Nguyễn Thị Bích (nhà thơ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nguyễn Thị Bích [1](1830-1909), còn được gọi là Nguyễn Nhược Thị Bích hay Nguyễn Nhược Thị, tự: Lang Hoàn; là tác giả bài Hạnh Thục ca trong văn học Việt Nam.

Bà là một phi tần của hoàng đế Tự Đức nhà Nguyễn, là một cung phi có tài danh, đức độ được biết đến của triều đại này.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Nhược Thị Bích sinh tại làng Đông Giang, huyện An Phước, đạo Ninh Thuận (vùng Phan Rang, nay thuộc tỉnh Ninh Thuận). Bà là con gái thứ tư của Nguyễn Nhược Sơn (hay Nguyễn Nhược San, nguyên là Bố chính tỉnh Thanh Hóa) và bà Thục nhân họ Nguyễn[2]

Vào cung[sửa | sửa mã nguồn]

Nhờ tư chất thông minh, lại được đi học ngay từ nhỏ nên bà sớm nổi tiếng về tài văn chương. Vừa có tài sắc, lại được Phụ chính đại thần Lâm Duy Nghĩa tiến cử, năm 18 tuổi (Tự Đức nguyên niên, 1848), Nguyễn Nhược Thị Bích được tuyển vào cung. Trong một buổi ngâm vịnh, Vua Tự Đức xướng đề thơ Tào Mai (Hoa mai sớm nở) và bài họa của bà được nhà vua khen tặng 20 nén bạc, đồng thời cho sung chức Thượng Nghi Viên Sư, để dạy học trong nội cung.

Sau đó, bà lần lượt được phong: Tài nhân (1850), Mỹ nhân (1860), rồi Quý nhân.

Năm 1868, bà được tấn phong là Lục giai Tiệp dư. Theo sử nhà Nguyễn, thì trong khoảng thời gian bà được cử làm thầy dạy "kinh điển và dạy tập nội đình" cho Đồng Khánh khi ông chưa lên ngôi. Vì thế, trong cung người ta còn gọi bà là Tiệp Dư Phu Tử [3]. Chính bởi vậy bà Tiệp dư được Tự Đức tin cậy, yêu mến, thường cho cùng đi trong những buổi vua đến vấn an mẹ và những cuộc trao đổi riêng với Hoàng thái hậu Từ Dụ về công việc trong triều, trong hoàng tộc, những diễn biến của đất nước. Một thời gian sau, Tiệp dư Nguyễn Thị Bích trở thành Bí thư cho Thái hậu Từ Dũ, nhờ vậy mà bà nghe được nhiều điều trao đổi giữa thái hậu và vua, bởi những lúc đó chỉ mình bà được ở gần hầu hạ.

Sau khi vua Tự Đức qua đời (1883), mọi ý chỉ sắc dụ của Lưỡng Tôn cung (chỉ Hoàng thái hậu Từ Dụ và Chính phi Trang Ý) đều do một tay bà soạn thảo[4].

Chạy loạn[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ "tứ nguyệt tam vương" (bốn tháng ba vua), cũng như những người ở nội cung, Tiệp dư Nguyễn Nhược Thị Bích phải chịu sự chuyên chế của hai phụ chính đại thần là Tôn Thất ThuyếtNguyễn Văn Tường trong việc phế lập các vua Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc.

Tháng 5 năm Ất Dậu (tháng 7 năm 1885), cuộc phản công của phe chủ chiến ở Kinh thành Huế thất bại. Phụ chính Tôn Thất Thuyết phải phò vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, bà hộ giá Tam cung chạy ra Quảng Trị (đoàn chỉ đến đây rồi trở lại Khiêm Lăng-Huế). Nhưng không lâu sau, vì hoàn cảnh quá khó khăn nên không lâu sau bà rước Tam cung trở lại Huế, đến lánh ở Khiêm Lăng (Lăng vua Tự Đức) rồi trở về hoàng cung, chịu sự quản chế của Pháp. Nhân sự kiện này, bà sáng tác bài Hạnh Thục ca (còn có tên Loan dư Hạnh thục quốc âm ca) bằng chữ Nôm kể lại sự kiện lịch sử ấy, mượn tích truyện vua Đường Huyền Tông ở Trung Quốc bỏ kinh đô, chạy vào đất Thục để tránh loạn An Lộc Sơn mà qua đó nói về tình hình đất nước với những biến cố từ khi quân Pháp xâm lược.

Trở về Hoàng cung[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Nguyễn Nhược Thị Bích theo Tam cung hồi loạn về Huế, lúc này người con nuôi và cũng là học trò của bà, hoàng tử Ưng Kỷ, đã lên ngôi, lấy hiệu là Đồng Khánh. Cũng trong khoảng thời gian đó, bà hết lòng hầu hạ, làm mọi việc do Thái Hoàng Thái hậu Từ Dũ giao cho, những lúc rảnh rỗi bà vẫn sáng tác văn thơ.

Năm Thành Thái thứ 4 (1892), bà được Thái hoàng thái hậu Từ Dụ tấn phong làm Tam giai Lễ tần.

Tháng 11 (âm lịch) năm Duy Tân thứ 3 (1909), Nguyễn Thị Bích qua đời tại Huế, thọ 79 tuổi. Lăng mộ bà hiện ở làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm của Nguyễn Thị Bích có một số bài thơ chữ Hán và một tác phẩm có tên là Loan dư Hạnh thục quốc âm ca (còn gọi là Hạnh thục ca) bằng chữ Nôm, dài 1036 câu theo thể thơ lục bát, phần lớn kể lại mọi biến cố xảy ra từ khi quân Pháp sang đánh chiếm Việt Nam cho đến khi Thành Thái lên nối ngôi vua.

Theo các nhà nghiên cứu, thì đây là một tác phẩm rất có giá trị về mặt sử liệu. Tuy nhiên, qua nó cũng đã cho thấy tác giả là một người quen sống trong cung cấm, có tầm nhìn hẹp, có tâm lý sợ khổ và nặng tư tưởng cầu an [5].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tên chính biên theo Đại Nam chính biên liệt truyện, tr. 94.
  2. ^ Theo Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử (tập 1), tr. 467.
  3. ^ Ghi theo Đại Nam chính biên liệt truyện (tr. 95). Theo bài viết "Thầy giáo của nhiều vị vua" trên website Hội Phụ nữ Việt Nam, thì năm 1868, bà được vua Tự Đức giao việc giảng dạy cho các hoàng tử (trong số đó có vua Kiến PhúcĐồng Khánh sau này) những kiến thức về văn học, phép tắc lễ nghi nơi cung cấm...[1].
  4. ^ Theo Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử (tập 1), tr. 468.
  5. ^ Xem chi tiết ở trang Hạnh Thục ca.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện (truyện "Dực Tôn Lệ Thiên Anh Hoàng hậu"). Nhà xuất bản Văn học, 2004.
  • Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học liệu xuất bản (bản in lần thứ 10), Sài Gòn, 1968.
  • Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quyển 3). Quốc học tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1965.
  • Đỗ Thị Hảo, Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2010.
  • Cao Tự Thanh (tổng chủ biên), Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử (tập 1). Nhà xuất bản Phụ Nữ, 2011.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]