Nguyễn Khoa Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
NGUYỄN KHOA NAM
Nguyenkhoanam.jpg
Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam
Tiểu sử
Sinh

23 tháng 9, 1927(1927-09-23)

Đà Nẵng, Việt Nam
Mất

1 tháng 5, 1975 (48 tuổi)

Cần Thơ, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1953-1975
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Vietnamese Airborne Division 's Insignia.svg Binh chủng Nhảy dù
ARVN 7th Division SSI.svg Sư đoàn 7 Bộ binh
QD IV VNCH.jpg Quân đoàn IV và QK 4
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.quốc H.chương đệ III[1]

Nguyễn Khoa Nam (1927-1975), nguyên là một tướng lĩnh gốc Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Sĩ quan Trừ bị do Chính phủ Quốc gia Việt Nam, được sự hỗ trợ của Pháp mở ra ở Nam phần. Ra trường, ông gia nhập vào đơn vị Nhảy dù và đã phục vụ trong Binh chủng này một thời gian dài, tuần tự giữ những chức vụ từ Trung đội trưởng... đến Phó Tư lệnh Sư đoàn. Đầu năm 1970, ông chuyển nhiệm vụ sang Bộ binh và giữ chức Tư lệnh Sư đoàn. Sau cùng ông đảm trách chức vụ Tư lệnh một trong 4 Quân đoàn và Vùng chiến thuật của Quân lực Cộng hòa. Sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975 xảy ra, ông là một trong 5 tướng lĩnh của Việt Nam Cộng hòa đã tự sát. [2]

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 23 tháng 9 năm 1927, trong một gia đình khoa bảng "Danh gia vọng tộc" tại Đà Nẵng, miền Trung Việt Nam, có nguyên quán ở làng An Cựu Tây, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên, Việt Nam. Thời niên thiếu, ông học Tiểu học tại trường Ècole des Garcons, Đà Nẵng. Lên Trung học theo chương trình Pháp, nội trú ở trường Quốc học Huế (Lycėe Khải Định). Năm 1946, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó, thi vào trường Hành chánh ở Huế (hệ Cao đẳng). Năm 1951, ông tốt nghiệp và được bổ dụng làm công chức tại Sở Ngân sách Trung Việt, một năm sau giữ chức vụ Chủ sự phòng.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 3 năm 1953, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia Việt Nam, mang số quân: 47/291.065. Theo học khóa 3 Đống Đa tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức thuộc Trung đội khóa sinh số 16, khai giảng ngày 1 tháng 4 năm 1953. Ngày 1 tháng 12 cùng năm mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường gia nhập đơn vị Nhảy dù, ông được cử làm Trung đội trưởng thuộc Đại đội 1 trong Tiểu đoàn 7 Nhảy dù. Sau đó, ông được theo học khóa Nhảy dù cấp tốc tại Bến phà Đen (gần Bệnh viện Đồn Thuỷ), Hà Nội. Đến tháng 3 năm 1954, ông được tăng phái cho Tiểu đoàn 3 Nhảy dù. Một tháng sau, ông được đi thụ huấn khóa Đại đội trưởng tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Mãn khóa về lại đơn vị, ông được cử giữ chức Đại đội trưởng Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn 7 Nhảy dù. Tháng 8 cùng năm, ông theo đơn vị từ Hà Nội bằng đường Không vận di chuyển vào Nam đồn trú tại Đồng Đế, Nha Trang. [3]

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, sau khi Quân đội Quốc gia đổi tên sang tên mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Tiểu đoàn 7 giải tán để bổ sung quân số cho 2 Tiểu đoàn 3 và 5. Ông được cử đi du học lớp Huấn luyện viên Nhảy dù trong vòng 8 tháng tại Pau, Pháp. Mãn khóa, trở về phục vụ tại Tiểu đoàn Trợ chiến Nhảy dù do Đại úy Nguyễn Thọ Lập làm Tiểu đoàn trưởng. Tháng 12 cuối năm, ông được cử làm Đại đội trưởng Đai đội Kỹ thuật trong Tiểu đoàn Trợ chiến thay thế Trung úy Ngô Xuân Nghị. Tháng giêng năm 1957, ông chuyển về Bộ chỉ huy Liên đoàn Nhảy dù phục vụ tại Phòng 3 (đặc trách hành quân). Tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Đầu năm 1959, ông được cử làm Trưởng ban 3 của Tiểu đoàn 3 Nhảy dù.

Đầu tháng giêng năm 1961, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm. Đến tháng 2 năm 1962, ông chuyển sang Tiểu đoàn 5 Nhảy dù giữ chức vụ Tiểu đoàn phó. Tháng 6 cùng năm, ông được cử đi Hoa Kỳ học khóa "Chiến tranh rừng rậm" (Tác chiến trong rừng) tại căn cứ Huấn luyện Lực lượng Đặc biệt Fort Bragg. Đầu năm 1963, ông được chuyển sang học tiếp khóa Bộ binh cao cấp tại trường Bộ binh Fort Benning.

Đầu tháng 2 năm 1964, sau cuộc Chỉnh lý các tướng lĩnh trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng do tướng Nguyễn Khánh cầm đầu, ông được cử làm Trưởng phòng 4 tại Bộ tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù [4] do Đại tá Cao Văn Viên làm Tư lệnh. Tháng 7 năm 1965, ông được chỉ định vào chức vụ Tham mưu trưởng Chiến đoàn 1 Nhảy dù do Trung tá Bùi Kim Kha làm Chiến đoàn trưởng. Sau đó 2 tháng, ông được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy dù thay thế Thiếu tá Hồ Trung Hậu. Ngày kỷ niệm Cách mạng 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm.

Tháng 5 năm 1966, ông được ân thưởng Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương kèm anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu. Cuối tháng 6 cùng năm, ông được cử làm sĩ quan Phụ tá cho Đại tá Ngô Quang Trưởng Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh. Ngày lễ Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá. Tháng 12 cuối năm, ông được chỉ định giữ chức Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 3 Nhảy dù [5] tân lập. Đến tháng 4 năm 1967, ông được ân thưởng Đệ tam đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu.

Đầu tháng 1 năm 1969, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Sau đó, ông được lệnh bàn giao Lữ đoàn 3 lại cho Trung tá Nguyễn Văn Thọ, để giữ chức vụ Phụ tá Tư lệnh Sư đoàn.

Trung tuần tháng Giêng năm 1970, rời Sư đoàn Nhảy dù để thuyên chuyển về Quân khu 4, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh thay thế Chuẩn tướng Nguyễn Thanh Hoàng được cử lên làm Phó Tư lệnh Quân đoàn IV. Ngày Quân lực 19 tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1972, ông được đặc cách tại mặt trận thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm.

Giữa năm 1974, ông được cử làm Trưởng đoàn, hướng dẫn phái đoàn chiến sĩ xuất sắc thăm viếng Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) trong vòng 1 tuần lễ. Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 cùng năm, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV & Quân khu 4 thay thế Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi được cử làm Chỉ huy trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức.

Tự sát[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi biết tin của Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho toàn thể Quân lực Việt Nam Cộng hòa buông vũ khí để bàn giao cho quân đối phương, ông trấn an quân nhân các cấp trong Bộ tư lệnh và khuyên họ hãy rời nhiệm sở để trở về với gia đình. Sáng ngày 1 tháng 5, ông vận bộ quân phục Đại lễ của Quân đội, vào khoảng 6 giờ 30 sáng ông dùng súng Browning bắn vào màng tang tự sát tại chiếc ghế làm việc của mình trong tư dinh Tư lệnh ở trại Lê Lợi trên đường Hòa Bình, tỉnh Phong Dinh, nêu cao tinh thần "thành mất tướng tuẫn tiết theo thành". Hưởng dương 48 tuổi[6]. Thi thể ông được Y sĩ Trung tá Hoàng Như Tùng (Y sĩ trưởng Quân y viện) đưa về quàn tại Quân y viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Sau đó, đứng ra an táng ông trong Nghĩa trang Quân đội Cần Thơ. Ngày hôm sau, người chị ruột của ông (đã được báo tin từ chiều hôm trước) là bà Nguyễn Khoa Diệu Khâm (mẹ của Hải quân Trung tá Nguyễn Mạnh Trí) từ Sài Gòn xuống Cần thơ để dựng bia mộ cho ông.

Đến năm 1984, được người em dâu và người cháu gái từ Sài Gòn xuống Cần Thơ bốc mộ hoả thiêu, tro cốt đem về để tại chùa Quảng Hương Già Lam, địa chỉ số 498/11 đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, Thành phố HCM. [7]

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

- Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu (ân thưởng).
- Nhiều Huy chương Quân sự, Dân sự và Ngoại quốc.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Nguyễn Khoa Túc (nguyên Chánh Thanh tra Học chính tại Đà Nẵng).
  • Cụ Công Tôn nữ Mộc Cẩn (thuộc dòng Tuy Lý Vương, Hoàng tộc Nhà Nguyễn)
  • Bào đệ: Ông Nguyễn Khoa Phước (nguyên Thượng Nghị Sĩ Việt Nam Cộng hòa trong Quốc hội Lưỡng viện của nền Đệ Nhị Cộng hòa)
  • Cháu gọi bằng cậu ruột: Ông Nguyễn Mạnh Trí (nguyên Hải quân Trung tá, tốt nghiệp khóa 10 Sĩ quan Hải quân Nha Trang)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng (ân thưởng).
  2. ^ Năm tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa đã tự sát ngày 30 tháng 4 năm 1975 để bảo toàn khí tiết:
    -Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam
    -Thiếu tướng Phạm Văn Phú (SN 1928, nguyên Tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu 2)
    -Chuẩn tướng Lê Văn Hưng (SN 1933, nguyên Phó Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4)
    -Chuẩn tướng Trần Văn Hai (SN 1925, nguyên Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh)
    -Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ (SN 1933, nguyên Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh)
  3. ^ Cùng di chuyển với Tiểu đoàn 7 vào đồn trú ở Đồng Đế còn có Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 5 Nhảy dù
  4. ^ Đầu tháng 12 năm 1965, Lữ đoàn Nhảy dù được tổ chức thành một Sư đoàn với quân số và trang bị đầy đủ cho một đơn vị Tổng trừ bị của Bộ Tổng tham mưu.
  5. ^ Đầu năm 1968, các Chiến đoàn 1, 2 và 3 của Sư đoàn Nhảy dù được cải danh thành Lữ đoàn. Chỉ huy Lữ đoàn 1 là Trung tá Lê Quang Lưỡng, Lữ đoàn 2 do Trung tá Đào Văn Hùng chỉ huy
  6. ^ . Trước đó vào lúc mười một giờ đêm ngày 30 tháng 4, ông còn gọi điện thoại cho phu nhân của Chuẩn tướng Lê Văn Hưng để chia buồn.
  7. ^ Sinh tiền, tướng Nguyễn Khoa Nam là một Phật tử thuần thành, ông thường nghiền ngẫm kinh Phật, sách Triết học và Nho học. Ông cũng là một quân nhân thuần túy không xen vào chính trị, không lập gia đình, có cuộc sống giản dị, không xa hoa, không bị tai tiếng tham nhũng và được binh sĩ yêu mến.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.