Nguyễn Văn Là

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
NGUYỄN VĂN LÀ
Tiểu sử
Sinh 7 tháng 12 năm 1918
Biên Hòa, Việt Nam
Mất 22 tháng 9, 1990 (72 tuổi)
Texas, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1937-1974
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị Presidential Standard of South Vietnam (1955-1963).png Phủ Tổng thống
RVN National Police Flag.svg Cảnh sát Quốc gia
Flag of Dong De Military School.svg Trường Hạ sĩ quan
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Cờ Bảo quốc an dân.png Đ.P.Quân và N.Quân
Chỉ huy Flag of France.svg Quân đội Viễn chinh
Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến -Chiến tranh Đông Dương
-Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.Quốc H.Chương đệ III[1]
Công việc khác [[ ]] Tỉnh trưởng
RVN National Police Flag.svg Tổng Giám đốc CSQG

Nguyễn Văn Là (1918-1990), nguyên là một cựu tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông nguyên được đào tạo trong môi trường Quân đội từ nhỏ (Thiếu sinh quân), sau đó được đào tạo tiếp tại trường Võ bị để trở thành một sĩ quan phục vụ trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Sau này, trong Quân đội, ông đã từng giữ các chức vụ chỉ huy cấp Tiểu đoàn, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng, Ông cũng từng giữ chức vụ đứng đầu ngành Cảnh sát Quốc gia. Chỉ huy trưởng các trường đào tạo nhân lực cho Quân đội và cuối cùng ông là người chỉ huy thứ hai ở cơ quan cao nhất của Quân đội chỉ sau Tổng Tham mưu trưởng. Ông cũng là một trong số ít sĩ quan được phong cấp tướng ở thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 7 tháng 12 năm 1918 tại Biên Hòa. Cha mẹ ông qua đời lúc ông còn nhỏ, ông sống với ông bà ngoại tại Biên Hòa. Năm 1931, ông được người cậu là Thượng sĩ Nguyễn Văn Quan[2] đỡ đầu và giới thiệu theo học trường Thiếu sinh quân Đakao, Sài Gòn. Năm 1935, ông được chuyển qua trường Thiếu sinh quân Đông Dương Cap Saint Jacques (Vũng Tàu) và đến năm 1937 ra trường.

Phục vụ Quân đội Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đó ông nhập ngũ vào Quân đội Pháp, mang số quân: 38/100.424 với cấp bậc là một Hạ sĩ quan. Đến năm 1944, ông được cử theo học sĩ quan tại trường Võ bị Tông Sơn Tây. Tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, ông cùng với 5 người vừa Việt vừa Pháp vào rừng theo Đồng Minh để kháng Nhật. Ngày 15 tháng 8 Nhật đầu hàng Đồng Minh ở Đông Dương, 5 người bạn lần lượt đều bị Nhật sát hại, chỉ mình ông thoát thân. Sau đó ông được Pháp trao tặng Huy Chương Đào thoát, đồng thời ông được thăng cấp Thiếu úy. Đến cuối tháng 4 năm 1946, ông được thăng cấp Trung úy và được cử làm Chỉ huy phó trường Thiếu sinh quân Đakao. Giữa năm 1947, ông được chỉ định làm Chánh chủ khảo kỳ thi mãn khóa sĩ quan ở trường Võ bị Địa phương Vũng Tàu. Sau đó, ông được thăng cấp Đại úy chuyển biên chế sang Quân đội Liên hiệp Pháp giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Việt Nam.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập, ông được chuyển biên chế từ Quân đội Liên hiệp Pháp sang phục vụ cơ cấu mới này và vẫn Chỉ huy Tiểu đoàn 3 Việt Nam cũng được chuyển quân số sang trực thuộc Quân đội Quốc gia. Năm 1952, Quân đội Quốc gia thành lập Bộ Tổng Tham mưu, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Kiến Hòa.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1956, sau một thời gian chuyển qua Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Trung tá, được cử làm Tư lệnh Phân khu Mỹ Tho kiêm Tư lệnh Biệt khu Đồng Tháp Mười. Bộ Chỉ huy Biệt khu đặt tại Gò Bắc Chiên, Mộc Hóa, Chánh văn phòng lúc bấy giờ là Trung úy Nguyễn Văn Đông.[3] Cuối năm 1957, ông được thăng cấp Đại tá chuyển về Phủ Tổng thống giữ chức vụ Tham mưu trưởng Tham mưu Biệt bộ thay thế Trung tá Huỳnh Văn Cao[4]

Đầu tháng 2 năm 1958, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tham mưu trưởng Biệt bộ lại cho Thiếu tá Cao Văn Viên. Sau đó, ông được thăng cấp Thiếu tướng được bổ nhiệm chức vụ Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an thay thế Thiếu tướng Phạm Xuân Chiểu. Trung tuần tháng 11 năm 1961, ông bàn giao chức vụ Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an lại cho Đại tá Nguyễn Văn Y. Sau đó ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô.

Đầu tháng 2 năm 1964, sau cuộc Chỉnh lý của tướng Nguyễn Khánh (30/1/1964), ông được chuyển ra Duyên Hải miền Trung giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng hòa (còn gọi là Quân trường Đồng Đế, Nha Trang) thay thế Trung tá Nguyễn Vĩnh Xuân[5] Tháng 11 năm 1966, bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan lại cho Đại tá Lâm Quang Thơ để trở về công tác tại Bộ Tổng tham mưu. Ngày 3 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Trung tướng giữ chức vụ Tổng tham mưu phó đặc trách Bình định và Phát triển kiêm Tư lệnh Địa phương quân & Nghĩa quân. Giữa năm 1970, ông được trao gắn Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu.

Đầu tháng 3 năm 1974, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tổng tham mưu phó lại cho Trung tướng Nguyễn Văn Mạnh. Cuối tháng 3, ông được giải ngũ vì lý do đã phục vụ quân đội trên 20 năm.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4, ông cùng gia đình di tản ra khỏi Việt Nam. Sau đó được sang định cư tại Stony Brook, Long Island, New York, Hoa Kỳ từ tháng 6 năm 1975. Đến năm 1981, di chuyển sang định cư ở Thành phố Houston thuộc Tiểu bang Texas.

Ngày 22 tháng 9 năm 1990, ông từ trần tại Houston, Texas. Hưởng thọ 72 tuổi.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

Được tặng thưởng nhiều Huy chương Quân sự, Dân sự và Đồng minh.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Bà Nguyễn Thị Minh (từng là Dân biếu Quốc hội Hạ viện thời Đệ nhị Cộng hòa)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng
  2. ^ Sinh năm 1910 tại Biên Hòa, xuất thân từ trường Thiếu Sinh quân Pháp, năm 1934 tốt nghiệp khóa Sĩ quan đặc biệt tại trường Sĩ quan Pháp. Chức vụ sau cùng: Thiếu tướng Giám đốc Nha An ninh Quân đội. Tham gia cùng tướng Lâm Văn Phát trong âm mưu đảo chính ngày 19 tháng 2 năm 1965. Một tháng sau bị buộc phải giải ngũ.
  3. ^ Sinh năm 1932 tại Sài Gòn, tốt nghiệp khóa 4 trường Võ bị Địa phương Nam Việt Vũng Tàu. Sau cùng là Đại tá Chánh văn phòng Tổng tham mưu phó kiêm Trưởng khối Lãnh thổ tại Bộ Tổng tham mưu. Hai bản nhạc "Chiều mưa biên giới" và "Phiên gác đêm xuân" được sáng tác khi vào thời gian ông đóng quân ở Mộc Hóa (1956-1957) gần biên giới Việt-Miên.
  4. ^ Trung tá Cao được cử đi làm Tư lệnh Sư đoàn 13 Khinh chiến tại Bến Kéo, Tây Ninh, Bản doanh đặt tại Doanh trại cũ của Quân đội Cao Đài.
  5. ^ Sinh năm 1927 tại Gia Định, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Chức vụ sau cùng: Đại tá Trưởng khối Giảng huấn tại trường Cao đẳng Quốc phòng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.