Nhà nước Palestine

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhà nước Palestine
دولة فلسطين
Dawlat Filasṭīn
Flag of Palestine.svg Coat of arms of State of Palestine (Official).png
Quốc kỳ Quốc huy
Vị trí của Palestine
Vị trí của Palestine trên thế giới
Vị trí của Palestine
Vị trí của Palestine
Quốc ca
"فدائي"
"Fida'i"
"Hiến thân tự nguyện"

Hành chính
Chính phủ Pháp lý: Cộng hoà nghị viện
Thực tế: Cộng hoà bán tổng thống[1]
Tổng thống Mahmoud Abbas
Thủ tướng Rami Hamdallah
Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Salim Zanoun
Lập pháp Hội đồng Quốc gia Palestine
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Ả Rập
Thủ đô Jerusalem (Đông)
Ramallah (Thành phố hành chính)
Thành phố lớn nhất Thành phố Gaza
Địa lý
Diện tích 6,220 km²
2,400 mi²
Diện tích nước 3,5[2] %
Múi giờ Giờ Đông Âu (UTC+02:00); mùa hè: Giờ mùa hè Đông Âu (UTC+03:00)
Lịch sử
Thành lập
15 tháng 11 năm 1988 Tuyên bố độc lập
29 tháng 11 năm 2012 Quốc gia quan sát viên phi thành viên LHQ
Đang xảy ra Tranh chấp chủ quyền với Israel
Dân cư
Tên dân tộc Người Palestine
Dân số ước lượng (2014) 4.550.368[3] người (hạng 123)
Mật độ 731 người/km²
Kinh tế
GDP (PPP) (2008) Tổng số: 11,95 tỷ USD (hạng -)
Bình quân đầu người: 2.900 USD (hạng -)
HDI (2014) tăng 0,677 trung bình (hạng 113)
Hệ số Gini (2009) 35,5 trung bình (hạng -)
Đơn vị tiền tệ
Thông tin khác
Tên miền Internet .ps
Mã điện thoại +970

Nhà nước Palestine (tiếng Ả Rập: دولة فلسطين Dawlat Filasṭīn), gọi tắt là Palestine, là một quốc gia có chủ quyền về pháp lý[5][6] tại Trung Đông, được đa số thành viên Liên Hiệp Quốc công nhận và kể từ năm 2012 có vị thế nhà nước quan sát viên phi thành viên tại Liên Hiệp Quốc.[7][8] Nhà nước Palestine yêu sách chủ quyền đối với Bờ Tây (giáp IsraelJordan) và Dải Gaza (giáp Israel và Ai Cập)[9] cùng Đông Jerusalem là thủ đô được chỉ định.[10][11] Hầu hết các khu vực mà Nhà nước Palestine yêu sách chủ quyền bị Israel chiếm đóng từ năm 1967 sau Chiến tranh Sáu ngày.[12] Nền độc lập của Nhà nước Palestine được Tổ chức Giải phóng Palestine tuyên bố vào ngày 15 tháng 11 năm 1988 tại Algiers với vị thế là chính phủ lưu vong.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tên gọi Palestine

Từ thời kỳ Anh cai trị, thuật ngữ "Palestine" liên kết với khu vực địa lý mà nay bao gồm Nhà nước Israel, Bờ Tây và Dải Gaza.[13] Sử dụng tổng thể thuật ngữ "Palestine" hoặc thuật ngữ liên quan cho khu vực tại góc đông nam của Địa Trung Hải nằm bên Syria có lịch sử từ thời Hy Lạp cổ đại, Herodotus viết "huyện của Syria, gọi là Palaistine" tại đó người Phoenicia tương tác với các cư dân hàng hải khác trong tác phẩm The Histories.[14][cần dẫn nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Palestine

Năm 1947, Liên Hiệp Quốc thông qua kế hoạch phân chia cho giải pháp hai nhà nước tại lãnh thổ uỷ trị Palestine. Kế hoạch được giới lãnh đạo Do Thái chấp thuận song các thủ lĩnh Ả Rập bác bỏ, còn Anh từ chối thi hành kế hoạch. Ngay trước khi Anh triệt thoái, Cơ quan Do Thái vì Israel tuyên bố thành lập Nhà nước Israel theo kế hoạch Liên Hiệp Quốc đề xuất. Ủy ban Cao cấp Ả Rập không tuyên bố một nhà nước của mình, thay vào đó họ cùng với Ngoại Jordan, Ai Cập và các thành viên khác của Liên đoàn Ả Rập bắt đầu hành động quân sự dẫn tới chiến tranh Ả Rập-Israel 1948. Trong chiến tranh, Israel giành được thêm các lãnh thổ vốn được kế hoạch của Liên Hiệp Quốc xác định là bộ phận của nhà nước Ả Rập. Ai Cập chiếm đóng Dải Gaza và Ngoại Jordan chiếm đóng Bờ Tây. Ai Cập ban đầu ủng hộ thành lập một chính phủ toàn Palestine, song từ bỏ vào năm 1959. Ngoại Jordan chưa từng công nhận chính phủ này, thay vào đó họ quyết định hợp nhất Bờ Tây vào lãnh thổ của mình để hình thành Jordan. Hành động sáp nhập được phê chuẩn vào năm 1950 song bị cộng đồng quốc tế bác bỏ. Trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967, Ai Cập, Jordan, và Syria chiến đấu với Israel, kết quả là Israel chiếm đóng Bờ Tây và Dải Gaza, cùng các lãnh thổ khác.

Năm 1964, khi Bờ Tây còn do Jordan kiểm soát, Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) được thành lập với mục tiêu là đương đầu với Israel. Hiến chương Quốc gia Palestine của Tổ chức Giải phóng Palestine xác định biên giới của Palestine là toàn bộ lãnh thổ còn lại của lãnh thổ uỷ trị, kể cả Israel. Sau chiến tranh Sáu ngày, Tổ chức Giải phóng Palestine chuyển đến Jordan, song rời sang Liban sau sự kiện Tháng 9 Đen năm 1971.

Hội nghị thượng đỉnh Liên đoàn Ả Rập năm 1974 xác định Tổ chức Giải phóng Palestine là đại biểu hợp pháp duy nhất của nhân dân Palestine và tái xác nhận "quyền lợi của họ về thành lập cấp bách một nhà nước độc lập."[15] Trong tháng 11 năm 1974, Tổ chức Giải phóng Palestine được công nhận là đủ thầm quyền trên mọi vấn đề liên quan đến vấn đề Palestine khi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc trao cho họ vị thế quan sát viên với tư cách một "thực thể phi quốc gia" tại Liên Hiệp Quốc.[16][17] Sau Tuyên ngôn Độc lập năm 1988, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chính thức thừa nhận tuyên ngôn và quyết định sử dụng định danh "Palestine" thay vì "Tổ chức Giải phóng Palestine" trong Liên Hiệp Quốc.[18][19] Mặc dù vậy, Tổ chức Giải phóng Palestine không tham gia Liên Hiệp Quốc với vai trò là chính phủ của Nhà nước Palestine.[20]

Năm 1979, thông qua Hiệp định Trại David, Ai Cập chấm dứt yêu sách của mình đối với Dải Gaza. Trong tháng 7 năm 1988, Jordan nhượng lại yêu sách chủ quyền của mình đối với Bờ Tây—với ngoại lệ là trách nhiệm giám hộ Haram al-Sharif—cho Tổ chức Giải phóng Palestine. Trong tháng 11 năm 1988, cơ quan lập pháp của Tổ chức Giải phóng Palestine tuyên bố thành lập "Nhà nước Palestine". Trong tháng sau, Nhà nước Palestine nhanh chóng được nhiều quốc gia công nhận, bao gồm Ai Cập và Jordan. Trong Tuyên ngôn Độc lập Palestine, Nhà nước Palestine được mô tả là được thành lập trên "lãnh thổ Palestine", song không nêu cụ thể hơn. Do đó, một số quốc gia công nhận Nhà nước Palestine trong tuyên bố công nhận của họ đề cập đến "biên giới năm 1967", do đó công nhận đó chỉ là lãnh thổ Palestine bị chiếm đóng chứ không phải là Israel. Nhà nước Palestine khi trình đơn xin làm thành viên Liên Hiệp Quốc cũng ghi rõ rằng họ dựa trên "biên giới năm 1967".[9] Trong các cuộc đàm phán Hiệp định Oslo, Tổ chức Giải phóng Palestine công nhận quyền tồn tại của Israel, và Israel công nhận Tổ chức Giải phóng Palestine là đại biểu của nhân dân Palestine. Từ năm 1993 đến năm 1998, Tổ chức Giải phóng Palestine cam kết thay đổi các điều khoản của Hiến chương Quốc gia Palestine không phù hợp với mục tiêu giải pháp hai nhà nước và cùng tồn tại hoà bình với Israel.

Sau khi Israel giành quyền kiểm soát Bờ Tây từ Jordan và Dải Gaza từ Ai Cập, họ bắt đầu lập các khu định cư Israel tại đó. Các khu này được tổ chức thành quận Judea và Samaria (Bờ Tây) và Hội đồng khu vực Hof Aza (Dải Gaza). Quyền cai quản cư dân Ả Rập trong các lãnh thổ này thuộc Chính quyền Dân sự Israel và các hội đồng tự quản địa phương tồn tại từ trước khi Israel chiếm cứ. Năm 1980, Israel quyết định đóng băng bầu cử cho các hội đồng này và thay vào đó lập ra các liên minh làng có các công chức chịu ảnh hưởng của Israel. Sau đó mô hình này trở nên không hiệu quả đối với cả Israel và người Palestine, và các liên minh làng bắt đầu tan vỡ, liên minh làng cuối cùng mang tên liên minh Hebron giải thể vào năm 1988.[21]

Năm 1993, trong Hiệp định Oslo, Israel thừa nhận đoàn đàm phán của Tổ chức Giải phóng Palestine là "đại biểu của nhân dân Palestine", đổi lại Tổ chức Giải phóng Palestine công nhận quyền tồn tại hoà bình của Israel, chấp thuận các nghị quyết 242 và 338 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, và từ bỏ "bạo lực và khủng bố".[22] Do đó, vào năm 1994 Tổ chức Giải phóng Palestine thành lập Chính quyền Dân tộc Palestine (PNA hoặc PA), thực thi một số chức năng chính phủ tại một số nơi của Bờ Tây và Dải Gaza.[23][24]

Theo hình dung trong Hiệp định Oslo, Israel cho phép Tổ chức Giải phóng Palestine thành lập các thể chế hành chính lâm thời trên các lãnh thổ Palestine, dưới hình thức PNA. Họ được giao quyền kiểm soát dân sự tại khu vực B và quyền kiểm soát dân sự và an ninh tại khu vực A, và duy trì không can thiệp vào khu vực C. Năm 2005, sau khi Israel thi hành rút quân đơn phương, Chính quyền Dân tộc Palestine giành quyền kiểm soát hoàn toàn Dải Gaza với ngoại lệ là biên giới, sân bay và lãnh hải. Năm 2007, Hamas chiếm Dải Gaza khiến người Palestine bị phân chia về chính trị và lãnh thổ, với phái Fatah của Abbas cai quản phần lớn Bờ Tây và được quốc tế công nhận là Chính quyền Palestine chính thức,[25] trong khi Hamas đảm bảo quyền kiểm soát đối với Dải Gaza. Trong tháng 4 năm 2011, các đảng phái Palestine ký kết một thoả thuận hoà giải, song việc thực hiện bị đình trệ[25]

Ngày 29 tháng 11 năm 2012, với đa số phiếu tán thành,[26] Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết 67/19, nâng cấp Palestine từ một "thực thể quan sát viên" thành một "nhà nước quan sát viên phi thành viên" trong hệ thống Liên Hiệp Quốc, được mô tả là hành động công nhận chủ quyền của Tổ chức Giải phóng Palestine.[27][28][29]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Địa lý Palestine

Dải Gaza có địa hình bằng phẳng hay gợn sóng, với các đụn cát gần bờ biển. Điểm cao nhất là Abu 'Awdah (Joz Abu 'Auda), với độ cao 105 mét trên mực nước biển. Địa hình Bờ Tây chủ yếu là vùng cao gồ ghề bị chia tách, có một số thực vật tại phía tây, song phía đông hơi khô cằn. Độ cao biến đổi từ bờ bắc của biển Chết là 429 m dưới mực nước biển,[30] đến điểm cao nhất trên núi Nabi Yunis đạt 1.030 m trên mực nước biển.[31] Khu vực Bờ Tây không giáp biển, là khu vực tiếp nước cho nước ngầm duyên hải của Israel.

Đồng bằng duyên hải Gaza gồm các đụn cát và trầm tích pha cát màu mỡ. Ngoại trừ một cát kết đá vôi xốp gọi là kurkar trong tiếng Ả Rập, không có đá nào khác trong khu vực. Trong khi đó, các núi thấp chiếm ưu thế tại Bờ Tây: núi Gerizim (881m), Nabi Samwil (890m), và núi Scopus (826m). Các đá chủ yếu bao gồm trầm tích biển (đá vôi và dolomit). Tính xốp của đá cho phép nước ngấm xuống địa tầng không xốp, rồi cung cấp nước cho nhiều tầng ngậm nước trong khu vực.[32]

Thung lũng Jordan là một đứt đoạn của hệ thống đứt đoạn Biển Chết, một phần kéo dài của Thung lũng tách giãn Lớn phân tách mảng châu Phi khỏi mảng Ả Rập. Toàn bộ đứt đoạn được cho là từng gãy nhiều lần, chẳng hạn như trong động đất năm 749 và năm 1033. Hụt trượt do sự kiện năm 1033 đủ để gây ra một trận động đất khoảng 7,4 Mw.[33]

Sông Jordan là sông lớn nhất tại Palestine, tạo thành biên giới phía đông của Bờ Tây cho đến khi đổ vào biển Chết. Báo cáo cho hay có tới 96% nước sạch sông Jordan bị điều hướng bởi Israel, JordanSyria, mặt khác lượng lớn nước thải chưa xử lý được cho chảy ra sông. Một báo vào năm 2013 cho thấy rằng Israel thường từ chối để cư dân Palestine tại thung lũng Jordan tiếp cận sông.[34] Biển Chết là thực thể nước lớn nhất tại Palestine, còn thung lũng Marj Sanur tạo thành một hồ theo mùa.[35] Một số dòng chảy không thường xuyên, tiếng Ả Rập gọi là wadi, chảy vào sông Jordan hoặc biển Chết qua Bờ Tây, một số wadi chảy qua Israel vào Địa Trung Hải.

Khí hậu tại Bờ Tây chủ yếu là khí hậu Địa Trung Hải, mát hơn một chút tại các khu vực cao phía tây so với bờ biển. Tại phía đông, Bờ Tây bao gồm phần lớn sa mạc Judea trong đó có bờ biển phía tây của biến Chết, có đặc trưng là khô nóng. Gaza có khí hậu bán khô hạn nóng với mùa đông ôn hoà và mùa hè khô nóng.[36] Mùa xuân đến vào khoảng tháng 3-4, và tháng nóng nhất là tháng 6-7, với nhiệt độ trung bình là 33 °C. Tháng lạnh nhất là tháng 1 với nhiệt độ thường là 7 °C. Mưa hiếm và thường xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 3, với lượng mưa hàng năm là 116 mm.[37]

Tài nguyên tự nhiên của Palestine gồm có bùn lấy từ biển Chết,[38] có chứa magie, cali cacbonat hay brom. Tuy nhiên, tài nguyên này là độc quyền của các khu định cư Israel; một báo cáo vào năm 2015 cho rằng giá trị gia tăng của việc tiếp cận các nguồn tài nguyên tự nhiên này có thể mang lại cho nền kinh tế 918 triệu USD mỗi năm.[39] Palestine cũng có nhiều mỏ khí đốt với trữ lượng cao trong khu vực lãnh hải của Dải Gaza; tuy nhiên chúng chưa được khai thác do Israel hạn chế khu vực lãnh hải của Gaza từ 3 đến 6 hải lý trong hành động phong toả Gaza.[40]

Dải Gaza phải đối diện với hoang mạc hoá, mặn hoá nước ngọt, xử lý nước thải, dịch bệnh truyền qua nước, suy thoái đất, và cạn kiệt cùng ô nhiễm tài nguyên nước ngầm. Bờ Tây cũng có nhiều vấn đề tương tự, dù nước sạch sung túc hơn nhiều song việc tiếp cận bị hạn chế do Israel tiếp tục chiếm đóng.[34]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chính trị Palestine

Chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà nước Palestine gồm các thể chế sau có liên hệ với Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO):

  • Tổng thống Nhà nước Palestine – do Hội đồng Trung ương Palestine bổ nhiệm[41]
  • Hội đồng Dân tộc Palestine – cơ quan lập pháp thành lập Nhà nước Palestine[1]
  • Hội đồng Hành pháp Tổ chức Giải phóng Palestine – có chức năng của một chính phủ lưu vong,[28][42] duy trì một mạng lưới quan hệ đối ngoại rộng lớn.

Các thể chế này khác biệt với Chủ tịch Chính quyền Dân tộc Palestine, Hội đồng Lập pháp Palestine (PLC) và nội các, là những thể chế liên kết với Chính quyền Dân tộc Palestine.

Văn kiện thành lập Nhà nước Palestine là Tuyên ngôn Độc lập Palestine,[1] và nó cần được phân biệt với Hiến chương Dân tộc Palestine của PlO và Luật Cơ bản Palestine của PNA.

Bản đổ thể hiện các khu vực đang nằm dưới quyền cai quản của chính quyền Palestine với màu đỏ (khu vực A và B).

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà nước Palestine được chia thành 16 đơn vị hành chính.

Tên Diện tích(km2)[43] Dân số Mật độ (trên km2) muhfaza hoặc thủ phủ
Jenin 583 311.231 533,84 Jenin
Tubas 402 64.719 160,99 Tubas
Tulkarm 246 182.053 740,05 Tulkarm
Nablus 605 380.961 629,68 Nablus
Qalqiliya 166 110.800 667,46 Qalqilya
Salfit 204 70.727 346,7 Salfit
Ramallah & Al-Bireh 855 348.110 407,14 Ramallah
Jericho & Al Aghwar 593 52.154 87,94 Jericho
Jerusalem 345 419.108a 1214,8a Jerusalem (trên pháp lý và tranh chấp)
Bethlehem 659 216.114 927,94 Bethlehem
Hebron 997 706.508 708,63 Hebron
North Gaza 61 362.772 5947,08 JabalyaBản mẫu:Cit
Gaza 74 625.824 8457,08 Thành phố Gaza
Deir Al-Balah 58 264.455 4559,56 Deir al-Balah
Khan Yunis 108 341.393 3161,04 Khan Yunis
Rafah 64 225.538 3524,03 Rafah

a. Dữ liệu từ Jerusalem bao gồm Đông Jerusalem bị chiếm đóng cùng cư dân Israel tại đó

Các tỉnh tại Bờ Tây được gộp thành ba khu vực theo Hiệp định Oslo. Khu vực A chiếm 18% diện tích Bờ Tây và do chính phủ Palestine quản lý.[44][45] Khu vực B chiếm 22% diện tích Bờ Tây và nằm dưới quyền kiểm soát dân sự của Palestine và Israel-Palestine cùng kiểm soát an ninh.[44][45] Khu vực C, ngoại trừ Đông Jerusalem, chiếm 60% diện tích Bờ Tây và do Chính quyền Dân sự Israel cai quản, song chính phủ Palestine được cung cấp dịch vụ giáo dục và y tế cho 150.000 người Palestine trong khu vực.[44]

Đông Jerusalem được tuyên bố là thủ đô của Palestine, song được quản lý như một phần của quận Jerusalem thuộc Israel, song Palestine yêu sách là bộ phận của tỉnh Jerusalem. Khu vực này bị Israel sáp nhập vào năm 1980,[44] song hành động này không được quốc gia nào công nhận.[46] Trong số 456.000 cư dân tại Đông Jerusalem, khoảng 60% là người Palestine và 40% là người Israel.[44][47]

Quan hệ đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Công nhận quốc tế của Nhà nước Palestine

Tổ chức Giải phóng Palestine đại diện cho Nhà nước Palestine trong đối ngoại, họ duy trì đại sứ quán tại các quốc gia công nhận Nhà nước Palestine. Tổ chức Giải phóng Palestine được quyền đại diện trong nhiều tổ chức quốc tế với vị thế là thành viên, liên kết hoặc quan sát viên. Do tính không xác định của nguồn, trong một số trường hợp không thể phân biệt đâu là đại biểu PLO nhân danh Nhà nước Palestine, và đâu là nhân danh thực thể phi quốc gia hoặc chính quyền.

Ngày 15 tháng 12 năm 1988, tuyên ngôn độc lập của Nhà nước Palestine từ tháng 11 năm 1988 được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thừa nhận.[48] Bản mẫu:Numrec (Bản mẫu:Numrec) trongsos Bản mẫu:UNnum thành viên Liên Hiệp Quốc đã công nhận Nhà nước Palestine, Nhiều quốc gia không công nhận Nhà nước Palestine song công nhận Tổ chức Giải phóng Palestine là "đại biểu của nhân dân Palestine". Ủy ban hành pháp của PLO được trao quyền thi hành các chức năng chính phủ của Nhà nước Palestine.[42]

Ngày 29 tháng 11 năm 2012,[26] Nghị quyết số 67/19 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc được thông qua, nâng cấp Palestine lên vị thế "nhà nước quan sát viên phi thành viên" tại Liên Hiệp Quốc.[28][29] Việc thay đổi vị thế này được mô tả là công nhận thực tế chủ quyền quốc gia của Palestine".[7]

Nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nhân khẩu Palestine

Theo cục Thống kế Trung ương Palestine, Palestine có khoảng 4.420.549 người vào năm 2013. Với diện tích 6.220 km2 (2.400 sq mi), có một mật độ dân số 731 người/km2. Với mật độ dân số trung bình của thế giới là 53 người/km2 dựa trên dữ liệu từ ngày 05 tháng 7 năm 2014 thì đây là khu vực có mật độ dân số cao.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tôn giáo ở Palestine

93% người Palestine theo đạo Hồi, đại đa số là những người tín đồ Hồi giáo Sunni, với một thiểu số là Ahmadiyya, và 15% là người Hồi giáo không giáo phái. Người Palestine theo Kitô hữu chiếm 6%, theo sau là nhỏ hơn nhiều tôn giáo cộng đồng, bao gồm Druze và Samaritan. Người Do Thái Palestine, người được quy định bởi Hiến chương Quốc gia Palestine và PLO như những "người Do Thái đã thường trú ở Palestine cho đến trước khi Do Thái xâm lược", hầu như quên nguồn gốc đó và đưa mình trở thành người Do Thái của Israel.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Declaration of Independence (1988) (UN Doc)”. State of Palestine Permanent Observer Mission to the United Nations. United Nations. 18 tháng 11 năm 1988. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ “The World Factbook: Middle East: West Bank”. cia.gov. Central Intelligence Agency. 7 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  3. ^ “Estimated Population in the Palestinian Territory Mid-Year by Governorate,1997-2016”. Palestinian Central Bureau of Statistics. State of Palestine. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  4. ^ According to Article 4 of the 1994 Paris Protocol. The Protocol allows the Palestinian Authority to adopt multiple currencies. In the West Bank, the Israeli new sheqel and Jordanian dinar are widely accepted; while in the Gaza Strip, the Israeli new sheqel and Egyptian pound are widely accepted.
  5. ^ Al Zoughbi, Basheer (tháng 11 năm 2011). “The de jure State of Palestine under Belligerent Occupation: Application for Admission to the United Nations” (PDF). Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016. 
  6. ^ Falk, Palma (30 tháng 11 năm 2012). “Is Palestine now a state?”. CBS News. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016. 
  7. ^ a ă “Israel defies UN after vote on Palestine with plans for 3,000 new homes in the West Bank”. The Independent. 1 tháng 12 năm 2012. 
  8. ^ Charbonneau, Louis (29 tháng 11 năm 2012). “Palestinians win implicit U.N. recognition of sovereign state”. Reuters. Thomson Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  9. ^ a ă “Ban sends Palestinian application for UN membership to Security Council”. United Nations News Centre. 23 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  10. ^ Bissio, Robert Remo biên tập (1995). The World: A Third World Guide 1995–96. Montevideo: Instituto del Tercer Mundo. tr. 443. ISBN 978-0-85598-291-1. 
  11. ^ Lapidoth, Ruth (2011). “Jerusalem: Some Legal Issues” (PDF). The Jerusalem Institute for Israel Studies. tr. 26. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 5 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2014.  Reprinted from: Wolfrum, Rüdiger (ed.) (online 2008, print 2011). The Max Planck Encyclopedia of Public International Law. Oxford University Press.
  12. ^ “State of Palestine name change shows limitations”. AP. 17 tháng 1 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2013. Israel remains in charge of territories the world says should one day make up that state. 
  13. ^ Rubin, 1999, The World Encyclopedia of Contemporary Theatre: The Arab world, tr. 186, tại Google Books
  14. ^ Herodotus, Volume 4. P.21. 1806. Rev. William Beloe translation.
  15. ^ al Madfai; Madiha Rashid (1993). Jordan, the United States and the Middle East Peace Process, 1974–1991. Cambridge Middle East Library 28. Cambridge University Press. tr. 21. ISBN 978-0-521-41523-1. 
  16. ^ Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc Phiên họp 29 Nghị quyết 3237 (XXIX). cuộc họp 2296th plenary meeting. Observer status for the Palestine Liberation Organization A/RES/3237(XXIX) Ngày 22 November 1974. Được truy cập ngày 10 June 2014.
  17. ^ Geldenhuys, Deon (1990). Isolated States: A Comparative Analysis. Cambridge Studies in International Relations 15. Cambridge University Press. tr. 155. ISBN 978-0-521-40268-2. 
  18. ^ Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc Phiên họp 43 Nghị quyết 43/117. cuộc họp 75th plenary meeting. Office of the United Nations High Commissioner for Refugees A/RES/43/117 Ngày 8 December 1988. Được truy cập ngày 10 June 2014.
  19. ^ Hillier, Tim (1998). Sourcebook on Public International Law . Cavendish Publishing. tr. 205. ISBN 978-1-84314-380-2. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  20. ^ Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc Phiên họp 55 Nhật ký mục 36. cuộc họp 54th plenary meeting. Bethlehem 2000 Draft resolution (A/55/L.3) A/55/PV.54 trang 10. Al-Kidwa, Nasser Palestine (bằng Arabic). Ngày 7 November 2000 lúc 3 p.m. Được truy cập ngày 10 June 2014. "Moreover, we are confident that in the near future we will truly be able to join the international community, represented in the Organization as Palestine, the State that encompasses Bethlehem."
  21. ^ “40 Years Of Israeli Occupation”. arij.org. 
  22. ^ Murphy, Kim (10 tháng 9 năm 1993). “Israel and PLO, in Historic Bid for Peace, Agree to Mutual Recognition: Mideast: After decades of conflict, accord underscores both sides' readiness to coexist. Arafat reaffirms the renunciation of violence in strong terms.”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  23. ^ Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc Phiên họp 52 Nghị quyết 52/250. Participation of Palestine in the work of the United Nations A/RES/52/250 Ngày 13 July 1998.
  24. ^ “Written Statement Submitted by Palestine” (PDF). International Court of Justice (ICJ). 30 tháng 1 năm 2004. tr. 44–49. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 5 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014 , in “Legal Consequences of the Construction of a Wall in the Occupied Palestinian Territory (Index)” (PDF). International Court of Justice. 10 tháng 12 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014 , referred to the ICJ by Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc Nghị quyết ES-10/14. Agenda item 5. cuộc họp Tenth emergency special session; 23rd plenary meeting. Illegal Israeli actions in Occupied East Jerusalem and the rest of the Occupied Palestinian Territory A/RES/ES/10/14 Ngày 12 December 2003. Được truy cập ngày 10 June 2014.
  25. ^ a ă “Hamas leader’s Tunisia visit angers Palestinian officials”. Al Arabiya News. Agence France-Presse (AFP). 7 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  26. ^ a ă “United Nations Sixty-seventh General Assembly: General Assembly Plenary, 44th & 45th Meetings (PM & Night). GA/11317: General Assembly Votes Overwhelmingly to Accord Palestine 'Non-Member Observer State' Status in United Nations”. un.org. United Nations. 29 tháng 11 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  27. ^ “General Assembly grants Palestine non-member observer State status at UN”. United Nations News Centre. 29 tháng 11 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  28. ^ a ă â Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc Phiên họp 67 Nhật ký mục 37. Question of Palestine A/67/L.28 Ngày 26 November 2012. Được truy cập ngày 11 June 2014. and Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc Phiên họp 67 Nghị quyết 67/19. Status of Palestine in the United Nations A/RES/67/19 Ngày 29 November 2012. Được truy cập ngày 11 June 2014.
  29. ^ a ă “Palestine: What is in a name (change)?”. Aljazeera Inside Story. Aljazeera. 8 tháng 1 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  30. ^ Griffiths, Sarah (5 tháng 1 năm 2015). “Slow death of the Dead Sea: Levels of salt water are dropping by one metre every year”. Daily Mail. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015. 
  31. ^ A house demolished, three others threatened in the town of Halhul - 24,March,2007, POICA. Retrieved 14 October 2012.
  32. ^ Palestine & Palestinians. Beit Sahour, Palestine: Alternative Tourism Group. 2008. tr. 18. ISBN 9950-319-01-3. 
  33. ^ Ferry M.; Meghraoui M.; Karaki A.A.; Al-Taj M.; Amoush H.; Al-Dhaisat S.; Barjous M. (2008). “A 48-kyr-long slip rate history for the Jordan Valley segment of the Dead Sea Fault”. Earth and Planetary Science Letters 260 (3—4): 394–406. Bibcode:2007E&PSL.260..394F. doi:10.1016/j.epsl.2007.05.049. 
  34. ^ a ă http://www.alhaq.org/publications/Water-For-One-People-Only.pdf
  35. ^ Zertal, Adam (2004). The Manasseh Hill Country Survey: The Shechem Syncline. BRILL. tr. 36. 
  36. ^ “Gaza”. Global Security. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2009. 
  37. ^ “Monthly Averages for Gaza, Gaza Strip”. MSN Weather. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2009. 
  38. ^ “Israel's Unlawful Exploitation of Natural Resources in the Occupied Palestinian Territory”. Al Haq. 3 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2016. By granting substantial financial benefits to the settlers, as well as by licensing Ahava Dead Sea Laboratories Ltd., 44.5 per cent of whose shares are owned by the settlements of 'Mitzpe Shalem' and 'Kalia,' to mine and manufacture products that utilise the mud extracted from the occupied Dead Sea area, Israel is openly in violation of its obligations as an Occupying Power in the OPT. It is encouraging and facilitating the exploitation of Palestinian natural resources and actively assisting their pillaging by private actors. 
  39. ^ “Area C and the Future of the Palestinian Economy” (PDF). World Bank. 3 3 October 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2016. The Dead Sea abounds in valuable minerals, principally large deposits of potash and bromine. Israel and Jordan together derive some USD 4.2 billion in annual sales of these products, and account for 6 percent of the world's supply of potash and fully 73 percent of global bromine output. Demand for both these products is projected to remain strong, with the Dead Sea a cheap and easily exploited source. There is no reason to suppose that Palestinian investors along with prospective international partners would not be able to reap the benefits of this market, provided they were able to access the resource. Taking as a benchmark the average value added by these industries to the Jordanian and the Israeli economies, the Palestinian economy could derive up to USD 918 million per annum –equal to 9 percent of 2011 GDP, almost equivalent to the size of the entire Palestinian manufacturing sector  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  40. ^ Charlotte Silver (22 tháng 12 năm 2015). “Israel's sea blockade of Gaza motivated by gas finds”. Electronic Intifada. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2016. In 2000, around the same time that the Gaza gas fields were found, Israel discovered Mari-B, a gas field located at the maritime border with Gaza. Since then, Israel has accelerated the militarization of Gaza's waters, ostensibly to protect its own valuable resources – while sabotaging any possibility that Palestinians can access theirs. Israel's violent restriction of Gaza's maritime zone to 3 to 6 nautical miles beyond the coast began in 2000, the report states, though it was not officially established until January 2009.. 
  41. ^ "PLO Body Elects Abbas 'President of Palestine'" 24 November 2008. Agence France-Presse (via Khaleej Times). Retrieved 28 September 2011. "'I announce that the PLO Central Council has elected Mahmud Abbas president of the State of Palestine. He takes on this role from this day, November 23, 2008,' the body's chairman Salem al-Zaanun told reporters."
  42. ^ a ă Sayigh, Yezid (1999). Armed Struggle and the Search for State: The Palestinian National Movement, 1949–1993 . Oxford University Press. tr. 624. ISBN 9780198296430.  "The Palestinian National Council also empowered the central council to form a government-in-exile when appropriate, and the executive committee to perform the functions of government until such time as a government-in-exile was established."
  43. ^ “Palestine”. GeoHive. Johan van der Heyden. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2015. 
  44. ^ a ă â b c Zahriyeh, Ehab (4 tháng 7 năm 2014). “Maps: The occupation of the West Bank”. Al Jazeera America (Al Jazeera Media Network). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2014. 
  45. ^ a ă Gvirtzman, Haim. “Maps of Israeli Interests in Judea and Samaria”. Bar-Ilan University. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2014. 
  46. ^ Kelly, Tobias (tháng 5 năm 2009). Von Benda-Beckmann, Franz; Von Benda-Beckmann, Keebet; Eckert, Julia M., biên tập. Laws of Suspicion:Legal Status, Space and the Impossibility of Separation in the Israeli-occupied West Bank. Rules of Law and Laws of Ruling: On the Governance of Law (Ashgate Publishing). tr. 91. ISBN 9780754672395. 
  47. ^ Jerusalem, Facts and Trends 2009/2010 (PDF) (Bản báo cáo). Jerusalem Institute for Israel Studies. 2010. tr. 11. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 2 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2014. 
  48. ^ UNGA, 15 December 1988; Resolution 43/177. Question of Palestine (doc.nr. A/RES/43/177)

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]