Nguyễn Thanh Châu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
NGUYỄN THANH CHÂU
Tiểu sử
Sinh Tháng 8 năm 1933 (84 tuổi)
Long An, Liên bang Đông Dương
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1953-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Tổ quốc - Đại dương.gif Quân chủng Hải quân
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam

Nguyễn Thanh Châu, nguyên là một tướng lĩnh Hải quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Hải hàm Phó Đề đốc, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu ở trường Sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng hòa tại duyên hải Trung phần (do Quân đội Quốc gia tiếp quản từ cơ sở Hải quân của Quân đội Pháp). Ông đã tuần tự giữ từ những chức vụ nhỏ cho đến sau cùng là Chỉ huy trưởng trường Huấn luyện đào tạo Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Thuỷ thủ của Quân chủng Hải quân.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 8 năm 1933 trong một gia đình điền chủ khá giả tại Long An, miền Tây Nam phần Việt Nam. Thiếu thời ông học Tiểu học tại quê nhà. Do gia đình có điều kiện, khi học lên trên ông được về học ở Sài Gòn. Năm 1952, ông tốt nghiệp Trung học Phổ thông chương trình Pháp tại Sài Gòn với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa năm 1953, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 53/700.003. Trúng tuyển được theo học khóa 3 tại trường Sĩ quan Hải quân Nha Trang,[1] khai giảng vào tháng 7 năm 1953, Tháng giêng năm 1954 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Hải quân Thiếu úy thuộc ngành chỉ huy.[2] Ra trường, được chuyển đi thực tập trên chiến hạm của Hải quân Pháp.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa năm 1956, sau một thời gian từ Quân đội quốc gia chuyển qua phục vụ cơ cấu mới của nền Đệ nhất Cộng hòaQuân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Hải quân Trung úy và được cử làm Chỉ huy phó căn cứ Hải quân Tiên Sa tại Đà nẵng.

Đầu năm 1961, ông được thăng cấp Hải quân Đại úy và được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Căn cứ Hải quân Tiên Sa. Qua tháng 10 năm 1962, ông được giao nhiệm vụ nhận lãnh Hộ tống hạm Chi Lăng II HQ-08 (do Hải quân Hoa Kỳ chuyển giao lại cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa) và được cử giữ chức Hạm trưởng đầu tiên.[3]

Đầu tháng 2 năm 1966, sau cuộc chỉnh lý nội bộ Hội đồng Quân nhân Cách mạng của tướng Nguyễn Khánh, ông được thăng cấp Hải quân Thiếu tá tại nhiệm. Sau đó chuyển về Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang giữ chức vụ Trưởng khối Huấn luyện. Đầu năm 1969, ông được thăng cấp Hải quân Trung tá và được cử làm Chỉ huy phó Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang.

Trung tuần tháng 1 năm 1973, ông được thăng cấp Hải quân Đại tá và được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang thay thế Hải quân Đại tá Nguyễn Trọng Hiệp.[4] Ngày 1 tháng 4 năm 1974, ông được thăng Hải hàm Phó Đề đốc, cấp bậc Chuẩn tướng tại nhiệm.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 4, Hải vận hạm Hậu Giang HQ-406 do Hải quân Trung tá Nguyễn Quốc Trị[5]làm Hạm trưởng, được lệnh vào vịnh Cầu Đá, Nha Trang để di tản toàn bộ Trung tâm Huấn luyện Hải quân gồm khóa 26 Đệ tam Kim Ngưu cùng học viên chuyên nghiệp và 2 Đại đội cơ hữu của Trung tâm về đóng tại căn cứ Hải quân Cát Lái, Thủ Đức, Gia Định.

Đêm 29 tháng 4, ông di tản ra khơi trên Khu trục hạm Trần Hưng Đạo (Soái hạm HQ-1). Sau đó ông được sang định cư tại Hoa Kỳ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Khóa 3 Sĩ quan Hải quân có 13 học viên nhập khóa, trong đó có 10 học viên được đào tạo theo ngành chỉ huy và 3 học viên theo ngành cơ khí
  2. ^ Tốt nghiệp khóa 3 sĩ quan Hải quân Nha Trang, sau này đều là sĩ quan cao cấp trong Quân chủng Hải quân:
    -Cấp Phó Đề đốc (Chuẩn tướng) ngành chỉ huy:
    -Nguyễn Hữu Chí (Sinh năm 1931 tại Bến Tre. Chức vụ sau cùng: Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm 213 Hải quân)
    -Vũ Đình Đào (Sinh năm 1931 tại Hải Phòng. Chức vụ sau cùng: Tư lệnh Hải quân Vùng 3 Duyên hải (Hải khu 3)
    -Diệp Quang Thủy (Sinh năm 1932 tại Ba Xuyên. Chức vụ sau cùng: Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân).
    -Cấp Hải quân Đại tá, Trung tá ngành chỉ huy (CH) và cơ khí (CK):
    -Phan Văn Cổn (CH) (Sinh năm 1933 tại Châu Đốc. Chức vụ sau cùng: Tham mưu phó Nhân viên tại Bộ Tư lệnh Hải quân).
    -Lê Thanh Truyền (CH) (Sinh năm 1932 tại Sài Gòn. Chức vụ sau cùng: Tư lệnh Hạm đội Hải quân).
    -Nguyễn Ngọc Xuân (CK) (Snăm 1831 tại Sài Gòn. Chức vụ sau cùng: Chỉ huy trưởng căn cứ Tiếp vận Hải quân Vùng 4 Sông ngòi).
    -Nguyễn Thiện Nhựt (CH) (Sinh năm 1932 tại Bình Dương. Chức vụ sau cùng: Hải quân Trung tá Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải (Hải khu 1)
  3. ^ Hạm trưởng Hộ tống hạm Chi Lăng II HQ-08 sau cùng là Hải quân Thiếu tá Nguyễn Trường Yên, Tốt nghiệp khóa 15 Sĩ quan Hải quân Nha Trang).
  4. ^ Sinh năm 1934 tại Hà Nội, tốt nghiệp khóa 5 Sĩ quan Hải quân.
    -Thời điểm Đại tá Châu nhậm chức Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang. Chỉ huy phó là Hải quân Trung tá Nguyễn Văn Nhựt, tốt nghiệp khóa 8 Sĩ quan Hải quân Nha Trang.
  5. ^ Sinh năm 1938 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khóa 10 Sĩ quan Hải quân Nha Trang.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.