đánh quân Giáo phái Hòa Hảo. Đến Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu đánh quân Giáo phái Cao Đài, ông được thăng cấp Trung tá, dưới quyền Đại tá Dương Văn Minh. Cuối năm 1958, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại trường Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Giữa năm 1959, ông mãn khóa học về nước.

Tuy nhiên, cách đối xử của Tổng thống Diệm đối với Dương Văn Minh cũng ảnh hưởng nhiều đến đường công danh của ông. Năm 1960, ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô (sau đổi thành Biệt khu Thủ đô). Đầu năm 1963, ông được thăng cấp Đại tá và chuyển đi miền Tây Nam phần giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn IV do Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao làm Tư lệnh.

Quan hệ với phía bên kia[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10 năm 1963, khi đang là Đại tá Tham mưu trưởng Quân đoàn IV, dưới quyền tướng Huỳnh Văn Cao, cha ông là Nguyễn Hữu Điệt qua đời. Do ý nguyện của cha muốn được chôn cất tại quê nhà, nơi đang thuộc quyền kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tỉnh Mỹ Tho, ông đã thỏa thuận ngưng bắn 3 ngày để làm lễ tang và chôn cất cho cha. Điều này khiến cho Ban binh vận của Trung ương Cục miền Nam chú ý và nảy ý đồ vận động ông làm cơ sở. Nhiệm vụ tiếp cận, vận động, bồi dưỡng Nguyễn Hữu Hạnh được giao cho ông Nguyễn Tấn Thành, bác họ của Nguyễn Hữu Hạnh. Trước đó, có 2 lần ông Thành bị phía quân đội Việt Nam Cộng hòa bắt giữ, nhưng đều được Nguyễn Hữu Hạnh can thiệp và trả tự do.[2] Nguyễn Hữu Hạnh được gán mật danh là S7 hoặc Sao Mai, nhưng hầu như không được giao nhiệm vụ gì có thể ảnh hưởng đến vị trí của ông. Ông và ông Thành chỉ giữ liên lạc với nhau đến tận cuối năm 1974.

Vị tư lệnh thận trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc đảo chính Tổng thống Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963, chính ông đã ngầm ủng hộ cho tướng Dương Văn Minh làm đảo chính, hỗ trợ Đại tá Nguyễn Hữu Có chiếm quyền chỉ huy Sư đoàn 7 Bộ binh, khuyên tướng Huỳnh Văn Cao án binh bất động, ngăn cản Lực lượng quân đoàn IV về chống đảo chính, giúp cuộc đảo chính thành công.

Năm 1967, ông được chỉ định giữ chức vụ Phó Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh do Thiếu tướng Nguyễn Văn Minh làm Tư lệnh. Năm 1968, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Biệt khu 44 (bao gồm Hà Tiên, Châu Đốc, Kiến Phong và Kiến Tường). Trong nhiều lần đối mặt với lực lượng cách mạng, Nguyễn Hữu Hạnh đều lệnh cho binh sĩ đánh ở thế giằng co mà không tiến chiếm mục tiêu. Khi quân giải phóng rút quân ông cũng ra lệnh rút quân về. Các cố vấn Mỹ mỉa mai gọi ông là “Tư lệnh thận trọng”, “Tư lệnh không bao giờ chiếm mục tiêu”.[2]

Năm 1969, một lần nữa, ông được điều động trở lại Bộ Tư lệnh Quân đoàn IV giữ chức vụ Phó Tư lệnh dưới quyền Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1970, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

Trung tuần tháng 5 năm 1972, ông thuyên chuyển ra Bộ tư lệnh Quân đoàn II, giữ chức vụ Phó Tư lệnh do Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn làm Tư lệnh. Giữa năm 1973, thuyên chuyển ra Quân đoàn I giữ chức vụ Chánh Thanh tra Quân đoàn.

Ngày 15 tháng 5 năm 1974, ông nhận được quyết định về hưu do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ký khi ông mới 48 tuổi. Lý do là ông đã phục vụ trong quân đội quá thời gian quy định (trên 20 năm). Ý đồ sâu xa của Tổng thống Thiệu là loại bỏ bớt những người ngả theo tướng Dương Văn Minh.[2]

Vai trò năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 4 năm 1975, sau khi Đại tướng Dương Văn Minh lên nắm chức vụ Tổng thống, ông được phân công giữ chức Phụ tá cho tân Tổng tham mưu trưởng, Trung tướng Vĩnh Lộc. Tuy nhiên, không lâu thì tướng Vĩnh Lộc đào nhiệm, vì vậy, nhân danh Tổng tham mưu trưởng, ông đã ra tuyên bố kêu gọi binh sĩ buông súng. Ông cũng là một trong 2 vị tướng bên cạnh Tổng thống Dương Văn Minh trong giờ phút cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa (vị tướng thứ 2 là Trung tướng Nguyễn Hữu Có, đối thủ cũ của tướng Dương Văn Minh).

Sau năm 1975, được ghi nhận công lao trong tác động đến buông súng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, ông không bị chính quyền mới đưa đi cải, mà còn được giữ chức vụ Tổng thư ký Hội nhân dân bảo trợ Nhà trường, sau được bầu Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là Nhân sĩ yêu nước và giữ chức vị đó cho đến nay.

Ông hiện sống với gia đình ở quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Nguyễn Hữu Điệt (mất năm 1963)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cùng tốt nghiệp khóa sĩ quan tại trường Võ bị Địa phương Nam Việt Vũng Tàu với tướng Hạnh, sau này lên tướng còn có:
    - Đại tướng Cao Văn Viên (Nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa).
    - Trung tướng Nguyễn Chánh Thi (Nguyên Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu 1).
  2. ^ a ă â “Nguyễn Hữu Hạnh – Người phổ biến lệnh buông súng của Tổng thống Dương Văn Minh”. 

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.