Nguyễn Phúc Vĩnh Lộc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
NGUYỄN PHÚC VĨNH LỘC
Vinhloc.jpg
Trung tướng Vĩnh Lộc
Tiểu sử
Sinh23 tháng 10 năm 1923[1]
Huế, Thừa Thiên
Việt Nam
Mất(2009-01-08)8 tháng 1, 2009 (86 tuổi)
Houston, Texas
Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ1950-1975
Cấp bậcUS-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vịFlag of ARVN Armored Cavalry Regiment.png Binh chủng Thiết giáp[2]
Cờ Chỉnh binh thao lược.png Đại học Quân sự
Cư an tư nguy.svg Liên trường Võ khoa
VKNTC-Emblem.svg Quân trường Vạn Kiếp
SuDoan9.jpg Sư đoàn 9 Bộ binh
ARVN Capital Military Zone Unit SSI.svg Biệt khu Thủ đô
QD II VNCH.jpg Quân đoàn II và QK 2
Flag of the Minister of National Defense of the Republic of Vietnam.svg Cao đẳng Quốc phòng
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu[3]
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Grand Officer BAR.png B.Quốc H.Chương II
Công việc khácCố vấn Quân sự[4]

Nguyễn Phúc Vĩnh Lộc (1923-2009) thường được gọi tắt là Vĩnh Lộc, nguyên là một tướng lĩnh Thiết giáp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Địa phương được Chính phủ thuộc đia Pháp mở ra ở Trung phần Việt Nam. Thời gian tại ngũ, ông đã có nhiều năm phục vụ trong ngành Thiết giáp-Kỵ binh và đã từng được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng binh chủng này. Ông là vị Tổng Tham mưu trưởng cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đồng thời cũng là người có thời gian tại nhiệm ngắn nhất (chỉ tại chức trong ngày 29 tháng 4 năm 1975). Trước đó, ông có thời gian giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II và Vùng 2 chiến thuật (1965-1968), được mệnh danh là Chúa tể Cao nguyên, nhiều tai tiếng tham nhũng và có cuộc sống xa hoa như một Lãnh chúa thời phong kiến.

Tiểu sử và binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 23 tháng 10 năm 1923 tại Huế trong một gia đình thuộc Hoàng phái nhà Nguyễn. Chữ Vĩnh trong tên của ông được đặt theo bài "Đế hệ thi" của vua Minh Mạng, cho thấy ông là anh em cùng hệ và ngang vai về với vua Duy Tân và vua Bảo Đại. Là một tín đồ Phật giáo, ông còn có pháp danh là Minh Tâm. Thời niên thiếu, do gia đình có điều kiện, ông được thụ hưởng một nền giáo dục cơ bản rất tốt. Từng theo học tại trường Khải Định (Quốc học Huế) và được nhận xét là có học lực rất khá. Tuy nhiên, việc học hành của ông bị gián đoạn một thời gian do thời cuộc chiến tranh. Mãi đến sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ông mới tiếp tục đến trường. Năm 1948, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Ngoài ra, ông rất thông thạo Pháp ngữ.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Cựu hoàng Bảo Đại về nước và thành lập Chính phủ Quốc gia Việt Nam, cuối năm 1949, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 43/200608. Sau đó được nhập học tại trường Võ bị Địa phương của Quân đội Pháp tại An Cựu, Huế (École des Cadres de An Cuu). Tháng 9 năm 1950 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông được chọn làm sĩ quan cận vệ cho Quốc trưởng Bảo Đại. Qua năm 1951, ông được cử làm Trưởng phòng Liên lạc Việt-Pháp thuộc Việt binh đoàn ở Huế. Tháng 9 cùng năm, ông được chọn về ngành Kỵ binh và được cử sang Pháp thụ huấn tại trường Thiết giáp binh Saumur. Cùng học với ông khóa này có một Trung úy trẻ người Việt tên Lâm Văn Phát.

Giữa năm 1952, mãn khóa học từ Pháp về nước, ông được thăng cấp Trung úy và chuyển ngạch sang phục vụ trong Quân đội Quốc gia Việt Nam, được điều động làm Trung đội trưởng thuộc Đại đội 1 Thám thính thuộc Đệ nhất Đại đội Thám thính do Đại úy Quách Xến[5] làm Đại đội trưởng, đồn trú tại Cần Thơ. Thượng tuần tháng 8 cùng năm, ông được chuyển sang làm Đại đội trưởng Đại đội 3 Thám thính đồn trú tại Gia Lâm, thay thế người bạn đồng học cũ là Đại úy Lâm Văn Phát. Tháng 8 năm 1953, ông được đặc cách thăng cấp Đại úy tại mặt trận.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Hiệp định Genève, 1954 được ký kết, ông cùng đơn vị vào Nam. Tháng 11 năm 1954, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Kỵ binh tân lập tại Gia Định.

Mặc dù là người hoàng tộc, từng là sĩ quan cận vệ cho Quốc trưởng Bảo Đại, nhưng ông đứng ngoài cuộc tranh giành quyền lực giữa lực lượng ủng hộ Quốc trưởng và Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Tháng 8 năm 1955, rời khỏi chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Kỵ binh, ông được cử đi học lớp Tham mưu cao cấp[6] tại trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Fort Laevenworth thuộc Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ.

Tháng 7 năm 1956 về nước, ông vẫn tiếp tục phục vụ trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Mặc dù vậy, ông vẫn gặp nhiều nghi kỵ từ phía Tổng thống Ngô Đình Diệm do mối liên hệ hoàng tộc. Vì vậy, ông bị chuyển công tác phục vụ tại Trường Đại học Quân sự, một chức vụ không có thực quyền.

Trong những năm sau đó, con đường hoạn lộ của ông khá chậm chạp. Đầu tháng 10 năm 1959, ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Huấn luyện Thiết giáp tại Liên trường Võ khoa Thủ Đức. Ngày Quốc khánh Đệ nhất Cộng hòa 26 tháng 10 năm đó, ông được thăng cấp Trung tá nhiệm chức. Tháng 2 năm 1961, bàn giao trường Thiết giáp lại cho Đại úy Dương Văn Đô,[7] ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Liên trường Võ khoa do Thiếu tướng Hồ Văn Tố làm Chỉ huy trưởng. Giữa năm 1962, ông được đề bạt lên làm Chỉ huy phó Liên trường Võ khoa do Đại tá Phan Đình Thứ làm Chỉ huy trưởng. Cùng năm này, ông nhận chỉ thị sáng lập và trở thành Chỉ huy trưởng đầu tiên của Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Vạn KiếpBà Rịa (Phước Tuy).

Thăng tiến trong mùa đảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

Do bất mãn bị kỳ thị, qua sự tác động của Đại tá Đỗ Mậu, ông sớm ngả về các tướng lĩnh âm mưu đảo chính lật đổ Tổng thống Diệm. Từ đầu tháng 10 năm 1963, với tư cách Chỉ huy trưởng Trung tâm Vạn Kiếp, ông đã cho thành lập một đơn vị cấp Tiểu đoàn, gồm các sĩ quan huấn luyện và các học viên có kinh nghiệm, luôn ở trạng thái sẵn sàng đợi lệnh hành quân đột xuất.[8]

Ngay sau khi cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 nổ ra, ông chỉ huy đoàn xe Thiết giáp của Trung tâm Vạn Kiếp từ Bà Rịa tiến vào Sài Gòn qua hướng cầu Phan Thanh Giản (nay là cầu Điện Biên Phủ), hỗ trợ quân đảo chính giữ Đài phát thanh. Chiều ngày 2 tháng 11, ông chỉ huy Chiến đoàn Vạn Kiếp, một lực lượng hỗn hợp gồm Tiểu đoàn học viên của Trung tâm Vạn Kiếp, Tiểu đoàn 6 Nhảy dù và Chi đoàn 1 Thiết giáp thuộc Thiết đoàn 1 Kỵ binh, hỗ trợ quân đảo chính đánh chiếm thành Cộng Hòa.

Nhờ công lao này, ngay tối ngày 2 tháng 11 năm 1963, ông được các tướng lĩnh chỉ huy đảo chính thăng lên cấp Đại tá nhiệm chức và bổ nhiệm vào chức vụ Tham mưu phó Liên quân tại Bộ Tổng tham mưu. Không đầy một tháng sau, ông được Hội đồng Quân nhân Cách mạng chỉ định vào chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Thiết giáp Trung ương. Đường công danh của ông rạng rỡ từ đây.

Sau khi tướng Nguyễn Khánh tiến hành cuộc chỉnh lý tước quyền các tướng lĩnh cầm đầu Hội đồng Quân nhân Cách mạng, thường tuần tháng 2 năm 1964, ông nhận lệnh bàn giao Bộ chỉ huy Thiết giáp và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh, kiêm Tư lệnh Biệt khu 41, bao gồm các tỉnh Vĩnh Long, Sa Đéc, Kiến Phong (Đồng Tháp). Nhằm tranh thủ sự ủng hộ từ phía ông, ngày 11 tháng 8 năm 1964, tướng Khánh đã thăng cấp cho ông và 7 đại tá khác lên cấp bậc Chuẩn tướng vừa được đặt ra.[9]

Với việc thăng lên cấp bậc tướng, ông trở thành một thành viên của Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Mặc dù Hội đồng Quân nhân Cách mạng đã tuyên bố chấm dứt hoạt động chỉ 2 tháng sau đó, nhưng trên thực tế các tướng lĩnh tập hợp một cơ chế lãnh đạo chính trị riêng, từ đó hình thành Hội đồng Quân lực. Với cơ chế này, ông cùng các tướng trẻ khác được mệnh danh là "nhóm tướng trẻ" (Young Turks), từng bước thâu tóm quyền lực mà đỉnh điểm là việc phế truất tướng Nguyễn Khánh và ép tướng Khánh phải lưu vong.

Cuối tháng 5 năm 1965, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô. Khi Chính phủ do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia và tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương ra đời. Ngày 20 tháng 6 năm 1965, ông được thăng cấp Thiếu tướng nhiệm chức và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu 2 thay thế tướng Nguyễn Hữu Có. Ngày 24 tháng 10 cùng năm, ông cho đặt tên doanh trại của Bộ tư lệnh Quân đoàn II là thành Pleime để kỷ niệm thắng lợi của trận Plei Me. Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1966, ông được thăng cấp Trung tướng nhiệm chức.

Biến động Cao nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay khi vừa nhận chức Tư lệnh Quân đoàn II & Vùng 2 Chiến thuật, tướng Vĩnh Lộc đương đầu ngay với vụ nổi dậy của các thành viên vũ trang của FULRO, khởi đầu từ các binh sĩ thuộc lực lượng Dân sự chiến đấu (Civilian Irregular Defense GroupCIDG) ở trại Sarpa ở buôn Daksak, thuộc quận Đức Lập, tỉnh Quảng Đức, lan ra tận các tỉnh Darlac và Pleiku. Ngày 29 tháng 7 năm 1965, 200 lính FULRO đã vượt biên giới tấn công đánh chiếm đồn Buôn Briêng. Một nhóm khác chiếm đóng Buôn Buor (Đarlac) và khống chế một cây cầu trên quốc lộ 14. Ngay lập tức, ông ra lệnh cho Sư đoàn 23 và một số Tiểu đoàn Biệt Động Quân cùng Thiết giáp hành quân giải tỏa. Ngày 2 tháng 8 năm 1965, lực lượng FULRO tại đồn Buôn Briêng rút lui và đem theo 181 binh lính Dân sự Chiến đấu người Thượng. Ngày 15 tháng 9 năm 1965, 500 lính FULRO chiếm giữ Buôn Buor ra hàng.

Từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 12 năm 1965, lực lượng FULRO lại tấn công đồn Phú Thiện sát hại 32 người và làm bị thương 26 người khác; chiếm đồn Krong Pách, giết hết binh sĩ người Kinh; đột nhập tòa hành chính và Tiểu khu Quảng Đức, giết hết người Kinh, treo cờ FULRO. Với binh lực trong tay, tướng Vĩnh Lộc hoàn toàn có thể trấn áp quân bạo loạn. Tuy nhiên, do sự can thiệp của Đại sứ quán Mỹ, các nhóm vũ trang của FULRO do đó luôn có thể đưa ra yêu sách ngừng bắn khi hết đạn và rút qua biên giới sang Campuchia. Vì vậy, tướng Vĩnh Lộc một mặt vẫn cho thực hiện các cuộc hành quân trấn áp, mặt khác qua các cuộc tiếp xúc với đại diện FULRO, lắng nghe những đòi hỏi của họ, và hứa sẽ nhượng bộ một số yêu cầu.

Từ giữa năm 1965, các hoạt động chính trị và quân sự của FULRO không còn là tâm điểm chú ý của tướng Vĩnh Lộc khi mà ông phải đối mặt với một đối thủ mạnh hơn nhiều: Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Sự kiện Mậu Thân 1968[sửa | sửa mã nguồn]

Sự kiện tết Mậu Thân (1968), ông đã ra lệnh cho chỉ huy các đơn vị không được rời nhiệm sở để đề phòng bất trắc nhưng ông vẫn bất chấp ngang nhiên bay về Sài Gòn ăn tết. Vì Vậy Pleiku cũng như nhiều đô thị khác, cũng bị quân Giải phóng tấn công. Sau khi ăn tết xong, ông vẫn không chịu về nhiệm sở mà về tư dinh của mình).

Ngày 23 tháng 2 năm 1968, ông bị cách chức và bàn giao Bộ tư lệnh Quân đoàn II lại cho Thiếu tướng Lữ Lan,[10] (kết quả về sự thất bại của ông trong Tết Mậu Thân).

Vị tướng không quân[sửa | sửa mã nguồn]

Vì vậy ông bị triệu hồi về Bộ Tổng tham mưu làm Phụ tá Tổng tham mưu trưởng kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn. Trung tuần tháng 2 năm 1969, ông được cử làm Chỉ huy trưởng trường Cao đẳng Quốc phòng. Sau đó, ông được cử đi làm Cố vấn Quân sự cho Phái đoàn Hòa đàm Paris tại Pháp. Trung tuần tháng 8 cùng năm, ông được triệu hồi về nước giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Cao đẳng Quốc phòng (vẫn là những chức vụ không có thực quyền).

Đến năm 1973, ông lại bị Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tước sạch mọi chức vụ vì lý do, trong một chuyến công du Thổ Nhĩ Kỳ, ông đã tự ý bay sang Pháp để liên lạc với cựu hoàng Bảo Đại. Một lần nữa, ông lại phải ở cương vị "ngồi chơi xơi nước" tại Bộ Tổng Tham mưu.

Tổng tham mưu trưởng cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, ông được tân Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định làm Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa.[11] Nhậm chức, ông đã lớn tiếng hô hào quân sĩ sát cánh tử thủ đến cùng. Nhưng chỉ chưa đầy một ngày, sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông đã vội tháo bỏ hết quân phục, xuống bến Bạch Đằng lên một chiến hạm nhỏ lưu vong ra nước ngoài.[12]

Cuộc sống lưu vong[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lưu vong, ông cùng gia đình đã đến định cư tại Thành phố Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.

Ngày 8 tháng 1 năm 2009, ông từ trần tại nơi định cư, hưởng thọ 86 tuổi.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

-Bảo quốc Huân chương đệ nhị đẳng (ân thưởng)
-Nhiều huy chương quân sự, dân sự và đồng minh

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Nguyễn Phúc Bửu Hội (bị Việt Minh sát hại năm 1946)

Ông đã từng có một đời vợ trước và 4 người con. Về sau ông lập gia đình với bà Đỗ Thị Lài, thường được biết đến với nghệ danh Minh Hiếu, một nữ danh ca lừng danh một thời tại miền Nam Việt Nam. Chuyện tình duyên của ông bà từng là đề tài của nhiều giai thoại thời bấy giờ.[13]

  • Các con: Bảo Cẩn, Bảo Trí, Yên Thảo, Hương Cần, Bảo Lân, Quế Thảo và Ngân Thảo

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo sách "Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa" do các cựu sĩ quan QLVNCH: Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy biên soạn, xuất bản năm 2011 tại Hoa Kỳ.
  2. ^ Ba giai đoạn phục vụ trong Binh chủng Thiết giáp:
    -Lần thứ nhất: Trung úy đến Thiếu tá chỉ huy cấp Trung đội đến cấp Trung đoàn (1952-1955)
    -Lần thứ hai: Trung tá Chỉ huy trưởng trường Thiết giáp tại Liên trường Võ khoa Thủ Đức (1959-1961)
    -Lần thứ ba: Đại tá Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp (1963-1964)
  3. ^ Hai giai đoạn phục vụ tại Bộ Tổng Tham mưu:
    -Lần thứ nhất: Trung tướng phụ tá Quân huấn Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn (1968-1969)
    -Lần thứ hai: Trung tướng Tổng Tham mưu trưởng (29/4-30/4/1975)
  4. ^ Cố vấn Quân sự cho Phái đoàn Hòa đàm Paris của VNCH tại Pháp
  5. ^ Đại uý Quách Xến tốt nghiệp khóa 1 Võ bị Viễn Đông Đà Lạt. Sau cùng là Đại tá Đổng lý Văn phòng tại Bộ Quốc phòng, giải ngũ năm 1966.
  6. ^ Đây là lớp học Chỉ huy và Tham mưu đầu tiên niên khóa 1955-1956 thụ huấn 42 tuần, có 3 sĩ quan người Việt được trường Đại học Quân sự Hoa kỳ thu nhận gồm có: Thiếu tá Vĩnh Lộc, Thiếu tá Nguyễn Bảo Trị
    -Thiếu tá Trần Văn Hổ (Tốt nghiệp khóa 1 Võ bị Huế. Sau cùng là Đại tá Giám đốc Nha Kỹ thuật Bộ Tổng Tham mưu (1964-1968).
    (Trong Quân lực VNCH có hai sĩ quan cấp Đại tá cùng có tên Trần Văn Hổ. Tuy nhiên cả hai đều có tên quốc tịch Pháp nên khi nói đến hai ông phải kèm theo tên Pháp để dễ nhận biết, Đại tá Giám đốc Nha Kỹ thuật là Blanchard Trần Văn Hổ, người còn lại là Paul Trần Văn Hổ, nguyên Đại tá Tư lệnh đầu tiên Quân chủng Không quân VNCH).
  7. ^ Đại uý Dương Văn Đô sinh năm 1926 tại Sơn Tây, tốt nghiệp khóa 2 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Chức vụ sau cùng: Đại tá Chỉ huy trưởng trường Thiết giáp.
  8. ^ Chiến đoàn “ma” trong vụ đảo chính Ngô Đình Diệm
  9. ^ Đợt thăng cấp tướng ngày 11 tháng 8 năm 1964 có 8 Đại tá được thăng cấp Chuẩn tướng. Ngoài Đại tá Vĩnh Lộc còn có các Đại tá: Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Xuân Trang, Nguyễn Cao, Nguyễn văn Kiểm, Đặng Văn Quang, Lê Nguyên KhangHoàng Xuân Lãm.
  10. ^ Tucker, pp. 526–533.
  11. ^ Thay thế Trung tướng Đồng Văn Khuyên đang Xử lý Thường vụ chức vụ này sau khi Đại tướng Cao Văn Viên xin từ chức để giải ngũ.
  12. ^ Ba đào tình ái Tết Mậu Thân của tướng Sài Gòn Vĩnh Lộc
  13. ^ Từ Kế Tường, Bí ẩn bài hát Hoa trinh nữ. Phóng sự nhiều kỳ. đăng trên trang tin motthegioi.vn. 2015.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trang 170-172

Sách[sửa | sửa mã nguồn]