Nguyễn Phúc Miên Quan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Kiến Tường Quận công
建祥郡公
Hoàng tử Việt Nam
Thông tin chung
Hậu duệ3 con trai
1 con gái
Tên húy
Nguyễn Phúc Miên Quan
阮福綿官
Thụy hiệuKiến Tường Cung Lương Quận công
廣澤恭諒郡公


Kiến Tường Cung Túc công
廣澤恭肅公
Thân phụMinh Mạng
Thân mẫuLê Thị Ái
Sinh21 tháng 5 năm 1827
Mất3 tháng 2 năm 1847 (20 tuổi)
An tángThừa Thiên - Huế, Việt Nam

Kiến Tường Quận công Nguyễn Phúc Miên Quan (建祥郡公 阮福綿官; 21 tháng 5 năm 1827 - 3 tháng 2 năm 1847), tựTắc Tư (則思), là một hoàng tử của Hoàng đế Minh Mạng.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Miên Quan là con trai thứ 36 của Hoàng đế Minh Mạng, mẹ là Lục giai Tiệp dư Lê Thị Ái, người An Triền (Phong Điền, Thừa Thiên). Ngài là em ruột của Tuy Lý vương Miên Trinh.

Sử sách ghi lại, khi còn trẻ ông đã khôi ngô kỳ lạ, lại có tình hiếu thảo. Khi hoàng tử được khoảng 8 - 9 tuổi thì bà Tiệp dư Ái bị ốm, ông cùng với anh trai hầu hạ thuốc thang không mỏi, cung nhân, nữ quan đều tỏ lời khen ngợi, cho là như người đã trưởng thành.

Khi ra mở phủ riêng, ông ra học bên ngoài. Ngoài kinh sử ra, sách thuốc, sách xem tướng nào ông cũng đều đọc qua cả. Miên Quan vốn nhiều bệnh tật, có một ngày soi gương buồn rầu không vui, bảo anh là Miên Trinh rằng:

Học thì lấy Tử Chiêm (tức Tô Thức) làm thầy, ở thì như Khương Quang (anh cùng chung chăn với nhau), sự rất vui của con người, còn gì hơn thế nữa. Nhưng vì em ốm yếu, phận mệnh có hạn thôi, em chẳng giống được anh.

Ngài Miên Trinh an ủi rằng:

Chú mày ốm yếu mà tuấn tú học giỏi, Trương Tử Phòng mặt như đàn bà con gái mà nho nhã. Cố nhiên là sự thường của người nho gia, há có phải những người tóc bạc lại mọc răng như trẻ con đều là bọn (Nam) Bôn, (Hạ) Dục[1] mà người ấp Giáng[2], ông Lão Bành[3] phải có sức nhấc đỉnh bạt núi cả đâu?

Tuy vậy, lòng sầu muộn của ông cũng không tiêu tan được. Năm 1840, Miên Quan được phong làm Kiến Tường Quận công.

Ngày 3 tháng 2 năm 1847, tức 18 tháng Chạp năm Bính Ngọ, Quận công qua đời, hưởng dương 20 tuổi. Vua anh Thiệu Trị ban thụy là Cung Lương (恭諒), cho thêm quan tài ở Đông Viên, sai hoàng thân đem rượu tế, dựng đền thờ ở xã Vĩ Dã thuộc huyện Phú Vang. Mộ táng ở xã Dương Xuân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.

Năm Bảo Đại thứ 14 (1939), vua truy phong cho ông là Kiến Tường công, cải thụy là Cung Túc (恭肅)[4].

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Anh chị em[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài Miên Quan, bà Tiệp dư Ái còn sinh được 2 hoàng tử và 2 hoàng nữ khác, là:

  • Anh trai: Tuy Lý vương Miên Trinh (1820 - 1897), hoàng tử thứ 11
  • Anh trai: Nguyễn Phúc Miên Long, chết yểu, hoàng tử thứ 22
  • Chị gái: Hòa Mỹ công chúa Trang Tĩnh (1825 - 1847), hoàng nữ thứ 22. Tính tình hiếu thảo, đoan trang dịu dàng, Tiệp dư rất yêu quý. Công chúa có sẹo ở góc trán, có người bảo lấy phấn bôi lấp đi, nhưng nàng không nghe. Mất sớm khi chưa lập gia thất
  • Em gái: Nguyễn Phúc Nhàn Trinh (1829 - 1839), hoàng nữ thứ 30 của Minh Mạng, chết trẻ

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến Tường Quận công có ba con trai và một con gái. Con cả là Hồng Mục tập phong làm Kỳ ngoại hầu. Con trai của Hồng Mục là Ưng Trực lãnh tước Tả quốc khanh. Ưng Trực có bốn con trai và năm con gái[4].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mạnh Bôn, Hạ Dục, đều là những dũng sĩ ngày xưa
  2. ^ Người ấp Giáng sống thọ đến 73 tuổi
  3. ^ Lão Bành tức Bành Tổ, thọ hơn 800 tuổi
  4. ^ a ă “Tràng An báo, Số 425, 6 Tháng Sáu 1939”.