Nhà nước Palestine

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhà nước Palestine
دولة فلسطين
Dawlat Filasṭīn
Flag of Palestine.svg Coat of arms of State of Palestine (Official).png
Quốc kỳ Quốc huy
Vị trí của Palestine
Lãnh thổ Nhà nước Palestine (lục)
Israel tuyên bố đồng chủ quyền (lục nhạt)
Quốc ca
"فدائي"
"Fida'i"
"Hiến thân tự nguyện"

Hành chính
Chính phủ Hiến định Cộng hòa Nghị viện thực tế Cộng hòa bán Tổng thống
Tổng thống Mahmoud Abbas
Thủ tướng Rami Hamdallah
Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Salim Zanoun
Lập pháp Hội đồng Quốc gia Palestine
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Ả Rập
Thủ đô Jerusalem (Đông)
Ramallah (Thành phố hành chính)
Thành phố lớn nhất Thành phố Gaza
Địa lý
Diện tích 6,220 km²
2,400 mi²
Diện tích nước 3,5[1] %
Múi giờ Giờ Đông Âu (UTC+02:00); mùa hè: Giờ mùa hè Đông Âu (UTC+03:00)
Lịch sử
Thành lập
15 tháng 11, 1988 Tuyên bố độc lập
29 tháng 11, 2012 Quốc gia quan sát viên phi thành viên LHQ
Đang xảy ra Tranh chấp chủ quyền với Israel
Dân cư
Tên dân tộc Người Palestine
Dân số ước lượng (2014) 4,550,368[2] người (hạng 123)
Mật độ 731 người/km²
1,895 người/mi²
Kinh tế
GDP (PPP) (2008) Tổng số: 11.95 tỷ USD (hạng -)
Bình quân đầu người: 2,900 USD (hạng -)
HDI (2014) tăng 0.677 trung bình (hạng 113)
Hệ số Gini (2009) 35.5 (trung bình) (hạng -)
Đơn vị tiền tệ
Thông tin khác
Tên miền Internet .ps
Mã điện thoại +970

Nhà nước Palestine (tiếng Ả Rập: دولة فلسطين Dawlat Filasṭin) còn được gọi Palestine, là quốc gia có chủ quyền ở Trung Đông được 136 quốc gia Liên hiệp quốc công nhận và từ năm 2012 là quốc gia phi thành viên của Liên hiệp quốc. Palestine tuyên bố chủ quyền ở bờ tây, dải Gaza với Đông Jerusalem là thủ đô. Hầu hết lãnh thổ Palestine đều bị Israel chiếm đóng sau cuộc chiến 6 ngày năm 1967. Ngày 15/11/1988, Tổ chức Giải phóng Palestine tuyên bố thành lập Nhà nước Palestine tại Algiers.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi được bắt đầu khi Anh thành lập Ủy trị Palestine. Kể từ đó "Palestine" gắn liền với khu vực địa lý của Nhà nước Israel, Bờ Tây và Dải Gaza.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kế hoạch phân chia Palestine của Liên Hiệp Quốc

Năm 1947, Liên Hiệp Quốc đã thông qua kế hoạch phân chia Palestine thành 2 nhà nước. Kế hoạch được các lãnh đạo Do Thái chấp thuận, nhưng bị các nhà lãnh đạo Ả Rập, Anh từ chối chấp thuận. Kế hoạch đề xuất trao 56,47% lãnh thổ Palestine thành lập nhà nước Do Thái và 43,53% để thành lập nhà nước Ả rập, còn Jerusalem nằm dưới sự quản lý của Liên Hiệp Quốc. Ngày 29/11/1947, 33 quốc gia thành viên Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu thông qua kế hoạch trên. Trong khi đó, 13 nước bỏ phiếu chống và 10 nước bỏ phiếu trắng.

Danh sách quốc gia thông qua (33 quốc gia, 72% phiếu)
 Bolivia
 Brazil
 Costa Rica
 Cộng hòa Dominican
 Ecuador
 Guatemala
 Haiti
 Nicaragua
 Panama
 Paraguay
 Peru
 Uruguay
 Venezuela
 Bỉ
 Đan Mạch
 Pháp
 Iceland
 Luxembourg
 Hà Lan
 Na Uy
 Thụy Điển
 Byelorussia Xô Viết
 Tiệp Khắc
 Ukraina Xô Viết
 Ba Lan
 Liên Xô
 Liberia
 Nam Phi
 Australia
 New Zealand
 Philippines
 Canada
 Hoa Kỳ
Danh sách quốc gia phản đối (13 quốc gia, 28% phiếu)
  • Châu Á - Thái Bình Dương (9 quốc gia):
 Afghanistan
 Ấn Độ
 Iran
 Iraq
 Lebanon
 Pakistan
 Ả Rập Xê Út
 Syria
 Yemen
  • Tây Âu và quốc gia khác (2 quốc gia):
 Hy Lạp
 Thổ Nhĩ Kỳ
  • Châu Phi (1 quốc gia):
 Ai Cập
  • Châu Mỹ Latin và Caribbean (1 quốc gia):
 Cuba
Danh sách quốc gia bỏ phiếu trắng (10 quốc gia)
  • Châu Mỹ Latin và Caribbean (6 quốc gia):
 Argentina
 Chile
 Colombia
 El Salvador
 Honduras
 Mexico
  • Châu Á - Thái Bình Dương (1 quốc gia):
 Trung Hoa Dân Quốc
  • Châu Phi (1 quốc gia):
 Ethiopia
  • Tây Âu và quốc gia khác (1 quốc gia):
 Liên Hiệp Anh
  • Đông Âu (1 quốc gia):
 Nam Tư
Danh sách quốc gia vắng mặt (1 quốc gia)
  • Châu Á - Thái Bình Dương (1 quốc gia):
 Thái Lan

Ngày 15/5/1948, Liên Hiệp Anh rút khỏi Palestine, Nhà nước Do Thái tuyên bố được thành lập. Ngay sau khi Nhà nước Israel được thành lập, Ủy ban Tối cao Ả Rập không tuyên bố nhà nước của riêng mình thay vào đó cùng Đế chế Transjordan, Ai Cập và các thành viên khác thuộc Liên đoàn Ả Rập tiến công nhằm xóa bỏ Israel tạo nên cuộc chiến 1948.

Trong chiến tranh, Israel bảo vệ được lãnh thổ mà Liên Hiệp Quốc trao cho, Ai Cập chiếm đóng dải Gaza, Transjordan chiếm đóng Bờ Tây. Ai Cập ban đầu hỗ trợ thành lập Chính quyền Toàn Palestine sau đó giải tán năm 1959. Transjordan sát nhập Bờ Tây vào và thành lập Jordan. Việc sát nhập được tuyên bố 1950 nhưng bị quốc tế phản đối.

Năm 1967, Cuộc chiến 6 ngày bùng nổ với kết quả Israel chiếm đóng Gaza và vùng Sinai kéo dài từ miền Nam Ai Cập đến miền Bắc cao nguyên Golan của Syria. Ngoài ra, Israel còn đẩy lùi được lực lượng vũ trang Jordan ra khỏi Bờ Tây và Đông Jerusalem. Jerusalem từ đó thuộc về Israel.

Năm 1964, Bờ Tây thuộc quyền kiểm soát của Jordan, Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) được thành lập với mục đích đầu tranh chống lại Israel. Hiến chương Quốc gia Palestine của PLO tuyên bố việc giải phóng Palestine bao gồm lãnh thổ Israel là nhiệm vụ tiên quyết. Sau cuộc chiến 6 ngày, PLO chuyển tới Jordan, sau đó là Lebanon sau tháng 9 đen năm 1971.

Tháng 10/1974, Liên đoàn Ả Rập họp thượng đỉnh tuyên bố PLO là "đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân Palestine" và tái khẳng định "tái lập quốc gia độc lập là nhiệm vụ cấp bách". Tháng 11/1974, PLO được Hội đồng Liên Hiệp Quốc trao cho tư cách quan sát viên "thực thể phi nhà nước" tại Liên Hiệp Quốc. Sau Tuyên bố Độc lập năm 1988, Liên Hiệp Quốc chính thức công nhận, công bố và quyết định sử dụng "Palestine" thay cho PLO tại Liên Hiệp Quốc.

Năm 1979, Ai Cập và Israel thông qua "Hiệp định Trại David", theo đó Ai Cập từ bỏ sự đòi hỏi về Dải Gaza. Tháng 7/1988, Jordan nhượng quyền tuyên bố chủ quyền của Bờ Tây cho PLO. Tháng 11/1988, Hội đồng Quốc gia Palestine tuyên bố thành lập Nhà nước Palestine. Ngay sau đó được nhiều quốc gia công nhận. Trong Tuyên ngôn độc lập Palestine, Nhà nước Palestine được thành lập trên "lãnh thổ của người Palestine", mà không nói rõ ràng khu vực nào. Một số quốc gia công nhận Nhà nước Palestine tuyên bố công nhận biên giới năm 1967. Việc áp dụng thành viên Liên Hiệp Quốc cho Nhà nước Palestine cũng sử dụng biên giới năm 1967 làm cơ sở lãnh thổ. Trong cuộc đám phán tại Oslo, PLO tuyên bố công nhận sự tồn tại của Nhà nước Israel, đồng thời Israel tuyên bố PLO là dại diện cho người Palestine. Trong năm 1993 và 1998, PLO đã hứa sẽ thay đổi Hiến chương Quốc gia Palestine để phù hợp với mục đích 2 nhà nước và chung sống hòa bình với Israel.

Sau khi chiếm được Dải Gaza và Bờ Tây, Israel thiết lập khu định cư Do Thái tại đây. Israel thành lập khu vực Judea và Samaria (Bờ Tây) và Hội đồng địa phương Hof Aza (Dải Gaza) thuộc Quận Nam. Để quản lý người Ả Rập tại khu vực chiếm đóng được thực hiện bởi chính quyền dân sự Israel do Điều phối hoạt động của Chính phủ tại vùng lãnh thổ và Hội đồng địa phương được thành lập tiếp quản. Năm 1980, Israel đã quyết định dừng các cuộc bầu cử cho các hội đồng này và thiết lập Liên đoàn Làng xã, mà các quan chức do Israel chi phối. Sau đó mô hình này trở nên không hiệu quả cho cả Israel và Palestine, và Liên đoàn Làng xã giải thể, và thay bằng Liên đoàn Hebron, sau đó giải thể vào tháng 2/1988.

Khu vực được phân chia theo Hiệp ước Oslo

Năm 1993, Hiệp định Oslo được Israel và Palestine ký, theo đó Israel công nhận Nhà nước Palestine là đại diện hợp pháp duy nhất cho người dân Palestine, và Palestine công nhận sự tồn tại Israel trong hòa bình, chấp thuận Nghị quyết 242338 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, và bác bỏ khủng bố, bạo lực. Vào năm 1994, PLO thành lập Chính quyền Quốc gia Palestine (PNA hoặc PA) quản lý lãnh thổ, thực hiện một số chức năng của chính quyền trong các khu vực Bờ Tây và Dải Gaza. Năm 2007, Hamas tiếp quản Dải Gaza, và tại Bờ Tây sẽ do chính quyền Palestine đảm nhiệm. Vào tháng 4/2011, các bên Palestine tham gia hội nghị hòa giải, nhưng bị đình trệ cho tới chính phủ đoàn kết được thành lập 2/6/2014.

Israel thảo thuận cho phép Palestine được thành lập chính quyền lâm thời tại vùng lãnh thổ Palestine cho đến khi PNA được thành lập. Tại các khu vực được chia làm 3 khu:

  • Khu A (toàn bộ an ninh, dân sự được Nhà nước Palestine kiểm soát): Chiếm 18% Bờ Tây;
  • Khu B (dân sự do Palestine quản lý và an ninh do Palestine và Israel quản lý): Chiếm 22% Bờ Tây;
  • Khu C (toàn bộ an ninh, dân sự được Nhà nước Israel kiểm soát): chiếm 60% Bờ Tây.

Sau cuộc xung đột FatahHamas năm 2006, Hamas quản lý Dải Gaza và Fatah quản lý Bờ Tây.

Vào ngày 29/11/2012, trong cuộc bỏ phiếu với 139-4 (41 phiếu trắng và 5 vắng mặt) tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua Nghị quyết 67/19, nâng cấp thực thể Palestine từ "quốc gia quan sát viên" lên thành "quốc gia quan sát viên phi thành viên" tại Liên Hiệp Quốc, như là công nhận chủ quyền của Nhà nước Palestine. Trạng thái mới tương đương với Tòa thánh Vatican. Tính đến 17/12/2015, 136 quốc gia (70,5%) trên 193 thành viên Liên Hiệp Quốc công nhận Nhà nước Palestine.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà nước Palestine bao gồm:

Nên phân biệt sự khác nhau giữa Tổng thống Nhà nước PalestineChủ tịch Chính quyền Quốc gia Palestine, Hội đồng Lập pháp PalestineChính quyền Quốc gia Palestine, tất cả đều là cơ quan do Chính quyền Quốc gia Palestine quản lý.

Tài liệu sáng lập Nhà nước Palestine là Tuyên ngôn độc lập Palestine năm 1988, và nó cần phân biệt với Hiệp ước Quốc gia Palestine PLO và Luật cơ bản Palestine PNA.

Bản đồ quyền kiểm soát của Palestine màu đỏ (Khu A và B).
Bản đồ Hành chính Palestine.

Đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà nước Palestine gồm 16 khu vực hành chính cấp tỉnh (محافظة, Muḥāfaẓat).

Tên Diện tích[4] Dân số Mật độ muhfaza hoặc thủ phủ
Jenin 583 311,231 533.84 Jenin
Tubas 402 64,719 160.99 Tubas
Tulkarm 246 182,053 740.05 Tulkarm
Nablus 605 380,961 629.68 Nablus
Qalqiliya 166 110,800 667.46 Qalqilya
Salfit 204 70,727 346.7 Salfit
Ramallah & Al-Bireh 855 348,110 407.14 Ramallah
Jericho & Al Aghwar 593 52,154 87.94 Jericho
Jerusalem 345 419,10 1214.8 Jerusalem (De Jure và tranh cãi)
Bethlehem 659 216,114 927.94 Bethlehem
Hebron 997 706,508 708.63 Hebron
Bắc Gaza 61 362,772 5947.08 Jabalya
Gaza 74 625,824 8457.08 Thành phố Gaza
Deir Al-Balah 58 264,455 4559.56 Deir al-Balah
Khan Yunis 108 341,393 3161.04 Khan Yunis
Rafah 64 225,538 3524.03 Rafah

Tại Bờ Tây gồm 3 khu vực theo Hiệp ước Oslo. Khu C là khu bao gồm người Israel khoảng 330.000 người, khu vực được thiết quân luật để bảo vệ người dân Do Thái.

Đông Jerusalem vốn được Palestine tuyên bố được phía Israel quản lý thành Quận Jerusalem, nhưng được phía Palestine tuyên bố là tỉnh Jerusalem. Jerusalem được sát nhập vào Israel năm 1980, sự sát nhập không được bất cứ quốc gia tổ chức quốc tế nào công nhận. Trong 450.000 người tại Jerusalem thì có khoảng 60% là người Palestine và 40% là người Israel.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

PLO thực hiện quan hệ đối ngoại của Nhà nước Palestine. Các quốc gia công nhận Palestine duy trì cấp đại sứ.

Hiện tại có 148 quốc gia (trong đó có 136 thành viên Liên Hiệp Quốc) công nhận Nhà nước Palestine.

Nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Theo cục Thống kế Trung ương Palestine, Palestine có khoảng 4.420.549 người vào năm 2013. Với diện tích 6.220 km2 (2.400 sq mi), có một mật độ dân số 731 người/km2. Với mật độ dân số trung bình của thế giới là 53 người/km2 dựa trên dữ liệu từ ngày 05 tháng 7 năm 2014 thì đây là khu vực có mật độ dân số cao.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

93% người Palestine theo đạo Hồi, đại đa số là những người tín đồ Hồi giáo Sunni, với một thiểu số là Ahmadiyya, và 15% là người Hồi giáo không giáo phái. Người Palestine theo Kitô hữu chiếm 6%, theo sau là nhỏ hơn nhiều tôn giáo cộng đồng, bao gồm Druze và Samaritan. Người Do Thái Palestine, người được quy định bởi Hiến chương Quốc gia Palestine và PLO như những "người Do Thái đã thường trú ở Palestine cho đến trước khi Do Thái xâm lược", hầu như quên nguồn gốc đó và đưa mình trở thành người Do Thái của Israel.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The World Factbook: Middle East: West Bank”. cia.gov. Central Intelligence Agency. 7 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ “Estimated Population in the Palestinian Territory Mid-Year by Governorate,1997-2016”. Palestinian Central Bureau of Statistics. State of Palestine. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  3. ^ According to Article 4 of the 1994 Paris Protocol. The Protocol allows the Palestinian Authority to adopt multiple currencies. In the West Bank, the Israeli new sheqel and Jordanian dinar are widely accepted; while in the Gaza Strip, the Israeli new sheqel and Egyptian pound are widely accepted.
  4. ^ “Palestine”. GEOCHIVE. GEOCHIVE. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2015.