Nguyễn Phong Di

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Nguyễn Phong Di (阮豐貽[1]), vốn tên thật là Nguyễn Thái Bạt, sinh nãm 1889, người làng Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay là làng Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá). Thời trẻ ông từng theo phong trào Đông Du, sang Nhật Bản học ở Đồng văn học hiệu với sự giúp đỡ của Asaba Sakitaro. Khi phong trào Đông Du bị đàn áp, Phan Bội Châu phải lánh về Trung Quốc, chính ông là người hộ tống Hoàng thân Cường Để cùng Phan Bội Châu về hoạt động ở Quảng Đông. Sau này vì các phong trào yêu nước lần lượt bị thất bại, ông trở về nước và ra trình diện chính quyền thực dân. Sống ở quê nhà, tự thấy phải có chức danh thì mới giúp được dân địa phương, vì vậy ông đành theo đòi lối học cử tử, mặc dù bấy giờ nho học đã suy tàn. Ông đã lần lượt thi đỗ Cử nhân rồi Tiến sĩ khoa thi cuối cùng Nho học (khoa Kỷ Mùi - 1919 - lúc ông 30 tuổi), đoạt danh hiệu đứng đầu là Đình Nguyên Nguyễn Phong Di.

Nguyễn Phong Di ra làm quan chưa được bao lâu thì bị bệnh mà chết, văn thân xứ Nghệ đã viếng đôi câu đối: "Một nén hương đưa người chí sỹ/ Trăm năm còn mãi tiếng đình nguyên". (Nhà báo Nguyễn Duy Hữu chú thích)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]