Emmanuel Xavier Nguyễn Văn Triệu
Thánh Manuel Xavier Nguyễn Văn Triệu | |
|---|---|
| |
| Sinh | 18 tháng 1 năm 1756 làng Kim Long, huyện Hương Trà, Chánh Dinh, Đàng Trong |
| Mất | 17 tháng 9 năm 1798 (42 tuổi) pháp trường Bãi Dâu, Chợ Mụ Đặng, Phú Xuân, xứ Thuận Hóa, Đại Việt |
| Tôn kính | Giáo hội Công giáo |
| Chân phước | 27 tháng 5 năm 1900, Roma bởi Giáo hoàng Giáo hoàng Lêô XIII |
| Tuyên thánh | 19 tháng 6 năm 1988, Quảng trường Thánh Phêrô, thành Roma bởi Giáo hoàng Giáo hoàng Gioan Phaolô II |
| Đền chính | Giáo xứ Kim Long (nơi sinh), Giáo xứ Phường Đúc và Giáo xứ Dương Sơn (nơi an táng) |
| Lễ kính | 17 tháng 9 |
| Biểu trưng | mặc áo chùng thâm, áo lễ trắng, dây các phép đỏ, mũ ba khía biretta, cầm nhành thiên tuế bên cạnh gông gỗ, gươm cán dài cùng một quan tiền kẽm Cảnh Thịnh thông bảo. |
| Quan thầy của | linh mục triều, tuyên úy, cận vệ, sĩ quan quân nhu, hậu cần, Huế, Chủng viện Trung Linh |
| Bị bách hại | bởi Cảnh Thịnh (Tây Sơn) |
| Cách xưng hô với Manôel Xaviê Nguyễn Văn Triệu | |
|---|---|
| Danh hiệu | Linh mục |
| Trang trọng | Cha, Cố |
| Sau khi qua đời | Thánh |
Emmanuel Xavier Nguyễn Văn Triệu (chữ Hán: 阮文兆, tiếng Latinh: Emmanuel Xaverius, tiếng Bồ Đào Nha: Manuel Xavier) là linh mục triều tử đạo tiên khởi người Việt Nam dưới triều vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn, được Giáo hội Công giáo tuyên phong hiển thánh vào năm 1988. Ngài sinh năm 1756 trong một gia đình quý tộc có nhiều đời làm quan phụng sự các Chúa Nguyễn tại làng Kim Long, thành Phú Xuân, khi ấy thuộc Địa phận Bắc Đàng Trong. Cha ngài là Cai đội Quân nhu Nguyễn Văn Đặng, một quan lại đã cải sang đạo Công giáo và phò tá Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Từ thuở nhỏ, ngài sống với mẹ ở quê ngoại và nơi rửa tội là làng Thợ Đúc rồi gia nhập Vũ Lâm quân phò tá Chúa Nguyễn Phúc Thuần năm 15 tuổi. Cuối năm 1774, quân Chúa Trịnh chiếm được Phú Xuân, thánh Triệu vì đói khát nên phải bỏ quê hương mà theo đàn quân của Quận Việp Hoàng Ngũ Phúc trở về Thăng Long. Ở Đàng Ngoài, ngài được các linh mục Dòng Tên (đã bị phá bởi Giáo hoàng Clêmentê XIV vào năm 1773) nhận nuôi làm người nhà và cho ăn học để làm linh mục phụ giúp nhà dòng. Cuối năm 1786, theo chỉ thị từ Tòa Thánh, ngài được Đức Giám mục Manuel Obellar Khâm O.P. nhận vào Chủng viện Trung Linh của Dòng Đa Minh với tư cách là chủng sinh giúp Dòng Tên cùng với Philipphê Nguyễn Văn Bỉnh là bạn thân của ngài. Ngài được thụ phong linh mục vào năm 1793 và phái đi mục vụ các xứ đạo ở vùng ven biển tỉnh Nam Định. Sau nhiều năm ở ngoài Bắc, ngài được Đức Giám mục Feliciano Alonso Phê O.P. cho phép về quê thăm mẹ già. Ngày 7 tháng 8 năm 1798, Cảnh Thịnh ban hành chiếu chỉ lùng bắt các thừa sai và đạo trưởng. Khi lùng xét gần tu viện Dòng Mến Thánh Giá Thợ Đúc, quân sĩ bắt được ngài. Ngày 17 tháng 9 năm 1798, ngài bị xử trảm tại pháp trường Bãi Dâu, thi thể an táng ở họ đạo Dương Sơn. Ngày 21 tháng 7 năm 1996, Đức Tổng giám mục Huế Stêphanô Nguyễn Như Thể cho đưa hài cốt ngài về quê ngoại ở giáo xứ Phường Đúc và phần xương đầu vẫn được lưu giữ tại nhà thờ Dương Sơn.
Tiên tổ và hậu duệ
[sửa | sửa mã nguồn]
Nguyễn Văn Đằng (tục danh của thánh Triệu) được sinh ra vào năm 1756 trong một gia đình quý tộc có nhiều đời làm quan lại phục vụ trong triều đình của các Chúa Nguyễn ở thôn Cù Đa, làng Kim Long, huyện Hương Trà, Chánh dinh Phú Xuân (ngày nay là nay là phường Kim Long, thành phố Huế). Thủy tổ của tộc Nguyễn Văn làng Kim Long, cụ Nguyễn Văn Phỉ là anh em họ xa đời của Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vì có quê gốc ở thôn Bùi Xá của trang Gia Miêu, tổng Trung Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, là người đầu tiên trong tộc đã theo Chúa Tiên vào Nam dựng nghiệp lớn vào năm 1558 và định cư trước hết ở dinh Ái Tử, tỉnh Quảng Trị. Bốn đời sau thì Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan cho dời đô vào trong làng Hà Khê ở huyện Hương Trà vào năm 1636 và gọi là phủ Kim Long (金龍府) , tục gọi là Kẻ Huế. Nhân dịp Chúa Thượng cho mở kì thi Hoa văn tuyển chọn lại thuộc cho các ty Xá sai, Tướng thần lại và Lệnh sử thì ông cố của cậu Đằng là cụ Nguyễn Văn Sử thi đỗ và được bổ nhiệm làm Lại ty trong ty Tướng thần (將臣) chuyên lo việc thu thuế, trữ thóc lúa và phân phát lương thảo cho quân đội các dinh. Về sau cụ Nguyễn Văn Sử được thăng chức lên làm quan Tướng thần Cai hợp đứng đầu một cơ quan trong ty và phong tước Thành Trung tử. Khi Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái cho dời đô sang làng Thụy Lôi bên cạnh thì đã ban đặc ân cho các quan lại trong triều được chọn đất Kim Long phủ cũ mà lập ra làng mới, gọi là làng Kim Long. Thành Trung tử cùng với cụ tổ các họ Trương Đình, Mai Công, Mai Bá, Trần Hữu, Trần Văn và Tống Phước (tổ tiên của Thừa Thiên Cao Hoàng hậu) đã chiêu tập cư dân xây dinh thự gỗ để lập làng mới vào khoảng năm 1690. Thành Trung tử Nguyễn Văn Sử có hai người con trai là Nguyễn Văn Đại (về sau cũng làm quan Tướng thần Cai hợp như cha và được phong tước Đại Đức tử) và Nguyễn Văn Tấn. Cụ Nguyễn Văn Tấn sinh ra bốn người con trai là Nguyễn Văn Đạo (Tướng thần ty lại), Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Điền và Nguyễn Văn Đặng. Nguyễn Văn Đặng được tuyển vào lực lượng Vũ Lâm quân của chúa Nguyễn Phúc Khoát do có tổ tiên là người cùng quê với các Chúa Nguyễn, làm quan Cai đội trong Quân nhu và trông coi lương thực của quân sĩ, tục gọi là Ôn Cai Lương. Cai đội Đặng cưới một người phụ nữ Công giáo từ một gia đình đã theo đạo lâu đời ở làng Thợ Đúc bên kia sông Hương (tục gọi là Bà Mụ Cai) và sinh được một người con duy nhất là cậu Nguyễn Văn Đằng.[1]

Con cháu dòng họ Nguyễn Văn làng Kim Long thuộc nhánh Đại Đức tử vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay và có nhiều đời cũng sung quân ngũ mà phò tá các vua Nhà Nguyễn, tiêu biểu có Trung quân Cai đội truy phong Nguyễn Văn Hưng là cháu họ thánh Triệu theo Chúa Nguyễn Phúc Thuần vào Nam và về sau đánh giặc Tây Sơn ở Cửa Ba Thắc giúp vua Gia Long, tử trận và được đưa linh vị vào Đền Hiển Trung thờ tự. Một hậu duệ khác là Phó vệ úy Nguyễn Văn Tần được vua Minh Mạng phái đem quân vào Gia Định đánh giặc Lê Văn Khôi và tử trận vào năm 1834. Trong dòng họ sau này không có ai theo đạo Công giáo, trừ con cháu một nhánh ngoại đã vào Đồng Nai và là người đã biên soạn tiểu sử của thánh Triệu.[2]
Thuở niên thiếu
[sửa | sửa mã nguồn]
Khoảng đầu tháng 1 Dương lịch năm 1756, cậu Nguyễn Văn Đằng được sinh ra ở ngôi làng Kim Long thơ mộng bên dòng sông Hương hữu tình và kinh thành Phú Xuân hoài cổ, là con trai đầu lòng cũng là độc nhất của ông Cai đội Đặng và bà Mụ Cai Lương. Sáu năm trước khi cậu Đằng được sinh ra thì Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã ra sắc chỉ cấm đạo và trục xuất hết các giáo sĩ Công giáo đang truyền đạo ở Đàng Trong với lệnh truyền vào ngày 6 tháng 5 năm 1750:[3]
"Các đạo trưởng Tây Phương đã giảng dạy một thứ đạo làm cho bách tính trở nên điên dại khi tin vào lời họ. Võ Vương ra lệnh cấm đạo này và không muốn các con dân có đạo tụ họp nữa. Các trấn thủ phải bắt các thừa sai giải về Kinh đô Phú Xuân hoặc Quảng Nam. Võ Vương cũng lệnh phải triệt hạ tất cả các nhà thờ, vật dụng phải giao lại cho làng sở tại để xây đình chùa. Lệnh cũng truyền cho các tín hữu phải nộp các ảnh tượng, tràng hạt và sách đạo. Bắt tất cả các thầy giảng đang ở các điểm truyền giáo, tịch thu các tài sản của các đạo trưởng Tây Phương, nếu có gì đáng giá thì đưa về Kinh, còn lại phải lưu giữ cho đến khi có lệnh mới. Còn đất đai, theo lệnh của Võ Vương, sẽ làm của chung trong làng” [4]
Trong đợt cấm đạo này nhiều nhà thờ ở Phú Xuân bị rao bán hoặc phá hủy, duy chỉ có nhà thờ của linh mục Johann Koffler, S.J. người Đức là được bằng yên do cha Koffler là quan Khâm thiên của Võ Vương. Năm 1752, Dòng Tên ở thành Ma Cao cho gửi thêm hai linh mục khác người Bồ Đào Nha đến Đàng Trong là cha Francisco Xavier de Monteiro, S.J. và cha João de Loureiro, S.J. đến Đàng Trong để phụ giúp cha Koffler trong việc truyền giáo, song Võ Vương cho phép họ ở lại với điều kiện cấm giảng đạo và phải điều chế ngự dược cùng xây hệ thống nước ngầm trong Kinh cho Vương. Cha Monteiro vì gặp vấn đề nên phải trở về Ma Cao trong cùng năm đó, cha Koffler cũng bỏ Đàng Trong vào năm 1755 nên thành ra chỉ có cha Loureiro là linh mục Dòng Tên duy nhất ở kinh đô khi cậu Đằng được sinh ra.[5]
Ngày 18 tháng 1 năm 1756, nhân ngày lễ kính Thánh Danh Đức Chúa Giê-su theo lịch Lễ Triđentinô, cậu Đằng được đưa về quê mẹ ở làng Thợ Đúc để cho cha João de Loureiro, S.J., lúc này đang là quan Thái y của Võ Vương, rửa tội. Cậu được đặt tên thánh là Manuel (Tiếng Do Thái: עִמָּנוּאֵל - Thiên Chúa ở cùng chúng ta), là một tên nam giới phổ biến của người Bồ Đào Nha và được dùng để tôn vinh Chúa Giê-su trong lễ Lễ cắt bì (ngày 1 tháng 1) và Lễ Kính Danh.[6]
Nhờ có cha làm quan trong triều đình Chúa Nguyễn, tuổi thơ của cậu Đằng trôi qua cách êm ái về phần đời trong một cuộc sống đầy đủ tiện nghi của một cậu ấm con quan. Đàng Trong đã thành một nước độc lập từ năm 1744 và Võ Vương rất tích cực trong việc điều hành nhà nước và thông thương với các dân tộc láng giềng, biến Đàng Trong trở thành một quốc gia cực thịnh lúc bấy giờ. Về phần thiêng liêng thì cậu Đằng được thừa hưởng một di sản Đức Tin trù phú từ mẹ là bà Mụ Cai, một mệnh phụ đến từ làng Thợ Đúc là trung tâm truyền giáo cùng là nơi đã sớm chớm mầm cộng đoàn tín hữu ở Kinh đô nhờ vào công của thợ đúc súng João da Cruz (1610-1682) và các thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha. Tuy Võ Vương đã ra lệnh cấm đạo nghiêm ngặt nhưng các cha Loureiro và Monteiro của Dòng Tên đã tận dụng vị trí của mình là những quan Khâm thiên và Thái y để đến thăm nhà của các tín hữu quyền quý ở Kinh hầu để dâng Thánh lễ cùng ban phát các Bí tích. Nhờ có sự rao giảng nhiệt thành từ các cha cùng lời khuyên nhủ từ vợ, ông Cai đội Đặng cũng được chịu phép Rửa tội sau này và trở thành một tín hữu sốt mến.
Cuộc sống êm ái của cậu Đằng ở Phú Xuân kéo dài được không lâu khi tình hình Đàng Trong càng ngày càng suy sụp nặng nề. Tháng 7 năm 1765, Võ Vương qua đời và để lại chúc thư tôn người con thứ là Công tử Nguyễn Phúc Luân kế vị. Quyền thần Trương Phước Loan biết Công tử Luân là người thông minh nên sẽ khó kiểm soát, liền lập mưu trong triều mà tống giam Công tử Luân vào ngục cùng tôn người con thứ 16 của Võ Vương là Công tử Nguyễn Phúc Thuần lên làm chúa kế vị, lấy hiệu là Định Vương. Quốc phó Trương Phước Loan lợi dụng chúa trẻ tuổi nên ra sức vơ vét của cải trong nước cùng xây dinh thự nguy nga, buôn quan bán tước, ăn hối lộ tha tội, hình phạt tàn khốc, thuế má liên miên, vu khống trung thần khiến bách tính lầm than.[7]

Không những về phần đời mà về phần đạo tín hữu ở Kinh cũng gặp nhiều ngăn trở. Tháng 7 năm 1767, Định Vương cho ra một sắc chỉ cấm đạo và trục xuất các vị thừa sai mới như sau:
“Lệnh Định Vương truyền cho quan Án sát Phan Than, chưởng cơ Cai đội Đặng, ký lục Phương và cai bạ Khinh. Từ trước việc cai trị vẫn theo đạo tự nhiên nhân bản nhưng ít lâu nay đạo Hoa Lang giống như giáo phái Dương Mặc dùng lời hứa hẹn và hình phạt để lừa dối lòng người, vì thế Tiên Vương đã nghiêm ngặt cấm đoán mà bách tính vẫn không chừa bỏ. Nay ta thấy cần phải lập lại lệnh cấm đạo Hoa Lang và tra xét các nơi để loại trừ hẳn đạo này. Hiện nay bách tính đang trở lại đạo cũ, hội họp tại các nhà thờ. Các quan phải cần mẫn điều tra trong địa hạt của mình, nếu có những người tụ họp và giữ đạo thì phải bắt và đem ra toà xét xử, bắt chối đạo bằng lời nói hoặc bằng việc đạp lên ảnh tượng. Người nào còn cố chấp tin theo đạo thì phải giam tù và thông báo về triều đình để duyệt án. Người có chức tước thì phải giáng trật, thường dân thì phải lưu đầy chăn voi suốt đời. Có như thế quốc gia mới hưng thịnh”.[8]
Lệnh truyền của Định Vương đến bách tính như sét đánh ngang tai và quan Cai đội Đặng cũng là một trong những vị quan đầu tiên nghe được chiếu chỉ này. Theo lời của Đức quản Tông tòa Đàng Trong Guillaume Piguel (1722-1771) thì Cai đội Đặng là một trong ba vị quan trong triều có thiện cảm với đạo Công giáo. Do bị phát hiện là đã theo đạo từ trước nên Cai đội Đặng bị giáng một trật từ Chưởng cơ Cai đội xuống làm Thuộc nội Cai đội cai quản Cấm Vệ quân trong Kinh thành. Tuy việc theo đạo ở Kinh thành Phú Xuân có trăm ngàn khó khăn nhưng cậu Đằng cùng gia đình và các tín hữu khác vẫn kiên trung giữ vững Đức Tin, dù phải chịu mất tiền của hay đối mặt với án thảo tượng (cắt cỏ cho voi chiến ăn) đi chăng nữa. Thế nhưng chưa dừng lại ở đó, mốc chuyển biến trọng đại đầu tiên trong cuộc đời của cậu lại đến vào cuối năm 1771, khi một cuộc nổi dậy của ba anh em ở Bình Định làm chao đảo cả xứ Đàng Trong.[8]
Binh nghiệp thời loạn
[sửa | sửa mã nguồn]Vào năm 1771, cậu Đằng đã trưởng thành và để nối nghiệp nhà, anh đã được Định Vương chọn cho sung vào đội Vũ Lâm quân là lực lượng thân binh cấm vệ trong kinh thành Phú Xuân, trực tiếp bảo vệ cho Chúa Nguyễn. Thế là Vũ Lâm quân Đằng được nằm trong đội cấm quân nằm dưới quyền chỉ huy của cha mình là Thuộc nội Cai đội Đặng. Đây là lực lượng quân đội tinh nhuệ nhất trong cả nước Đàng Trong và chỉ đặc tuyển con cái của các quan lại cao cấp hoặc từ những dòng tộc có gốc rễ ở quý hương Gia Miêu hoặc quý huyện Tống Sơn. Dẫn theo lời miêu tả của nhà truyền giáo và thảo dược học Pierre Poivre về lực lượng thân binh của Chúa Nguyễn khi ông đến xứ Đàng Trong vào thời Võ Vương trong sách "Journal de Voyage - Pierre Poivre en Cochinchine, 1749-1750", hình tượng của anh Vũ Lâm quân Đằng có thể được hình dung cụ thể:[3]

"Chúng tôi nhận thấy sự khác biệt về trang phục giữa những người lính này, chủ yếu thể hiện ở hình dạng mũ và các ký tự hoặc chữ cái thêu trên áo trước ngực và sau lưng. Những ký tự này khá lớn nên có thể đọc được từ rất xa và cho biết người lính thuộc loại binh nào. Về mũ của họ, phần lớn được làm từ lông ngựa được thợ thủ công gia công tỉ mỉ. Có nhiều kiểu dáng khác nhau. Một số loại khác được làm từ bìa cứng sơn bóng hoặc màu đỏ với hoa bạc được vẽ cho lính thường và trang trí bằng các chi tiết bằng bạc cho quan chỉ huy. Loại mũ này có hình dạng giống mũ Flemish hoặc Hà Lan, chỉ khác là vành mũ tròn đều xung quanh và từ đỉnh mũ nhô lên một vật trang trí bằng cùng chất liệu với mũ và có hình dạng gần giống như núm táo. Những người lính này đều được trang bị một thanh kiếm lớn dài khoảng 4 pieds [đơn vị đo lường cổ của Pháp, 1 pieds bằng khoảng 30,48 cm], nhưng cần lưu ý rằng chuôi kiếm dài ít nhất 2 pieds. Phần lớn những thanh kiếm này được bọc bằng đồng thau với vỏ bằng gỗ sơn bóng, một số bằng bạc, và khoảng 40 thanh được bọc bằng vàng khá phong phú và được chế tác tinh xảo. Những người lính mang những thanh kiếm có chuôi vàng là lính canh bên trong cung điện. Nhìn chung, tất cả những người lính này đều gầy gò, được tuyển chọn không đồng đều, mặc quần áo tươm tất nhưng không sạch sẽ, hầu hết đều có vẻ ngoài nhỏ bé, không có chút khí chất võ sĩ nào...v.v... Đội quân tinh nhuệ nhất của nhà vua là những người bảo vệ cung điện, cả bên trong lẫn bên ngoài. Họ được chia thành 2 đội, mỗi đội 100 người, được gọi là Đội kiếm vàng và Đội kiếm bạc. Đội quân này là đội quân tinh nhuệ nhất của vương quốc, họ là vệ sĩ không bao giờ rời bỏ nhà vua và là những người thi hành mệnh lệnh của ông. Trong buổi tiếp kiến đầu tiên, chúng tôi thấy họ xếp hàng chỉnh tề, tay cầm kiếm, tạo nên một hình ảnh uy nghi và hùng tráng. Trang phục của họ là một loại áo choàng dài bằng lụa hoặc gấm đen có hoa văn, trước và sau có một tấm vải satin đỏ thêu chữ Hán bằng vàng và bạc. Họ đội một chiếc mũ tròn nhỏ, đỉnh mũ nhọn bằng sắt hoặc đồng được sơn đỏ và chạm khắc tinh xảo bằng vàng và bạc. Giày của họ là một loại ủng bằng satin trắng, có dây đai thêu vàng quanh đầu gối và một đôi giày không gót, để lộ mắt cá chân. Tất cả đều để râu dài và đặc biệt là ria mép được chăm sóc cẩn thận. Kiếm của họ dài và nhọn, cán kiếm không có chuôi. Vỏ kiếm được sơn màu đỏ và được trang trí bằng 2 miếng vàng hoặc bạc dài khoảng 8 pouces ở hai đầu, có hai vòng để đeo dây đeo qua vai. Những người lính này được ăn uống kém và lương bổng còn kém hơn. Họ sống trong cảnh nô lệ cho đến khi nhà vua vui lòng thăng chức cho họ."[9]

Cũng vào năm 1771, có ba anh em buôn trầu ở phủ Quy Nhơn, dinh Quảng Nam là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ bắt đầu chiêu tập dân chúng để chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy ở ấp Tây Sơn với khẩu hiệu: "Lật đổ Trương Phúc Loan, phò Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương" và phương châm lấy của người giàu mà chia cho người nghèo khiến đông đảo bách tính theo về. Lúc cuối năm 1771 thì phong trào Tây Sơn chỉ là một hội kín ngầm ở ấp Tây Sơn đang trong giai đoạn chuẩn bị lương thảo binh khí, song do nhiều lần quan trấn chẳng động đến mà diệt tận gốc nên đến tháng 8, năm 1773 đã để cho Nguyễn Nhạc xuất binh mà đánh chiếm được huyện lị Tuy Viễn Giặc Tây Sơn khí thế hùng hùng, qua đến năm 1774 thì đã chiếm được thành Quy Nhơn lại bành trướng đến khắp dinh Quảng Nam, Quảng Nghĩa rồi Bình Thuận khiến cho triều đình Định Vương lo sợ vô cùng. Chưa dập được loạn lạc ở phương Nam thì từ ngoài Bắc Chúa Trịnh Sâm đã thừa lúc nước đục mà cắn câu, tháng 5 năm 1774 đã sai lão tướng Quận Việp Hoàng Ngũ Phúc mang 40,000 quân tấn công Phú Xuân với danh nghĩa là trừng phạt Trương Phúc Loan. Quân Trịnh đi đến đâu thì quân Nguyễn phần thì thua trận phần thì theo hàng đến đó, chẳng mấy chốc đã vượt sông Gianh mà tiến thẳng về Kinh. Qua tháng 11, Định Vương lo sợ và bắt trói Trương Phúc Loan nộp cho Quận Việp nhưng đàn quân Chúa Trịnh vẫn Nam tiến. Đến tháng 12 năm đó, Định Vương sai Tôn Thất Tiệp làm Thống binh và Thuộc nội Cai đội Đặng lãnh quân cấm vệ xuất kinh tiến về đạo Lưu Đồn mà chống giữ quân Trịnh. Thế nhưng, Tôn Thất Tiệp bị biệt tướng của Chúa Trịnh là bọn Nguyễn Tiến Khoan, Hoàng Phùng Cơ đánh thua. Quân của Cai đội Đặng thì không đánh mà cũng tự vỡ. Quân Trịnh tiến đóng ở làng Bái Đáp, còn tàn quân Chúa Nguyễn thì lui về bên kia sông Bái Đáp. Định Vương lại sai Nội tả chưởng dinh Quận công Nguyễn Văn Chính điều bát các dinh thủy bộ đến Bái Đáp tiếp viện. Quận công Chính đến quân thứ, liền hỏi tội Cai đội Đặng về việc tự ý rút lui, lập tức đem chém để cảnh cáo chư quân. Vũ Lâm quân Đằng ở trong trại Bái Đáp cũng đã chứng kiến việc cha mình bị xử tử, khiến lòng anh trở nên sầu thảm và bắt đầu nảy sinh ra ý định từ bỏ quân ngũ mà trở về quê sau này.[7]
Sang đầu năm 1775, nhận thấy tình thế ở Chính Dinh đã vỡ lỡ, Định Vương Nguyễn Phúc Thuần cùng Nguyễn Cửu Dật, Chưởng dinh Tôn Thất Kính và Hoàng tôn Nguyễn Phúc Ánh vượt biển trốn vào Gia Định, để lại kinh thành Phú Xuân cho quân Trịnh chiếm đóng. Có rất ít quân sĩ trong đội Cấm vệ đi theo Định Vương vào Nam, và Vũ Lâm quân Đằng sau khi đã chán nản chốn binh trường khốc nghiệt và lo lắng cho người mẹ nay đã thành góa bụa ở quê nhà, cũng quyết định từ bỏ quân ngũ mà ở lại kinh thành chăm lo cho cửa nhà. Chúa Nguyễn vừa bỏ trốn thì ở kinh thành diễn ra một nạn đói lớn kéo dài hơn ba năm sau đó do mùa màn bị chiến sự phá hoại, cộng với việc mất đi người cha trong nhà đã khiến cho gia đình của anh Đằng từ giàu có trở nên nghèo khổ. Dưới sự quản nhiệm của chính quyền Chúa Trịnh, nhiều quan lại người Đàng Ngoài đến kinh thành Phú Xuân để hoạch định lại đất Thuận Hóa mới chiếm được, trong số đó có vị quan Lẻ Lãm là người có đạo ở Nam Định là tướng vận tải lương thực dưới trướng Quận Tạo Phạm Ngô Cầu. Quan Lẻ Lãm có lẽ đã gặp anh Vũ Lâm quân Đằng khi đi dự lễ do các cha Dòng Tên dâng ở Phú Xuân. Nhận thấy tình cảnh bi thương của gia đình anh Đằng ở Phường Đúc, quan Lẻ Lãm đã đồng ý nhận anh làm sĩ quan vận lương cho quân Chúa Trịnh đóng tại Phú Xuân để nuôi bà mẹ góa.[10]
Đầu năm 1775, Chúa Trịnh Sâm cho gọi Quận Tạo về Thăng Long để thưởng công cùng cho hưu dưỡng. Quan Lẻ Lãm vì là quan tướng dưới quyền nên cũng phải theo Quận Tạo về Đàng Ngoài. Anh Đằng biết rằng nếu chỉ ở lại Thăng Long thì bản thân lẫn mẹ đều sẽ chết vì đói nên đành phải gửi mẹ ở nhờ với một người thân họ ngoại và từ giã quê hương để theo quan Lẻ Lãm ra Thăng Long. Vừa chỉ mới 18 tuổi đầu, vắng bóng cả cha lẫn mẹ, anh Đằng bất đắc dĩ phải ra Bắc để bươn chải mưu sinh, nhưng anh chưa biết được đó là ý Thiên Chúa sẽ gọi anh làm thợ gặt trong ruộng lúa Thiên quốc.[10]
Linh tông Dòng Tên
[sửa | sửa mã nguồn]
Anh lính vận lương Nguyễn Văn Đằng đến thành Thăng Long vào giữa năm 1775. Sau một khoảng thời gian phục vụ dưới trướng Quan Lẻ Lãm, anh Đằng bày tỏ ý định muốn xuất quân mà trở thành linh mục với quan trên và được chấp thuận. Quan Lẻ Lãm vốn là một tín hữu sùng đạo trung thành với Dòng Tên như anh Đằng, mẹ của ông cũng đã xây một nhà thờ lớn ở giữa phố Hàng Bè, Kẻ Chợ cùng một nhà dòng ở Kẻ Rùa cho các cha và thầy Dòng Tên ở nên gia đình ông có mối quan hệ thân mật với nhiều linh mục Dòng Tên ở Đàng Ngoài lúc bấy giờ. Nhân dịp một người nhà Dòng Tên từ Nam Định lên Thăng Long là Thầy Huệ ghé qua dinh quan Lẻ Lãm bái thăm, ông đã giới thiệu chú Đằng với thầy. Cuối năm đó, Thầy Huệ nhận chú Đằng làm người nhà Dòng và đem anh về trụ sở Dòng lúc bấy giờ ở nhà Làng Gòi (Sa Châu) ở huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Tại đây, anh Đằng được gặp cha Bề trên Tổng quyền Dòng Tên ở Đàng Ngoài (Tonchin) là linh mục Onofrio Villiani S.J. người Ý, tục gọi là Cố Hậu vì trước đó cha đã từng ở Nghệ An, sau vì Bề trên tiền nhiệm là Cố Phan Francisco Antonio S.J. qua đời năm 1773 nên phải qua Nam Định gánh vác việc Dòng. Vốn Dòng Tên đã bị Giáo hoàng Clêmentê XIV phá bỏ hai năm trước đó với sắc chỉ Dominus ac Redemptor, nhưng tàn dư của Dòng vẫn tồn tại ở nhiều nơi trên khắp thế giới, trong đó có Đàng Trong và Đàng Ngoài. Về danh nghĩa thì các linh mục Dòng Tên giờ đây đã là linh mục triều và nằm dưới quyền của Giám mục sở tại thay vì Giáo hoàng, nhưng các linh mục Dòng ở Đàng Ngoài vẫn duy trì hoạt động truyền giáo như rằng Dòng chưa bị phá vì lấy lý do các Đức Giám mục ở Đàng Ngoài chỉ là Đại diện Tông Tòa chứ không phải là Giám mục sở tại thực thụ, gây ra nhiều tranh cãi giữa hai bên. Tại nhà Làng Gòi, anh Đằng khấn tạm vào trong gia đình Linh tông của Dòng Tên dưới dạng Thầy giảng chứ không phải là người trong Dòng, dựa trên một mô hình cổ xưa đã được lập từ thời của linh mục Alexandre de Rhodes S.J. với Chân phước Anrê Phú Yên là tiên phong. Anh Đằng đổi tên thành Triệu (兆) vào lúc này, với ý nghĩa mong ước việc mình theo chân Chúa Giê-su là một triệu tốt lành hơn. Sau một thời gian học hỏi nhiều hơn từ các cha về lịch sử đạo Công giáo ở nước An Nam qua cái nhìn của các vị thừa sai Dòng Tên, Thầy Triệu nuôi một lòng hâm mộ nồng nhiệt dành cho Dòng và quyết định nhận thêm một tên thánh mới theo phong tục phương Tây làm họ, là Xavier (Tiếng Việt: Xaviê) để nhận vị thánh yêu thích của mình là Phanxicô Xaviê, Tông đồ Đông Ấn và Nhật Bản, làm quan thầy. Ngoài sự giáo dục của Cố Hậu, thầy Triệu cũng được gặp gỡ và dạy dỗ bởi nhiều linh mục Dòng Tên khác cũng đang hoạt động ở vùng ven biển Nam Định như Cụ Luiz Alessandro Pompei-Castiglioni S.J. (người Milano, là một trong hai linh mục Dòng Tên cuối cùng đến Đàng Ngoài vào ngày lễ thánh Inê 21 tháng 1 năm 1773), Cố An Nunzio Horta S.J. và Cố Định Agostino de Carneiro S.J.[10]

Sau 5 năm ở với các thầy và linh mục của Dòng Tên ở Làng Gòi, Thầy Triệu đã trở thành một thầy giảng thực thụ và có đủ trí lực để dạy giáo lý cho các lớp trẻ trong xứ đạo cùng phụ giúp các linh mục trong việc thực thi các Bí tích. Sang năm 1780, lo lắng trước tình trạng thiếu thốn linh mục trung thành với lý tưởng của Dòng Tên ở Đàng Ngoài, Cố Hậu quyết định lên đường đi Roma cùng với hai Thầy người nhà là Thầy Quyền và Thầy Thiều để xin Đức Thánh Cha ra tông thư cho phép các thầy giảng của Dòng Tên được vào chủng viện Dòng lập mà đào tạo để trở thành linh mục. Khi đã quyết chờ thuyền mà đi rồi thì Cố Hậu giao lại quyền quản lý nhà Dòng ở Làng Gòi cho Cố Luiz và gửi gắm Thầy Triệu lên nhà dòng ở xứ Tử Nê (xứ Bắc), Kinh Bắc để tiếp tục tu học chờ ngày vào chủng viện. Tại Tử Nê, Thầy Triệu gặp được người thầy tâm phúc của mình là Cụ Cần Giuseppe Candia S.J. (người Piemonte, là bạn của Cố Luiz và là người còn lại trong số hai linh mục Dòng Tên cuối cùng đến Đàng Ngoài) và cũng học hỏi thêm về lịch sử của Dòng Tên ở Đàng Ngoài qua câu truyện về Tôi tớ Chúa Giovanni Battista Messari, S.J. là cha chánh xứ Tử Nê vào những năm 1720 và cũng là vị tử đạo tiên khởi của Dòng Tên ở Việt Nam (cha Messari chết rũ tù ở Thăng Long năm 1723). Trong lời thuật sau này của mình, Thầy Triệu chỉ đề cập đến một cha "Joseph, ex-jesuite" là người dạy bảo và chỉ dẫn cho mình, đủ để chứng tỏ lòng khâm phục của ngài dành cho vị thầy của mình là trọng đến cỡ nào. Không may thay, chính sự Đàng Ngoài cũng xảy ra nhiều biến loạn vô lường trong khoảng thời gian này. Chúa Trịnh Sâm qua đời mà để lại di chiếu tôn con thứ là Trịnh Cán lên làm vương vì lòng yêu Tuyên phi Đặng Thị Huệ, bỏ qua con trưởng là Trịnh Khải khiến Khải uất hận mà chiêu mộ lính Tam phủ lập mưu cướp ngôi. Ai ngờ lính Tam phủ lại hoành hành khắp Thăng Long và các trấn khác, sinh ra nạn kiêu binh tai tiếng. Cuối năm 1785, Trịnh Khải chẳng còn kiểm soát kiêu binh được nữa khiến nhân dân khắp nơi lầm than, cộng với nạn đói lớn lan rộng khiến cho nhiều nơi giặc giã nổi loạn chống triều đình. Ở Kinh Bắc, một đảng giặc tên là Thiêm Sen đánh phá nhà thờ Dòng Tên ở làng Kẻ Mốt và chém tại chỗ một người nhà Dòng là Thầy Khương. Nghe tin người nhà mình chịu nạn như vậy, Cụ Cần đau buồn đến mức đổ bệnh nan y mà qua đời vào cuối tháng 12 năm 1785 ở Tử Nê. Trước khi qua đời, Cụ Cần gửi gắm tiếp tục Thầy Triệu cho Cụ Tước là một linh mục trung thành với Dòng Tên ở xứ Kẻ Sặt nuôi dưỡng. Ở Kẻ Sặt cho đến đầu năm 1788 thì Thầy Triệu xuống xứ Trung Linh vào Tiểu chủng viện của Dòng Đa Minh tu học vì lời khẩn cầu của Cố Hậu đã đến tai của Đức Giáo hoàng Piô VI và ngài đã ra tông thư lệnh cho Đức Giám mục Đại diện Tông Tòa Đông Đàng Ngoài là Đức Cha Manuel Obellar O.P. phải nhận các thầy giảng Dòng Tên vào chủng viện của dòng mình. Tông thư này được hai Thầy cả Quyền và Thiều (đã được thụ phong Linh mục ở Roma) mang về Nam Định vào cuối năm 1787, còn Cố Hậu vì tuổi già sức yếu nên đã ở lại Ý và vào tu Dòng Phan Sinh, lấy tên khấn là Lorenzo.[10]
Chủng sinh ở Trung Linh
[sửa | sửa mã nguồn]Đầu năm 1788, Thầy Triệu - lúc này đã lên 32 tuổi và ở trong Dòng Tên với tư cách thầy giảng được 13 năm - từ giã Cụ Tước mà lên đường đi đến giáo xứ Trung Linh để vào Tiểu chủng viện hầu bắt đầu con đường tu tập làm linh mục. Tuy là chủng viện của Dòng Đa Minh, nhưng lệnh Tòa Thánh đã cho phép chủng sinh của Dòng Tên được đào tạo ở đó và ngoài Thầy Triệu ra cũng có hai chủng sinh sáng giá khác của Dòng Tên ở địa phận Đông Đàng Ngoài được chọn: một là Thầy Philipphê Bỉnh (quê ở Hải Dương, kém Thầy Triệu 3 tuổi và là người nhà của Cố Luiz), hai là Thầy Duệ (không rõ quê quán, cũng là người nhà Cố Cần). Thầy Triệu đặc biệt thân thiết với Thầy Bỉnh và cả hai là bạn tâm giao của nhau, đều chung một chí hướng phụng sự Thiên Chúa với tinh thần của Dòng Tên. Khi viết truyện về cuộc tử đạo của Cha Triệu sau này ở Lisboa, Cha Bỉnh đã dùng tình bạn của hai nhân vật trong Cựu Ước là Hoàng tử Giônathan con vua Saul và vua David để miêu tả tình thân của mình với ngài. Tại chủng viện, Thầy Triệu được tiếp xúc với nhiều linh mục Dòng Đa Minh thông thái, đa số đều đã được đào tạo ở Viện Đại học thánh Tôma Aquinô ở Manila, Philippines hoặc trực tiếp đến từ những viện thần học ở Tây Ban Nha, do các cha Dòng Đa Minh lúc bấy giờ chủ yếu là người nước đó. Trong số những giáo sư dạy học ở Trung Linh trong khoảng thời gian này, đặc biệt phải kể đến Cụ chính Phê Feliciano Alonso O.P., Cụ chính Y Ignacio Delgado O.P., và Cụ Minh Domingo Henares O.P.. Sang tháng 9 năm 1789 thì Đức Cha Manuel Obellar Khâm đột ngột qua đời và sang tháng 10 năm sau thì Cụ Phê được Đức Giám mục Đại diện Tông Tòa Tây Đàng Ngoài là Đức Cha Jacques-Benjamin Longer Gia M.E.P. tấn phong làm Đức Giám mục kế nhiệm Đông Đàng Ngoài, tức Đức Cha Feliciano Alonso O.P. của hiệu tòa Fesseë.[10]


Để đọc được các sách giáo khoa trong chủng viện thì trước hết Thầy Triệu phải học tiếng Latinh cho thạo để thông hiểu các sách Cựu Ước, Tân Ước và thánh lễ Misa, sau cũng phải thêm môn tu đức qua việc đọc các sách Hạnh Các Thánh (Acta Sanctorum) của Hội Bollando, Noi Gương Đức Ki-tô của Tôma à Kempis và Hướng Dẫn Đời Sống Đạo Đức của thánh Phanxicô đệ Salê. Môn Thần học cũng là một phần không thể thiếu và những tác phẩm như Tổng luận Thần học của linh mục Dòng Đa Minh thánh Tôma Aquinô, Thành đô Thiên Chúa của thánh Augustinô cùng các sách Giáo luật cũng sẽ nằm trong chương trình đào tạo ở Chủng viện. Ngoài ra Thầy Triệu cũng phải học ghi chép rồi chú thích chữ đỏ trên sách Lễ Misa, là một việc rất khó nhằn mà Thầy Bỉnh thì lại được ưu ái bỏ qua chỗ này.[11]
Để trở thành linh mục ngày xưa thì phải trải qua sáu chức nên Thầy Triệu đầu tiên được khấn cạo đầu và là giữ chức thầy rung chuông, sau thì lãnh chức thầy đọc sách và thầy trừ quỷ trước tháng 4 năm 1793. Ở các bậc chức nhỏ này thì Thầy Triệu vẫn phải lo việc bếp núc, cơm nước rồi phụ vặt quanh nhà thờ bên cạnh việc học tập trong chủng viện. Mãi đến sau Lễ Phục Sinh, ngày 31 tháng 3 năm 1793 thì Thầy Triệu được lãnh chức thầy giúp lễ (Acolyto) và có thể tham gia thánh lễ Misa cách gần gũi hơn. Đến ngày lễ Thánh Đa Minh là 4 tháng 8 thì Thầy Triệu được lãnh chức Phụ phó tế (Subdiacono), từ đó tập trung hết tâm trí vào học thuật và thánh lễ. Ngày hôm đó, Thầy Bỉnh nhận thấy cử chỉ cùng thái độ của các cha Dòng Đa Minh đối với tín hữu Dòng Tên đã thay đổi theo chiều hướng xấu nên tỏ lòng với Thầy Triệu muốn đi sang Ma Cao mà cầu xin Đức Giám mục Marcellino José da Silva phân giải. Chịu chức xong rồi thì hai thầy cùng tiễn đưa ba thầy người nhà Dòng Tên khác là Trung, Nhân và Lịch đi Ma Cao lo việc Dòng và cả hai cũng vịnh thơ như sau:
Muôn nước nghìn non chí chẳng chồn
Quyết ra tay gỡ mối càn khôn
Cương thường quằn quằn hai vai gánh
Trung nghĩa rành rành một tóc son
Mái bắc trời che thù hãy đội
Cõi tay bể lác tiết không mon
Muốn trông ơn đức nhân lành giúp
Non nước còn âu tiếng hãy còn,
Hòa:
Kẻ chồn có kẻ cũng không chồn
Vì một người là một trí khôn
Mồi nọ ngon lành che lưỡi sắt
Cơn kia cay đắng giại lòng son
Vàng hay nhạt chứ tình nào nhạt
Đá dầu mon bia miệng chẳng mòn
Xin hãy cậy trong lời đã phán
Giúp thiêng xưa mất ắt hãy còn
Cách đó mấy tuần lễ vào cuối tháng 8 thì Thầy Triệu lại được lãnh chức Phó tế (Diacono). Cuối cùng, vào Thứ Bảy, ngày 30 tháng 11 năm 1793 nhằm lễ thánh Anrê Tông đồ thì Thầy Triệu cùng Thầy Bỉnh, Thầy Duệ và ba thầy khác của Dòng Đa Minh được thụ phong Linh mục tại nhà thờ giáo xứ Trung Linh bởi Đức Giám mục hiệu tòa Fesseë là Feliciano Alonso O.P. chủ tế và Đức Giám mục hiệu tòa Gortyna Jacques-Benjamin Longer M.E.P. phụ tế. Năm đó Cha Triệu đã lên 37 tuổi đời và trải qua 18 năm ở Đàng Ngoài. Sau một thời gian chuẩn bị, Cha Triệu cử hành Thánh lễ mở tay ở nhà xứ Trung Linh vào ngày 26 tháng 12 năm đó là nhằm lễ thánh Stêphanô, Tử đạo Tiên khởi. Sau khi đã lo xong phần lễ của mình thì Cha Triệu đi sang nhà thờ Bùi Chu để dự Thánh lễ mở tay của Cha Bỉnh cùng các bạn đồng khóa vào ngày 1 tháng 1 năm 1794, nhằm ngày lễ Lễ Đặt tên Chúa Giê-su. Sau đó, người lại cùng bạn là Cha Duệ trẩy lên xứ Tử Nê để làm lễ Cầu hồn cho thầy mình là Cố Cần. Người ở lại Trung Linh một thời gian để luyện tập mục vụ cho giáo dân trước khi chính thức lên đường chính thức nhận xứ mới.[10]
Mục vụ Nam Định
[sửa | sửa mã nguồn]
Ba tháng sau khi chịu chức cùng mở lễ, Cha Triệu kết thúc việc mục vụ tạm thời ở Trung Linh để được phân công đảm nhiệm xứ khác. Vốn là một linh mục triều đã được Tòa Thánh cho phép mục vụ cộng đồng tín hữu trung thành với Dòng Tên, Cha Triệu bất ngờ khi vào đầu tháng 3 năm 1794 Đức Cha Phê chẳng những không phân ngài về coi sóc địa phận của các tín hữu Dòng ở Sa Châu, Đông Cường hoặc Cửa Lác mà lại bổ nhiệm ngài làm linh mục quản xứ Kiên Lao, là một xứ đạo có lịch sử thân mật với Dòng Đa Minh. Ngài rất không bằng lòng với quyết định này và đã nhiều lần bày tỏ mong ước được trở về các xứ đạo của Dòng Tên để phụ giúp các Cố nay đã già yếu, nhưng Đức Cha Phê một mực năng nỉ ngài đi nhận xứ Kiên Lao trong vòng một năm tròn tính từ lễ ông thánh Giuse ngày 19 tháng 3 năm đó đến cùng ngày năm sau. Đã cùng đường khẩn cầu nên Cha Triệu đành phải nhận xứ Kiên Lao một cách bất đắc dĩ và ngài cũng đã tỏ rỏ lòng bất bình của mình với Cha Bỉnh, người cũng rất mong muốn được mục vụ cho các tín hữu Dòng Tên song phải chịu chức linh mục quản xứ Chính tòa Bùi Chu cho Đức Cha Phê. Theo Cha Bỉnh, các chủng sinh trung thành với Dòng Tên không chỉ vì khi sinh ra đã là bổn đạo của Dòng do được các Cố rửa tội, mà còn do mối nghĩa cơm nặng áo dày khi các Cố đã nhận nuôi các Cha làm người nhà như con đẻ và nuôi nấng ăn học để được làm linh mục, hầu một ngày có thể đỡ đần các Cố mà tiếp sức cho cộng đồng giáo dân đang mở rộng của Dòng Tên ở các làng ven biển Nam Định. Cha cho rằng cách làm của Đức Cha Phê và Đức Cha Gia không những là làm trái lại với quyết định của Tòa Thánh vào năm 1787 mà còn là một hành động hiền dương mại khuyển (treo đầu dê bán thịt chó). Vào trước lễ ông thánh Giuse năm đó, Cha Triệu ghé qua Bùi Chu để thăm Cha Bỉnh một lần cuối trước khi đi nhận xứ. Cha Bỉnh đã bày tỏ ý định bất tuân Đức Giám mục, bỏ xứ Bùi Chu mà tìm đường mục vụ cho các tín hữu Dòng Tên với Cha Triệu và được ngài tán thành. Do đó, ít lâu sau vào ngày 20 tháng 3 thì Cha Bỉnh cùng lặng lẽ từ giã xứ Bùi Chu để xuống xứ Hà Lạn (gồm họ Man Đời, họ Lẳng Lăng, họ Bằng Phó và họ Cẩm Hà) ven biển để mục vụ cho các tín hữu thân Dòng Tên.[10][12]

Cha Triệu thì lên đường đến Kiên Lao gần đó và bắt đầu hành trình mục vụ của mình. Do ngài là người gốc ở Phú Xuân nên có chất giọng lai Huế lạ tai với người vùng bể Kiên Lao cùng không quen thuộc với tín hữu ngoài đó nên có lẽ đã gặp nhiều khó khăn trong việc giao tiếp với các tín hữu lúc ban đầu, thế nhưng ngài vẫn cố gắng khắc phục mà chu toàn bổn phận mục tử của mình cho trọn lời hứa với Đức Cha Phê. Cha Bỉnh miêu tả những linh mục được phái đi sang các xứ lân cận như những ông Quan Trấn các tỉnh vì khi có việc cần gấp như làm phép đồ dùng, xây dựng nhà xứ, mua thêm rượu lễ hoặc tìm kiếm thánh tích cho bàn thờ đều phải đệ đơn hoặc viếng thăm Đức Cha trước hết để xin phép làm chứ không được tự do như những linh mục quản xứ Chính tòa. Ngoài việc mục vụ cho các tín hữu ở Kiên Lao, Cha Triệu cũng tiếp nhận nhà Làng Gòi ở Sa Châu và tiếp tục việc đào tạo những thế hệ thầy giảng mới cho Dòng Tên. Với tư cách vừa là cha quản xứ Kiên Lao và coi sóc nhà Làng Gòi, Cha Triệu phải xoay sở đi lại khoảng 10 cây số giữa hai làng nhiều lần trong tháng để có thể kịp trao ban các Bí tích cho tín hữu. Nhờ có sự trợ giúp của các thầy giảng và người nhà trong Dòng, ngài phần nào cũng đỡ đi được gánh nặng. Ngoài hai địa điểm trên, Cha Triệu có lẽ cũng thường xuyên viếng thăm mục vụ cho nhiều giáo xứ giáo họ khác ở khu vực huyện Hải Hậu ngày nay như Hà Lạn, Cẩm Hà, Xương Điền và Đông Cường để phụ thêm cho Cố An Nunzio Horta S.J. nay đã lên tuổi bát tuần. Tình trạng thiếu thốn linh mục bao quát các xứ đạo Dòng Tên ngày càng trở nên trầm trọng khi thế hệ trước trở nên già yếu dần mà thế hệ trẻ thì càng ít ơn thiên triệu hơn.[12]

Vào cuối tháng 3 năm 1795, Cha Triệu đã kết thúc thời hạn mục vụ ở Kiên Lao như đã hứa với Đức Cha Phê trước đó. Ngài viết thư gửi về Bùi Chu để xin được thuyên chuyển về giúp các tín hữu Dòng Tên. Lại một lần nữa Đức Cha từ chối và mong muốn ngài tiếp tục ở lại xứ Kiên Lao lâu dài mà lo lắng việc phần hồn cho các tín hữu Dòng Đa Minh ở đó. Thời gian quản xứ ở Kiên Lao của ngài hẳn đã diễn ra rất tốt đẹp nên Đức Cha muốn tận dụng nguồn lực này dành cho các tín hữu của Dòng mình, vô tình lại khiến cho các tín hữu Dòng Tên phải chịu thiệt thòi. Cha Triệu nản lòng trước ý định của Đức Giám mục nên đành ở lại Kiên Lao và không mong chờ thêm hi vọng được quản xứ của Dòng Tên thêm khi nào nữa, vì ngài đã thấy trước được việc hai Đức Cha Phê và Gia muốn dập tắt mầm mống của một Hội dòng đã bị Đức Giáo hoàng phá nhiều năm trước. Vì đức vâng lời nên ngài kiên nhẫn nghe theo lời Đức Cha quản xứ Kiên Lao trong vòng ba năm kế tiếp bên cạnh việc quản lý xứ Làng Gòi cho Dòng, nhưng sự bất mãn trề tràn khi không thể trả lại ơn nghĩa cho Dòng đã khiến cho Cha Triệu nghe theo lời khuyên của con chiên ở Làng Gòi mà bị cuốn vào nạn ly giáo Dòng Tên vào cuối những năm 1795.[12]
Như đã đề cập trước đó, cộng đồng tín hữu ở Nam Định đã có sự chia rẽ nội bộ giữa con chiên của Dòng Đa Minh, Hội Thừa sai Paris và Dòng Tên. Mỗi cộng đồng đều sử dụng một ngôn ngữ kinh nguyện riêng bên cạnh Tiếng Latinh tùy vào quốc gia của đa số các Cố dòng mình: như Dòng Đa Minh thì dùng Tiếng Tây Ban Nha, Hội Thừa sai thì dùng Tiếng Pháp và Dòng Tên thì dùng Tiếng Bồ Đào Nha (Cha Đắc Lộ và Cha Maiorica tuy là người Pháp và Ý nhưng chỉ soạn các sách tiếng Việt dựa trên tiếng Bồ Đào Nha). Từ trước đến thời Cha Triệu, tín hữu Dòng Tên được dạy đọc kinh Kinh Kính Mừng là: "Ave Maria, đầy garasa..." vì garasa là chữ graça trong tiếng Bồ Đào Nha nghĩa là ơn phúc. Ngược lại khi các cha dòng Đa Minh và Hội Thừa sai đến Annam thì lại dạy giáo dân đọc theo kiểu Latinh là "Ave Maria, đầy gratia...". Năm 1773, Dòng Tên bị phá thì các đấng Đại diện Tông Tòa của hai Dòng Đa Minh và Hội Thừa sai (là Đức Cha Obellar và Đức Cha Davoust) đến Đàng Ngoài thì buộc giáo dân Dòng Tên cũng phải chỉnh lại cách đọc cho đúng là "gratia" vì lấy cớ trong tiếng Tây Ban Nha "garasa" có nghĩa là "mỡ lợn béo", khi đọc sẽ rất báng bổ.[12]
Từ sự khác biệt về phát âm, mà khi các đấng Đại diện Tông Tòa dạy đọc kinh như trên mà tín hữu Dòng Tên không ai vâng theo mà cứ đọc cách cũ thì các ngài quy cho họ tội bất tuân quyền Bề trên và muốn ly khai ra khỏi Hội thánh, nên đã gieo vạ tuyệt thông cho các xứ của Dòng Tên rồi gọi họ là quân ly giáo. Vạ tuyệt thông là một điều rất nặng lòng cho giáo dân vì họ chẳng được được xưng tội nhận Thánh Thể, rửa tội cho con cái hay nhận phép lành sau hết. Dính phải vạ này khiến cho giáo dân không thể sống đạo nhiệt thành. Cách làm này của các đấng Bề trên là để ép buộc giáo dân Dòng Tên phải quy thuận về quyền địa phận và Cha Bỉnh do bất bình với Đức Cha Phê vì vấn đề này nên cũng bị gán cho cái tên đầu lãnh quân ly giáo trong những thư Đức Cha Ignacio Delgado Y gửi qua Ma Cao vào đầu năm 1801.[13]
Trở lại với Cha Triệu, những năm người ở với các cha Dòng Tên cùng đi làm quản xứ ở Nam Định thì cũng đã thân thuộc với toàn bộ tín hữu của Dòng. Do Cha Triệu sống gần gũi với những giáo dân này, nên ngài đã bị thuyết phục và ảnh hưởng bởi tư tưởng ly giáo "garasa" và mở rộng hơn là tư tưởng Dòng Tên tự trị. Sự bất mãn trước đó với Đức Cha Phê khiến ngài cũng lan truyền lòng trung thành với Dòng Tên đã mất cho các tín hữu của mình trong từng bài giảng, khiến cho tình hình ly khai càng trở nên trầm trọng hơn. Xét như trong thư của Đức Cha Jean Labartette Bình, M.E.P gửi cho các linh mục ở Tòa Thánh năm 1804:
"Cha Triệu, khi vừa được thụ phong linh mục bởi quyền Đức Giám mục dòng Đa Minh trong thời gian loạn tặc [Nhà Tây Sơn] cai trị hai vương quốc [Đàng Trong và Đàng Ngoài], được gửi đi mục vụ các cộng đồng tín hữu trước đó từng thuộc về quyền của các cha Dòng Tên nhưng sau lại nằm trong tay Đức Giám mục dòng Đa Minh. Sống chung với những tín hữu này trong nhiều năm liền đã khiến tâm hồn cha bị chìm đắm trong tinh thần bè phái của những con chiên này (ít nhất điều này rất tỏ rõ) nên hai Đức quản tông tòa Đàng Ngoài là Đức Giám mục hiệu tòa Gortyne [Đức Cha Longer Gia] và Đức Giám mục hiệu tòa Fesseitén [Đức Cha Alonso Phê] đã nhanh chóng phát giác ra sự việc. Ngay lập tức, hai vị chủ chăn vì sợ rằng giữ con sâu [nguyên văn: le scélérat] lâu ngày thì làm rầu nồi canh và cha sẽ bị cuốn theo quân ly giáo mà gây ra tai tiếng trong tương lai, cùng nhau nghĩ cách cứu chữa cái ác đang càng ngày càng lại gần mà đe dọa. Đức Giám mục hiệu tòa Gortyne tìm ra một mưu mẹo và khuyên bảo Đức Giám mục hiệu tòa Fesseiten rằng nên thuyên chuyển Cha Triệu đi vì rằng cha này vốn là người Đàng Trong mà mẹ cha lại hiện còn sống nhưng đã rất già cả ở thành Phú Xuân nên cha nên được gửi vào Đàng Trong để thăm mẹ, và dưới cái cớ này cha sẽ phải ở lại đó ad tempus [tạm thời] cho đến khi vấn đề ly giáo ở Đàng Ngoài có chuyển biến mới; Đức Giám mục hiệu tòa Fesseiten tán thành lời khuyên này Nhưng cái khó ở đây là việc tìm cách truyền tải đến Cha Triệu và buộc cha phải làm theo dù cha chẳng hề có một chút ý định làm việc như vậy. Hai vị chủ chăn cho mời cha đến và giải thích rằng ngài đang gặp một mối nguy hiểm lớn nếu cứ tiếp tục ở lại Đàng Ngoài cùng với những tên ly giáo, do đó cuối cùng thuyết phục cha phải đến Đàng Trong, và bảo rằng dưới cái cớ đi thăm mẹ già, cha sẽ ở đó và hai vị chủ chăn sẽ cho cha những bức thư tín nhiệm gửi đến tôi để tôi có thể dùng cha vào việc mục vụ như những linh mục dưới quyền khác. Dù muốn hay không, việc cha ra đi là một điều cần thiết."[14]
Thế là lòng trung thành đến cuối của Cha Triệu đã khiến ngài phải miễn cưỡng nhận lấy án thuyên chuyển vô thời hạn vào Phú Xuân để làm linh mục dưới quyền Hội Thừa sai Paris dưới danh nghĩa thăm mẹ già, nhưng thực chất là để tách ngài ra khỏi tín hữu Dòng Tên ở ngoài Bắc. Cha Triệu kết thúc 4 năm mục vụ của mình ở Đàng Ngoài vào tháng 4 năm 1798, ngài vừa làm quản xứ Kiên Lao và Sa Châu cùng coi sóc các giáo họ thân Dòng Tên ở duyên hải Nam Định trong suốt thời gian này.[15]
Trở về cố hương
[sửa | sửa mã nguồn]Khoảng tháng 5 năm 1798, Cha Triệu mang theo hai người nhà ở Làng Gòi là Thầy giảng Đông cùng một thầy không rõ tên họ vượt sông Gianh vào Nam dưới lệnh của Đức Cha Phê. Trước khi rời Đàng Ngoài, Cha Triệu đã được căn dặn phải mang bức thư tín nhiệm của Đức Cha Phê đến cho Đức Đại diện Tông Tòa Đông Đàng Ngoài là Đức Cha Jean Labartette Bình, M.E.P đọc nên ngài đã ghé qua Tòa Giám mục ở Dinh Cát (Dinh Trà Bát), tỉnh Quảng Trị để viếng thăm Đức Cha Bình. Theo lời kể của Đức Cha Bình trong thư gửi các linh mục ở Roma, cuộc gặp gỡ thứ nhất giữa hai người diễn ra như sau:[16]
"Cha Triệu đến đây vào khoảng ba tháng trước cuộc bách hại đạo, cha đưa cho tôi những bức thư tín nhiệm từ hai Đại diện Tông tòa Đàng Ngoài, trong thư đó hai ngài đã nhờ tôi giữ cha ở lại Đàng Trong và dùng cha vào việc mục vụ ở đó cộng với yêu cầu là đừng cho cha trở về Đàng Ngoài một lần nào nữa, trừ khi công chuyện với quân ly giáo đã thay đổi hoàn toàn. Cha gặp tôi vào khoảng hai ngày đường cách thành Phú Xuân từ phía Đàng Ngoài vào; cha xin tôi để được phép đi về mà thăm viếng mẹ già đang ở Phú Xuân và xây một ngôi nhà nhỏ cho bà kẻo bà phải cứ ở nhà người khác mà nương dựa vào lòng từ thiện của họ. 'Tốt, Cha hãy đi đi' - tôi bảo cha - 'và Đức Thầy cho phép Cha làm mục vụ cho tất cả tín hữu đến cùng với Cha ở thành Phú Xuân khi Cha còn đang bận việc xây nhà cho mẹ. Khi Cha đã làm xong việc đó rồi thì Đức Thầy sẽ bảo Cha đi mục vụ cho xứ nào'"[14]

Cha Triệu ở lại Dinh Cát hai ngày rồi ngài từ giã Đức Cha Bình mà vào Phú Xuân để thăm mẹ và quê hương sau nhiều năm xa cách. Đã trải qua hơn 20 năm ròng kể từ khi ngài bỏ quê nhà ra Đàng Ngoài, cảnh vật Phú Xuân đã đổi thay nhanh chóng dưới quyền của nhà Tây Sơn, lúc này đang được cai trị bởi Hoàng đế Cảnh Thịnh là con của Quang Trung. Thế nhưng, cảnh mới người cũ, ngài vẫn thấy bóng dáng của những người bà con thân thuộc và họ hàng xa ở Kim Long và Thợ Đúc thấp thoáng xung quanh, hơn hết cả là người mẹ già nay đã lên tuổi thất tuần của minh. Gặp lại người mẹ đang sống trong cảnh nghèo túng khổ cực và ở đợ nhà một người họ ngoại, Cha Triệu đau buồn hết sức khi không thể có mặt bên cạnh mẹ để đỡ đần giúp bà. Do đó, ngài quyết tâm dùng tiền cá nhân mà xây một căn nhà gỗ cho mẹ già để bà có thể tịnh dưỡng cho đến cuối đời và nhờ vài người cháu gái bên họ ngoại chăm sóc cho bà. Ngài cũng thường xuyên qua lại nhà cửa của các tín hữu ở Thợ Đúc, Kim Long và Phủ Cam cùng tu viện của các chj Dòng Mến Thánh Giá để trao ban các Bí tích và dâng lễ cho họ như lời dạy bảo của Đức Cha Bình. Lúc này ở Phú Xuân có khoảng 6000 tín hữu theo báo cáo của các linh mục Hội Thừa sai Paris, trong đó ở Phủ Cam đã có gần 3000 người và Thợ Đúc khoảng gần 1000 người. Tuy các xứ đạo này ở sát cạnh kinh thành nhưng do chưa có sắc chỉ cấm đạo nào trong những năm gần đó nên giáo dân có thể tự do sinh hoạt.[17]
Sau hai tháng rưỡi thi công thì vào giữa tháng 7 năm 1798, nhà của mẹ Cha Triệu đã hoàn tất và ngài liền trở ra Dinh Cát để tiếp tục báo cáo với Đức Cha Bình như đã hứa. Trong lần gặp mặt thứ hai này, thâm tâm của Cha Triệu đã để lộ ra một mong muốn khiến Đức Cha Bình cảnh giác. Theo lời thuật kế tiếp của Đức Cha Bình:[14]
"Thời gian trôi qua, cha lại đến thăm tôi ở Dinh Cát khi tôi còn đang trú ở đó; nhưng tôi để ý rằng trong hai ngày cha ở với tôi, cha nói với tôi như thể rằng cha muốn lấy cớ vắng vài ngày mà trở về Đàng Ngoài; điều này khiến tôi bất ngờ đôi chút vì tôi chắc chắn rằng Cha Triệu biết hết mọi điều được ghi trong hai bức thư tín nhiệm mà hai Đức quản tông tòa đã gửi đến cho tôi. Thế nhưng tạm thời thì tôi cứ muốn giữ im lặng và không hỏi cha ấy bất cứ điều gì về kế hoạch cha đang ấp ủ, vì tôi vẫn chỉ có những suy nghĩ hồ nghi phỏng đoán trong đầu. Cha rời chỗ tôi và trở về Phú Xuân một lần nữa để hoàn tất một vài vấn đề nhỏ nhặt mà cha đang mắc phải ở đó."[14]
Trong lần trở về Phú Xuân này, Cha Triệu đã lộ rỏ thêm ý định muốn phản lại ý của Đức Cha Phê và về lại Đàng Ngoài và vào khoảng đầu tháng 8 năm đó, ngài lại trở ra Dinh Cát thêm một lần nữa để viếng thăm Đức Cha Bình. Đây cũng là lúc mà Đức Cha đã chắc chắn về ý định bất tuân của Cha Triệu. Ngài viết trong thư về lần gặp mặt cuối cùng này như sau:[14]
"Ngay sau khi cha trở về từ đợt này, tôi rất chắc ăn rằng linh mục này đang nghiêm túc suy nghĩ về việc trở lại Đàng Ngoài dưới cái cớ là ở lại đó một vài ngày. Tôi còn được mách bảo rằng trong suốt thời gian cha ở Phú Xuân, cha đã nhận nhiều bức thư đến từ những quân ly giáo ở Đàng Ngoài khẩn xin cha trở về nhanh chóng. Cha này còn làm một chuyện khiến tôi bất ngờ một chút nữa. Khi gặp được những tín hữu là bổn đạo cũ của Dòng Tên, cha lại cố gắng khơi gợi tâm trí ly khai trong đầu của họ, cha thường nhận mạnh ý nghĩ đó trong đầu họ, và lời nói của cha đã không thất bại trong việc in sâu vào thâm tâm của những con chiên đã quên đi về quá khứ trong một thời gian lâu dài. Tất cả những sự này không làm hài lòng tôi, và tôi cũng phải bảo rằng cha này là một người rất minus habens [tiếng Latinh: thiếu hiểu biết] vì cha hầu như chẳng biết một cái gì mà cũng chẳng câu nệ gì về việc đó, thậm chí cha còn thừa nhận việc đó với các học sinh của mình. Cha Triệu thừa nhận rằng nói cho đúng ra là ngài mới có học ở chủng viện được một năm rưỡi; khi cha đi làm mục vụ ở đâu thì đều để lại dấu vết rõ ràng của sự bất cẩn và thiếu hiểu biết của mình đến đó."[14]
Lo ngại trước nguy cơ ly giáo càng ngày càng dâng cao của Cha Triệu, Đức Cha Bình đã viết một bức thư cảnh cáo nặng lời đến cho ngài để thuyết phục ngài thôi bỏ ý định nguy hiểm trên để khỏi biến mình thành một kẻ ly giáo mà dính vạ mất linh hồn mình cùng làm hư tổn linh hồn cho các con chiên ở Phú Xuân bằng những lời giảng của ngài. Đức Cha khuyên Cha Triệu hãy bình tâm suy ngẫm và cẩn trọng trong bước đường cha sẽ chọn lấy trong tương lai kẻo phải kéo linh hồn mình xuống Hoả ngục và làm cớ nên tội cho người khác. Vào lúc giữa trưa ngày 7 tháng 8 thì thư của Đức Cha đến tay Cha Triệu ở làng Thợ Đúc, thế nhưng Đức Cha sẽ chẳng nhận được hồi âm nào nữa vì ngày hôm sau chính là lúc bắt đầu cuộc thương khó của Cha Emmanuel Xavier Nguyễn Văn Triệu.[14]
Thương khó và tử đạo
[sửa | sửa mã nguồn]
Nhiều năm về trước ở kinh thành Phú Xuân, Thái sư Bùi Đắc Tuyên là quyền thần và ngoại thích của vua Cảnh Thịnh đã nuôi lòng ghen ghét đạo Công giáo và suýt khuyên vua ban hành sắc chỉ cấm đạo đầu tiên nhưng do Vũ Văn Dũng đã tống giam ông ta vào ngục rồi cho dìm xuống sông Hương chết nên giáo dân ở kinh đô được thoát nạn lần đầu. Thế nhưng vào đầu tháng 8 năm 1798, quan Nội hầu là Lê Văn Lợi do ghen ghét đạo Công giáo nên đã thường xuyên thúc dục vua Cảnh Thịnh chống lại đạo và còn buông lời cay đắng với các Linh mục Tây phương:
- Bọn Hoa Lang là quân rất mưu mẹo, chúng có nhiều người ủng hộ trong nước ta. Chúng có thể công khai chiến sự mà đánh chiếm xã tắc nên thần cầu cùng Thánh thượng xin hãy bắt hết các đạo trưởng người Tây phương lẫn An Nam
Nhưng bên cạnh nhà vua cũng có một vị quan văn có đạo là Lại bộ Thượng thư Hồ Công Diêu là một tín hữu nhiệt thành và thường hay ra mặt bảo vệ giáo dân và các đạo trưởng trước triều đình, ông ấy lại bảo vua:
- Bẩm Thánh thượng, đạo Công giáo dạy bách tính phải biết vâng lời Bề trên và thảo kính cha mẹ; thần tự hỏi làm sao đạo lại khiến người ta phản loạn được?
Nhưng cuối cùng lời a dua của tên võ quan lại thắng thế trong tâm trí của vua Cảnh Thịnh và một chiếu chỉ đã được soạn ra để bất ngờ phục kích các đạo trưởng và giáo dân sống ở gần kinh thành. Vào ngày 7 tháng 8 thì cuộc bách hại đời Cảnh Thịnh bắt đầu mà không có sắc chỉ nào kèm theo.
Giữa trưa ngày 8 tháng 8 năm 1798, vua Cảnh Thịnh sai ba tốp lính tráng với mỗi tốp là 50 binh sĩ xâm nhập vào ba họ đạo gần kinh thành Huế nhất là Phủ Cam, Dương Sơn và Thợ Đúc. Có hai hoặc ba Linh mục ở các họ đạo trên đang trốn nhờ ở những họ khác ngoài kinh đô nhờ Thượng thư Hồ Công Diêu đã báo cho các cha trước nên mới trốn thoát được, duy có Cha Triệu là người mới trở lại Phú Xuân một vài ngày sau khi đi Dinh Cát nên quan Thượng thư không biết ngài mà đến báo tin. Cha Triệu vẫn ung dung ăn ở và sinh hoạt qua ngày ở chỗ ở từ trước tại Thợ Đúc. Trên đường đến họ Thợ Đúc, tốp lính gặp một người phụ nữ bên lương là một bà thu mua đồng thau cũ đi ra khỏi làng. Họ hỏi bà ta:
- Ở trong làng này có Đạo trưởng Hoa Lang nào đang lẩn trốn không?
- Thưa có. Có một Đạo trưởng như thế thường hay qua lại Phủ Cam và đến thăm tu viện của các bà mụ.
Khi bị ép khai tên Cha Triệu ra, bà ta bảo là mình chẳng biết gì thêm, nhưng bằng đấy thông tin là đã quá đủ với tốp lính và bọn chúng xông vào trong làng lùng sục Cha như những con thú hoang đói khát con mèo. Cha Triệu lúc này đang ngồi ở trong nhà một Thầy giảng lớn trong làng là ông Tống Công Quyền (người đã chịu bách hại nhiều năm trước và lại vắng mặt ngày hôm đó) cùng hai người nhà và một vài nữ tu Dòng Mến Thánh Giá từ tu viện Thợ Đúc thì bọn lính tráng xông vào nhà, bao vây, và bắt đầu bạc đãi cùng hăm dọa những người đang ở trong, bắt họ phải khai tên đạo trưởng là ai và đang trốn ở chỗ nào. Cha Triệu cũng bị bắt trói trong số này và đáng lẽ ngài đã có thể lẩn trốn dễ dàng do bọn lính chưa biết ngài là đạo trưởng vì ngoại hình của cha nhìn cũng như bao người dân thường khác, chẳng có vóc dáng nào như đạo trưởng Tây phương trong trí tưởng tượng của bọn lính. Nhưng khi nhìn thấy cảnh chúng dã man đánh đập giáo dân cùng các chị nữ tu để ép họ khai nơi ẩn trốn của các đạo trưởng nên Cha Triệu liền nghĩ rằng thà tự nộp mình còn hơn nhìn cảnh đoàn chiên chịu khổ vì mình. Cha Triệu liền đứng dậy và xưng mình là đạo trưởng rồi yêu cầu lính tráng hãy bắt mình mà để những giáo dân được yên ổn. Lúc đầu bọn lính không tin lời cha nói, nhưng khi cha đinh ninh lặp lại nhiều lần thì chúng mới tin, đánh cha hai trận roi nhừ tử và còn thêm hai phát chùy sắt sau đó khiến cha đau đớn vô cùng, lần thứ nhất thì chúng đánh cha mười roi, lần thứ hai thì mười lăm roi rồi thêm vào đó hai phát chùy. Khi nhìn thấy cảnh con mình chịu đòn vọt thê thảm thì mẹ Cha khóc ra nước mắt, Cha Triệu đã an ủi bà bằng những lời đạo đức và đầy lòng phó thác vào ý Thiên Chúa:
- Đức Chúa Trời đã cho phép chuyện này xảy ra vì vinh quang của con mẹ; mẹ đừng nên buồn rầu và than khóc làm chi kẻo lại trái ý Thiên Chúa.

Gần nơi Cha Triệu bị bắt là tu viện Thợ Đúc của các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá; có khoảng chừng 30 chị ở trong một cộng đồng nhỏ. Bọn lính tráng bao vây chỗ đó ngay lập tức sau khi bắt Cha Triệu. Tất cả các chị này, trừ một hai người may mắn trốn thoát, đều bị giam giữ. Bọn quân dữ trói tay của chín mười người trong số đó, là những chị trẻ tuổi nhất và điều họ đi về hướng Hoàng cung, để lại những chị già hơn dưới sự giám sát tại gia. Vị bề trên tu viện này, một sơ rất khả kính tên là Bà Thốc, độ vào khoảng 72 tuổi và đã giữ tiết hạnh suốt đời, đứng lên và phản đối việc những chị nhỏ bị bắt đi và nói rằng bà sẽ chẳng bao giờ cho phép cả đoàn bị ly tán, rằng một là tất cả đều bị giải về Hoàng cung, hai là chẳng ai đi. Cứ như thế, các chị dòng này bị giữ tại nhà trong hai ngày. Trong khi đó, họ hàng của các chị, những người có thế lực trong giới quan trường đã can thiệp để họ được thả đi với ít phí tổn, nhưng tất cả những vật dụng tư trang trong nhà và chính tu viện lẫn căn nhà Cha Triệu đang ở đều bị phá hủy hoặc chiếm đoạt.
Vào buổi chiều cùng ngày, Cha Triệu cùng hai người nhà và các thầy giảng đầu mục ở ba họ đạo lớn bị đóng gông và giải về để tống giam vào ngục thất Tả Khám Húc Phụng (gần Cửa Thượng Tứ) trong Kinh thành. Sớm hôm sau, ông quan án được giao trọng trách xét xử các tín hữu thăng đường và cho áp giải phạm nhân từ khám đến để hỏi cung. Cha Triệu được gọi lên trước cả và ông ta tra hỏi với một giọng điệu dọa nạt khinh bỉ rằng:
- Họ bảo thầy là người Đàng Ngoài, và thầy đến đây dùng tà thuật để mê hoặc bách tính, và giảng cho họ về Tả đạo Hoa Lang. Có đúng không?
Cha Triệu đáp lại:
- Tôi không phải là người Đàng Ngoài, mà vốn là người ở Phú Xuân đây. Cha tôi được người ta gọi là Ôn Cai Lương, ông vốn là một vị quan phụng sự chúa Nguyễn đời trước. Vào năm ở đây có nạn đói lớn, tôi buộc phải bỏ quê hương mà đi ra Đàng Ngoài. Từ đó đến giờ là 24 năm về trước rồi. Ở đó tôi học dưới trướng một vị Giám mục của đạo Thiên Chúa và ngài phong tôi làm linh mục sau một vài năm và gửi tôi đến đây để giảng về đạo này. Sau nhiều năm tha phương ở Đàng Ngoài thì tôi mới về lại quê được có ba tháng để thăm viếng mẹ tôi, hiện bà đã rất lớn tuổi.
Ông quan án lại hỏi cha bằng giọng châm biếm:
- Thầy có vợ và con cái không? Họ ở đây hay ở Đàng Ngoài?
Cha Triệu đáp:
- Tôi không có vợ cũng chẳng có con, vì từ lúc trẻ tuổi tôi đã quyết định từ bỏ thế gian và giữ đức tiết hạnh suốt đời.
Ông quan án này ra lệnh bắt Cha Triệu đeo một cái gông mới quanh cổ, vì cái gông đầu tiên Cha đeo rất nặng và lớn, nên nhiều lại thuộc sợ rằng ngài sẽ sớm chết sau khi đeo nó; do đó họ mới thay cái gông cũ bằng một cái gông mới nhẹ hơn nhiều, có viền sắt, cho Cha Triệu đeo. Chúng cũng xiềng sắt và lòi toi quanh chân Cha. Cha bị giữ trong tù hơn một tháng nữa, bị quất thêm 3 trận roi nặng và ít nhất là 60 phát trượng lên xương. Bọn cai ngục cho Cha ăn trên những bát đĩa khiến ai nhìn vào cũng phải hoảng hồn vì đồ dùng nào đều cũng rất dơ dáy hoặc được làm từ vỏ cây cau bẩn. Cha bị bắt chỉ được nằm trên những tấm chiếu hôi tanh. Ngay ngày đầu tiên bị giam giữ, Cha Triệu nhìn vào cách mình bị quân lính đối xử tàn bạo thì chắc chắn rằng bản thân sẽ không thoát khỏi cái chết. Cha Triệu lặp lại điều này nhiều lần bằng một giọng rên rỉ với hai người nhà Dòng và các thầy giảng bị giam chung với mình. Nhiều lúc khi Cha nghĩ về những lần bị ngược đãi và mắng chửi, cả về cái chết đang đón chờ mình, Cha cảm thấy sợ hãi tột cùng, khiến cho đáy lòng Cha có ý muốn làm trái ý Thiên Chúa; nhưng một lúc sau thì Cha lại hồi tâm mà hoàn toàn phó thác cho ý Ngài. Điều này lộ rõ nhất khi ông quan án tra vấn Cha về những giáo lý của đạo Công giáo hoặc về hành trạng của Cha: ngài luôn trả lời bằng một giọng chắc cú, chẳng lòng vòng, chẳng nịnh nọt, chẳng run sợ một chút gì. Nhìn vào dáng ngoài của Cha, chẳng ai nghĩ rằng Cha lại là một đạo trưởng: nhưng khi giờ thương khó đến, ai cũng thấy rằng sự dũng cảm và đức độ của cha là vô số.
Vào ngày 17 tháng 8 là một tuần sau khi Cha Triệu bị bắt và cũng là ngày Đức Mẹ La Vang hiện ra với các giáo dân lẩn trốn trong rừng vằng ở Quảng Trị khi cuộc bách hại đã lan tràn ra mọi nơi trong Đàng Trong, thì sắc chỉ cấm đạo của vua Cảnh Thịnh mới xuất hiện:
"Kể từ nay tất cả những phép cần thiết để trị nước đều nằm trong mối quan hệ tương hữu giữa quân vương và bách tính, giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng và trong năm đức tính Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín (Tam cương ngũ thường) ... đạo Hoa Lang là một thứ giáo lý đầy rẫy những mê tín nhằm lừa gạt người dân và làm loạn trật tự xã tắc, tuy đã bị cấm đoán trước đó nhưng chưa thành công triệt để. Cảnh Thịnh Hoàng đế với mục tiêu chấn hưng xã tắc cùng cải tổ triều chính ra quyết định diệt trừ giáo lý ghê tởm của đạo Hoa Lang. Từ nay ra lệnh phá hủy tất cả nhà thờ, nhà xứ và bắt giam bất cứ ai liên quan trong các họ đạo"
Vào ngày hôm đó, các quan án đã định đoạt rằng vị Cha Triệu sẽ chịu án voi giày, nhưng do đã có một lời hăm dọa đến từ một đại quan trong triều - có lẽ là Thượng thư Hồ Công Diêu - trước mặt bá quan trong ngày hôm đó rằng:
- Thằng nào có gan trời thì cứ để nó giết chết Đạo trưởng đó đi!

Nên đám quan án không dám giết Cha vào ngày hôm đấy. Có nhiều người tin rằng có khả năng Cha sẽ được giải thoát vì thái độ cùng cách đối đãi của bọn cai ngục với ngài trở nên nhẹ nhàng hơn so với trước sau hôm ấy. Xuyên suốt khi bị cầm tù, Cha Triệu luôn tập trung chiêm nghiệm hoặc cầu nguyện không ngừng. Có lúc cha lại giúp giải tội cho những bạn tù và may mắn thay có Cha Lộc là người Đàng Trong cũng đã đến giải tội cùng ban phép lành sau hết cho Cha Triệu dọn mình. Mẹ của Cha cũng đến thăm ngài. Khi bà khóc lóc thương con thì ngài liên tục an ủi và bảo bà hãy không ngừng tin tưởng vào Thánh ý của Thiên Chúa.
Giờ sau hết đã đến và ý Thiên Chúa đã an định. Vào sáng sớm ngày 17 tháng 9, Cha Triệu được triệu tập trước công đường một lần nữa. Người ta bảo nhau rằng, ngay khi cha vừa thăng đường thì các quan án nói với cha rằng:
- Được rồi! Thưa thầy, vậy thầy có muốn từ bỏ việc đi rao giảng đạo Hoa Lang mà hoàn tục rồi làm bất cứ nghề gì khác thầy muốn chăng? Nếu thầy hứa sẽ làm như vậy, tôi sẽ xin Thánh thượng xá tội cho thầy.
Người ta lại bảo nhau rằng, cha Emmanuel trả lời họ bằng một giọng sắt đá nhưng kính nhường rằng:
- Lạy các quan, tôi thà chết chứ chẳng bao giờ thề bỏ việc giảng đạo Đức Chúa Trời Đất. Nếu tôi phải thề làm chuyện đó để giữ lấy cái mạng này mà trở thành tội nhân trước mặt Đức Chúa thì tôi thà chết trong vinh hiển còn hơn, vì tôi chẳng muốn sống với cái giá đó.
Cha Triệu bị kết án tử ngay lập tức mà không có thông lệ gì thêm vào khoảng 4 giờ sáng. Cùng lúc đó, có sáu tên trộm cướp đã bị cầm tù trong một thời gian dài cũng bị kết án tử. Bản án chưa được truyền ra bao lâu thì tin đồn đã lan khắp thành về một Đạo trưởng là người quê Phú Xuân sắp bị xử tử. Người người đua nhau ra đường để xem được mặt Cha Triệu vì tính hiếu kỳ. Có người bên lương biết ông là con nhà sang trọng thì chế giễu vì sao lại thành đạo trưởng mà đến nỗi phải chết thảm. Những người có đạo thì thấy ông sắp chịu chết ở quê nhà quanh anh em bạn bè, cùng có mẹ già chứng kiến thì bảo nhau rằng ông thật có phúc, vì Đức Chúa Trời đã bảo ai chịu khổ vì Ngài càng nhiều thì phần thưởng trên trời của họ càng lớn lao.
Giáo dân khắp thành ngập đến cổng cung điện để nghe ngóng nhưng họ không thể vào vì lính canh đã có lệnh ngặt không được cho ai vào. Vào khoảng 10 giờ sáng cùng ngày, Cha Triệu khi vừa để ý rằng họ sắp sửa dẫn mình ra pháp trường, nói lời từ biệt và cảm ơn những tên cai ngục đã giữ mình trong tù cho đến lúc này. Ông liền được trao cho một tốp lính khác để áp giải đến nơi hành quyết. Khi vừa rời khỏi cung điện, các giáo dân được cho phép lại gần và tạo thành một đoàn rước tiễn đưa ông đến pháp trường gần chợ ngoại thành. Linh mục Triệu bước đi trên đường cách nghiêm trang như khi ngài đang đi lên bàn thờ mà dâng Thánh Lễ với niềm vui tỏa khắp khuôn mặt mà chẳng có một chút run sợ gì trước cái chết đến gần. Để thêm phần nhục nhã cho Cha Triệu, quan triều đình cho bêu rếu Cha một vòng quanh kinh thành ở các phố chợ cùng với sáu tên trộm cướp như Chúa Giêsu khi xưa bị treo trên Thập tự giữa hai tên trộm, thế nhưng lòng kiên trung và bước chân kiên nghị của ngài đã được các Thiên thần ghi lại vào sổ Trời và đo từng bước bằng thước vàng, dẫn theo cách nói của Cha Bỉnh.

Theo hình luật lúc bấy giờ, khi một tội nhân chịu án tử thì tội trạng của họ phải được công bố cho khắp dân chúng. Do đó, một tên lính đi sau cha cầm một tấm bản gỗ lớn trên đó có ghi dòng chữ như sau:
"Nay cần thiết phải bố cáo cho bách tính gần xa rằng: Tên này là Triệu, con cháu nhà Nguyễn Văn Đặng, quê quán ở thôn Bùi Xá, trang Gia Miêu ngoại, huyện Tống Sơn [phủ Hà Trung, xứ Thanh Hóa nội] ở Đàng Ngoài, [tự xưng là đạo trưởng], đã thú tội rao truyền đạo Hoa Lang và ép người dân phải theo đạo này, là một tội rõ ràng là đáng khinh bỉ nhất. Như vậy, tội trạng của hắn phải trị cho xứng bằng án trảm quyết"
Khi Cha Triệu vừa đến pháp trường Bãi Dâu gần Chợ Được, bọn đao phủ giúp cha liền trút bỏ xiềng xích và ngài quỳ xuống cầu nguyện. Sau đó, viên quan án ban cho mỗi tử tù một quan tiền (tức là 600 đồng tiền kẽm được xuyên bằng một dây qua lỗ, một quan tiền bằng phân nửa lạng tiền) để bọn họ có thể mua rượu uống say để bớt sợ chết. Cha Triệu từ chối nhận phần tiền của mình. Ông quan này thúc ép và bảo cha rằng đây là tiền của nhà vua ban cho, sẽ rất thất lễ nếu ngài không nhận. Dù vậy, Cha Triệu kiên quyết không nhận số tiền này dù cha rất cảm ơn lòng tốt của nhà vua vì bản thân mình sắp rời bỏ thế gian và lại được uống thứ rượu đắng của Chúa Giêsu, nên Cha chẳng cần gì tiền bạc để mua rượu trần thế. Ông quan đó bảo:
- Cho dù vậy thầy vẫn phải nhận món tiền này vì đó là thông lệ.
Cha Triệu liền đáp:
- Vậy tôi xin nhận món tiền đó, nhưng hãy phân phát hết cho kẻ nghèo hèn đi.
Ngay lúc đó, một tên lính dọa tiến gần Cha với thanh đao trong tay sờ sờ trước mặt. Một tên lính khác vì tưởng Cha vô lễ với quan trên tát ngài một phát mạnh vào má. Ông quan án quát tháo tên lính này và mắng hắn rằng:
- Gì đây!? Giờ của thầy chưa tới mà mi dám bạc đãi thầy như thế sao?
Rồi quay sang Cha Triệu, ông ta nói:
- Thưa thầy, thầy cứ ngồi xuống đi, vì giờ của thầy chưa đến đâu.
Cha Triệu hạ mình xuống, hai chân vẫn quỳ rạp, đôi mắt cha hướng về Thiên Đàng và môi miệng cha cầu nguyện không ngừng. Lúc giữa trưa, giờ Ngọ đã điểm, ông quan án lại gần chỗ Cha Triệu và ôn tồn bảo cha rằng:
- Thưa thầy, giờ đã đến.
Tức thì, Cha Triệu liền quay mặt về phía bá quan văn võ đang xem cảnh hành hình ở phía xa rồi dùng hết sức bình sinh mà hét lớn rằng:
- Tôi xin cảm tạ các quan lớn vì đã ban cho tôi ơn phước rất trọng này!
Dọn minh xong rồi, Cha Triệu quỳ rập xuống đất và giương cổ ra. Ngay lúc đó, tên đao phủ bước đến chỗ cha và với một phát đao nhanh gọn, đầu cha đã lìa khỏi cổ. Như vậy, linh mục Emmanuel Xavier Nguyễn Văn Triệu đã chịu tử vì đạo và hiến dâng linh hồn mình vì vinh quang Thiên Chúa, năm đó ngài được 42 tuổi và đã chịu chức linh mục được 5 năm. Ngài là linh mục triều tử đạo tiên khởi của Việt Nam và cũng là thánh tử đạo tiên khởi ở Huế.
Khi đầu của vị tử đạo đã lìa khỏi thân xác, một ông già có đạo buộc nó trong một tấm vải và đem đi nhanh lẹ; xác của ngài cũng bị đem đi và được bí mật chôn trong một làng Công giáo toàn tòng gần đó. Vô số tín hữu đã đến chợ để xem cảnh tượng này đều quay quanh tứ phía của cha; họ mang theo rất nhiều vải lanh để thấm máu ngài và mang cả đất nơi ngài bị chém nữa. Do đó, đến ngày nay ta vẫn thấy một hố to ở ngoài Bãi Dâu. Những thầy giảng bị nhốt chung với Cha Triệu không bị cầm tù lâu hơn. Sau khoảng 2 tuần, tất cả đều được tha về. Trong vài ngày đầu họ vẫn bị tra hỏi và quấy rối, nhưng về sau càng ít đi. Hai thầy người nhà của Cha Triệu bị giam cầm cho đến khi Cha đã bị hành hình; khi ngài vừa bị chém thì họ đều được bảo lãnh và gửi về xứ Đàng Ngoài, quê hương của họ.
Tiếng thơm ngàn đời
[sửa | sửa mã nguồn]Cuộc tử đạo vinh quang của thánh Triệu đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên đổ máu mới cho cộng đồng tín hữu Công giáo Việt Nam qua cuộc bách hại thời vua Cảnh Thịnh, kéo theo sau đó là việc Đức Mẹ La Vang hiện ra ở Quảng Trị, câu chuyện 30 đầu mục ở Quảng Ngãi chọn bước qua cửa tử chịu chết thay vì bước qua cửa sinh mà phải quá khóa và cuộc tử đạo không kém phần vinh hiển của linh mục Gioan Đoàn Việt Đạt ở Thanh Hóa. Đúng khoảng một năm sau ngày mất của thánh Triệu, tháng 7 Âm lịch năm 1799, Cảnh Thịnh phải mất thành Quy Nhơn về tay vua Gia Long và đã sinh ra nhiều lục đục giữa ông với hai đại tướng là Vũ Văn Dũng và Trần Quang Diệu cộng với mối hiềm khích giữa hai phe Dũng-Diệu và phe của Trần Viết Kết, Trần Văn Kỷ và Hồ Công Diêu khiến cho tình thế nhà Tây Sơn ngày càng suy thoái. Sự trùng hợp này được quy cho là một phép là từ thánh Triệu và đã được dùng trong án phong thánh của ngài ở Tòa Thánh.[18]

Ở Nam Định, Thầy giảng Đông là người nhà của thánh Triệu sau khi được thả về đã lan truyền rộng rãi việc ngài chịu tử vì đạo cho các xứ. Cộng đồng tín hữu trung thành với Dòng Tên ở Nam Định mất đi một linh mục quý giá nhưng lại được thêm một vị thánh ở trên Thiên Quốc. Các tín hữu thân Dòng Tên ở Nam Định vẫn duy trì án ly giáo cho đến năm 1805 thì lụi tàn đi và Địa phận Đông Đàng Ngoài trở thành địa phận độc quyền của Dòng Đa Minh. Vào tháng 12 năm 1788, Đức Cha Phê sau khi nhận được tin tử đạo của hai thánh Triệu và Đạt đã viết một thư chung gửi cho các tín hữu ở Nam Định để dạy họ phải biết xưng đạo cho thật lòng và dũng cảm như hai thánh. Trong thư đó có đoạn ca ngợi hai vị như hai tướng mạnh của Thiên quốc cho giáo dân noi theo vì đã lấy máu đào mà làm sáng danh Thiên Chúa.[13][19]
Ở Huế, thời kỳ cấm đạo kết thúc yên ổn sau khi vua Gia Long lấy lại được kinh đô Phú Xuân và cho phép rộng rãi quyền tự do tôn giáo của bách tính. Đức Cha Bình cùng các Cha Hội Thừa sai Paris bắt đầu biên soạn tiểu sử cho thánh Triệu mà gửi về Tòa Thánh. Nhờ có công tổng hợp của Hội nên thánh Triệu đã sớm được công nhận là Tôi tớ Chúa và đấng tử đạo từ những năm đầu thế kỷ 19. Năm 1803, Đức Cha Bình cho khai quật mộ phần của thánh Triệu và gửi hết các thánh tích đến nhà thờ họ đạo Dương Sơn lưu giữ ở trên bàn thờ do Dương Sơn vừa là họ đạo thánh Triệu thường xuyên mục vụ thuở sinh thời và vừa có công cho các cha thừa sai trú ẩn trong thời Cảnh Thịnh.[20]

Lúc cha Triệu tử vì đạo, bạn của ngài là Cha Bỉnh đã lên đường đi sứ Bồ Đào Nha cho các tín hữu Dòng Tên và đang trú cùng các Thầy Nhân, Thầy Ngần và Thầy Trung ở nhà nguyện Necessesidas của Cộng đoàn Nguyện sĩ thánh Philipphê Neri, Lisboa. Do cách xa nửa vòng thế giới, Cha Bỉnh đã không nhận được tin gì về tình hình các tín hữu ở Đàng Ngoài cho đến năm 1804 khi Cha nhận được thư từ em ruột là Nguyễn Văn Thông và các thầy Dòng ở Nam Định báo tin rằng thánh Triệu đã chịu tử vì đạo ở trong Phú Xuân. Hơn 20 năm sau, khi chấp bút viết cuốn sách Truyện Annam, Đàng Ngoài thì Cha Bỉnh đã viết lại tiểu sử sơ lược của thánh Triệu và liệt kê ngài vào hàng các thánh tử đạo của Dòng Tên ở Việt Nam, với tư cách là linh mục giúp Dòng trong thời kỳ bị phá hủy. Dù không có đủ thông tin về cuộc thương khó của bạn mình để viết một khoản văn mạch lạc, Cha Bỉnh vẫn cố gắng thu thập từng mảnh nhỏ và chắp vá bằng lòng sùng kính của mình. Thánh Triệu dù chưa được Hội thánh tuyên phong nhưng cha Bỉnh đã hằng cầu nguyện xin ngài cầu bầu như là một vị thánh tử đạo ở trên trời, như khi xưa Cha Pierre Favre là đồng sáng lập Dòng Tên chết trước ông thánh Phanxicô Xaviê thì ông thánh Phanxicô hằng cầu nguyện với bạn mình vậy. Kết thúc chương truyện về thánh Triệu, Cha Bỉnh đã viết những lời sau:[10]
"Sau kết trong truyện này thì tôi nói một điều cho ra lẻ, là khi có phong chức thánh cho Cụ Triệu, vì người đã chịu Tử vì Đạo, thì là thánh giúp Dòng Đức Chúa Jesus chẳng phải là thánh giúp Dòng ông thánh Đômingo, dù mà người đã đi làm phúc cho bổn đạo Dòng ấy thì là sự ép lòng, mà sự ép lòng cũng trái ý thì ra không, cũng như kẻ lấy vợ chồng vậy, vì khi ép lòng cùng trái ý nó thì chẳng nên vợ nên chồng, vì lẽ ấy thì tôi mới chép truyện người vào sách này, là sách chép việc Dòng Đức Chúa Jesus nhất là truyện các thánh Tử vì Đạo ở trong nước Annam."[10]
Quá trình tuyên thánh
[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 tháng 7 năm 1843, Đức Giáo hoàng Grêgôriô XVI nâng linh mục tử đạo Emmanuel Xavier Nguyễn Văn Triệu cùng linh mục Gioan Đạt và các bạn tử đạo ở An Nam và Trung Hoa lên hàng Đấng đáng kính.[15]
Ngày 27 tháng 5 năm 1900, Đức Giáo hoàng Lêô XIII nâng Đấng đáng kính Emmanuel Xavier Nguyễn Văn Triệu cùng 63 bạn tử đạo ở Đông Dương lên hàng Chân phước. Đây là đợt tuyên phong Chân phước đầu tiên của lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam. Lấy lễ kính là Chúa Nhật đầu tháng 9 hằng năm.[15]
Ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II nâng Chân phước Emmanuel Xavier Nguyễn Văn Triệu cùng 116 bạn tử đạo Việt Nam lên hàng Hiển thánh tại Quảng trường Thánh Phêrô. Lấy lễ kính là ngày 24 tháng 11 hằng năm và là lễ trọng ở Việt Nam.[15]
Hiện nay thánh Emmanuel Xavier Nguyễn Văn Triệu được tôn kính ở nhiều giáo xứ trên khắp cả nước, như quê nội của ngài ở giáo xứ Kim Long có tạc một bức tượng mạ hoàng kim cùng xây một đài tưởng niệm các thánh tử đạo của giáo xứ (có thánh Anrê Trần Văn Trông và thánh Gioan Đoàn Trinh Hoan cũng là hai vị có quê ở Kim Long). Giáo xứ Thợ Đúc là quê ngoại của ngài hiện có xây một bàn thờ thánh cốt của ngài. Giáo xứ Dương Sơn vẫn còn lưu giữ hộp sọ của ngài ở gian cung thánh. Có nhiều giáo họ nhận ngài làm bổn mạng ở các tỉnh miền Trung, tiêu biểu có giáo họ thánh Emmanuel Triệu thuộc Giáo xứ Chính tòa Đà Nẵng được thành lập năm 1988 bởi người dân di cư từ thành phố Huế vào. Ở Úc cũng có cộng đoàn tín hữu người Việt ở giáo xứ St. Paul khu Sunshine West, thành phố Melbourne nhận thánh Triệu làm bổn mạng.[21]
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Gia phả họ Nguyễn Văn làng Kim Long (bản Quốc Ngữ), dịch bởi Trần Đại Vinh
- ^ Đại Nam thực lục Chính biên, Quyển I và II
- ^ a b La Relation du Martyre du R.P. Emmanuel Trieu, Jean Labartette, MEP
- ^ Người Tín Hữu, Dòng Máu Anh Hùng: https://www.nguoitinhuu.org/martyrs/tudao7.html
- ^ https://www.nguoitinhuu.org/martyrs/tudao7.html và https://referenceworks.brill.com/display/entries/JHO/COM-210470.xml?language=en chú thích số 43 về thời gian cư trú của các vị thừa sai Dòng Tên
- ^ Divinum Officium, Ordo của tháng 1 năm 1756: https://www.divinumofficium.com/cgi-bin/horas/kalendar.pl
- ^ a b Đại Nam thực lục, quyển I
- ^ a b https://www.nguoitinhuu.org/martyrs/tudao7.html
- ^ Le Journal de Voyage: Pierre Poivre en Cochinchine (1749-1750), dịch bởi Trần Trung Dũng: https://www.otofun.net/threads/dich-sach-co-nhat-ky-hanh-trinh-den-xu-nam-ha-1749-1750-cua-pierre-poivre.1910207/
- ^ a b c d e f g h i Truyện Annam (Đàng Ngoài), Truyện Thầy cả Triệu tử vì đạo, linh mục Philipphe do Rosario Nguyễn Văn Bỉnh
- ^ George E. Dutton "A Vietnamese Moses", chapter 2
- ^ a b c d Sổ sang ghi chép các việc, Philipphe do Rosario Bỉnh viết năm 1820 ở Lisbon
- ^ a b Nhật trình kim thư khất chính chủ giáo, Philipphe do Rosario Bỉnh viết ở Lisbon năm 1822
- ^ a b c d e f g Thư Đức thầy Labartette gửi các Thầy Boiret, Descoveriers và de Chaumont ở thành Roma, Thư khố Hội Thừa sai Ngoại quốc, quyển 747, trang 163 - Nguyễn Văn Nam dịch
- ^ a b c d Hạnh thánh tử đạo Emmanuel Xavier Triệu, Nguyễn Văn Nam
- ^ Sách "Các vị tử đạo người An Nam và Trung Hoa từ năm 1798 đến 1856 được phong Chân phước trọng thể bởi Đức Thánh Cha Lêo XIII ở thành Roma ngày 27 tháng 5 năm 1900" của nhà in ấn Vatican, Nguyễn Văn Nam dịch
- ^ Dòng Tên trong xã hội Đại Việt, Linh mục Đỗ Quang Chính
- ^ LES MARTYRS TOME XIII La Révolution — L'EXTRÊME ORIENT RELATION DES PROGRÈS ET DE LA FIN DE LA PERSÉCUTION EXERCÉE DANS LE TONG-KING CONTRE LES MISSIONNAIRES ET LES CHRÉTIENS, depuis le mois d'août 1798 jusqu'au mois de juillet 1902.
- ^ Tuyển tập thư chung của các đời Đức Thầy ở nhà in Bùi Chu
- ^ Lịch sử Giáo xứ Dương Sơn
- ^ Lịch sử Giáo xứ Kim Long và Bia tử đạo Kim Long.