Nguyễn Phúc Miên Mật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Quảng Ninh Quận vương Nguyễn Phúc Miên Mật (廣寧郡王阮福綿宓, 17 tháng 8 năm 1825 - 23 tháng 5 năm 1847), có nơi dịch là Nguyễn Phúc Miên Bi là con trai thứ 30 của Hoàng đế Minh Mạng, mẹ là Tứ giai Huệ tần Trần Thị Huân, người ở huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, con gái của Trần Văn Hùng, truy tặng Hiệu úy.

Ông chào đời ngày 17 tháng 8 năm 1825, tức 4 tháng 7 năm Ất Dậu theo Âm lịch. Lúc trẻ ông thông minh đĩnh ngộ lạ thường, vốn thích học viết khi mới trưởng thành, ra học thầy dạy bên ngoài, không sách gì là không đọc, vua rất yêu quý. Năm thứ 1840, ông phong làm Ninh Quốc công.

Năm 1842 nhân dịp vua Thiệu Trị ngự ra Bắc Hà thấy ông học hành tấn tới nên tấn phong làm Quảng Ninh Thân công.

Ngày 23 tháng 5 năm 1847, tức ngày 10 tháng 4 năm Đinh Mùi, ông qua đời, bấy giờ ông 23 tuổi. Nghe tin ông chết, vua thương tiếc, nghỉ chầu 3 ngày, sai quan đến tế, cho thụy là Đôn Hòa.

Ông vốn tính cung cẩn hiền hậu. Lúc sinh thời, có dựng thư viện Tự Hương để làm nơi đọc sách trong khi nhàn rỗi, họp các văn nhân có thơ hay đến cùng để vịnh. Trước tác của ông để lại có tập thơ Hân Nhiên. Lúc vua Tự Đức còn ở tiềm để, cùng học với vương, mỗi khi vào trực trong cấm, là cùng nhau họa vần. Khi Tự Đức lên ngôi (1848), thấy bản thảo văn thơ của ông để lại ở các, đọc thấy cảm động, liền đề vào tập thơ ấy rằng:

Cách biệt nhau nghìn thu, hận đã dài lắm, lại trông thấy thơ để lại càng thương. Cấm thành ngày dài cùng với ai nối câu thơ, viện kín hoa tàn há có thể tụ được hương thơm. Đạm bạc lòng như Đào Tĩnh Tiết (tức là Đào Tiềm), thanh cao nối vần như ông Mạnh Tương Dương (tức là Mạnh Hạo Nhiên đời Đường). Đêm nay lúc tĩnh đem thơ ra đọc, gió thổi đèn sương, trăng soi vào rường nhà.

Về sau em cùng mẹ với ông là An Quốc Công Miên Ngung tìm được bản thảo của ông để lại đem ra khắc sơn nhưng chưa xong thì đã qua đời, nói với anh thứ 10 (khác mẹ) là Miên Thẩm, thay mình tiếp tục làm. Miên Thẩm liền dâng lên vua nói lược rằng:

Em đã chết của thần là Quảng Ninh công Miên Mật, đạo đức rõ rệt trong thân thích, danh vọng quí trọng trong buổi thịnh triều, lúc trẻ có tuấn tú. Khi trưởng thành có đức hạnh khiêm cung. Tuổi quá 20, có chí chăm chỉ học. Văn chương tao nhã, phên dậu của nước từng nổi tiếng tăm. Thi lễ ung dung, tước trật ba phong rõ ràng sủng mệnh. Đường đời rong ruổi, sao đã vội trôi đi, không những ở bọn chúng tôi đều tiếc thương trong tình nghĩa anh em mà kính thấy các liệt triều cũng tưởng nhớ đến người trong thân thích. Năm ngoái em cùng mẹ với vương là Miên Ngung cảm nghĩ anh nuôi thầy dạy; cố tìm hết một câu nói, một câu văn của vương để lại, tự mình sao chép ra, muốn truyền lại không cùng, thường cùng nói với thần rằng em ở Đông Các, trộm thấy có thơ ngự chế đề vào tập thơ Hân Nhiên, tình văn đầy đủ yêu quí rất hậu, thực là làm vẻ vang cho anh thần ở dưới suối vàng, mà làm cho tập ấy được thêm thanh giá. Trộm muốn nhờ ơn Hoàng thượng đề cho bài tựa, biên lên trên đầu tập ấy nên chưa dám khắc in riêng, hoặc hãy làm phàm lệ trước. Nào ngờ: chẳng kịp ăn cơm gạo mới[1] vụt chắc chết đi, mà lúc sắp chết còn dặn lại nơi làm việc ấy. Thần rất đau đớn về người mất của còn để lại, sau tình anh em, tự thẹn không được như Vân Câu tính trời đôn hậu [2]. Nhưng được biết như Nguyên Bá biểu người bạn chí thiết [3] Nghĩa chẳng sai lời, may mà xong việc. Nhớ lại những câu nói bàn của vương lúc sinh thời dám mong được văn chương của hoàng thượng nêu khen lên cho. Cúi xin: sau khi muôn việc đã rỗi, ban cho ngòi son, một chữ vẻ vang, thấm tươi lá ngọc. Để cho trong tập Tô Học sĩ, truyền mãi thiên Kiền Đạo[4]. Đừng để sau khi Lư Doãn Ngôn chết rồi, riêng được thời Thái Hòa yêu quí vậy[5].

Năm 1855, Hoàng thượng có dụ rằng

Cố Quảng Ninh Công Miên Bật, giữ tính kính hòa chín chắn, vui điều thiện thích văn chương. Khi trẫm còn ở tiềm để, thường cùng nhau ngồi họa 1 chiếu. Cũng có ích về giúp việc nhân. Tuổi thọ trời cho có ít không được trông thấy ngày nay, lòng trẫm vẫn thường nhớ đến. Bèn thân chế bài thơ, sai quan đến từ đường làm lễ tế và đem lời dụ, bài thơ tuyên đọc để tỏ ra ý nêu khen người hiếm giỏi.

Thơ rằng: Tính di vật hoán di kinh thu/Cuộc trạch cao lai mãn mục sầu/Thi thảo hữu huynh đào tý trí/Thư hương vô tứ thiệu cơ cừu/Đông Bình lạc thiện ngôn nhu tại/Chương Đế đôn thân lễ ả do/Cận nhật Tùng, Tuy giai bị trạch/Thùy vong Nguyên Dụ tiến hiền mưu.

Dịch nghĩa: Sao rời vật đổi đã bao năm, nhà cũ cỏ mọc rậm rạp trông mà buồn, bản thảo tập tơ đã có anh sửa chữa hộ, tiếng thơm về văn chương không có con để nối nghiệp, Đông Bình Vương vui làm điều thiện, câu nói ấy còn đó, Hán Chương Đế tôn quí người thân, lễ ý ấy nên bắt chước, mới đây Tùng Thiện, Tuy Lý đều được thấm nhuần ơn trạch cả, ai nên quên mưu kế của Nguyên Dụ tiến người hiền.

Năm 1878, kính gặp tiết Ngũ tuần đại khánh của Tự Đức, vua cho là công và Tương An công Miên Bảo đều có học hạnh, đều là người em yêu quí của tiên triều, chẳng may chết sớm, chưa kịp ban cho ơn huệ. Lại xuống dụ truy phong làm Quảng Ninh Quận vương. Vương có ba con trai, hai con gái, đều chết sớm cả. Vào năm 1885 hợp thờ ở đền Thân Huân.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Tả truyện, Thành công năm thứ 10, vua Cảnh nước Tấn thầy đồng cốt nói là bệnh sẽ chết, không kịp được ăn gạo mới
  2. ^ Theo Bắc sử, Vân Câu, tính từ ái, có bệnh ngửa ngực. Em là Bác khi ốm gần chết, dặn các anh em rằng: đừng cho Vân Câu biết, sợ anh cảm động thương xót.
  3. ^ Theo Hán thư, Trương Thiệu tự là Nguyên Bá, cùng Phạm Thức làm bạn, tình rất thân thiết. Thường bảo người ta rằng: Phạm Cự Khanh (tức Phạm Thức) là bạn chí thiết của ta vậy
  4. ^ Xét tập Tô Thức, Tống Hiếu Tông có ngự chế thiên Kiền Đạo
  5. ^ xét Đường thư: Lư Duân tự Doãn Ngôn có tiếng về thơ. Sau khi chết, Văn Tôn thích thơ của ông, sai người nhà lục hòm sách, được 500 bài thơ, đem dâng lên vua Đường Văn Tông