Nhạc cụ Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Nhạc cụ các dân tộc Việt Nam có nhiều loại khác nhau. Những nhạc cụ đó dùng để đệm cho hát, múa, độc tấu, hào tấu... Các nhạc cụ này còn dùng trong lễ hội, trong sinh hoạt văn hóa của mỗi dân tộc.

Việt Nam là nước có một kho tàng nhạc cụ cổ truyền hết sức phong phú và đa dạng. Kho tàng ấy được hình thành trong suốt hành trình cuộc sống và chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Có những nhạc cụ được sáng tạo tại chỗ có tính đặc trưng bản địa, có những nhạc cụ được du nhập từ nhiều đường khác nhau nhưng đã được dân tộc hóa, bản địa hóa cho phù hợp với nhạc ngữ, với thẩm mỹ âm nhạc Việt Nam. Tổng cộng có đến vài trǎm chi loài nhạc cụ khác nhau. Dưới đây là những nhạc cụ tiêu biểu nhất của người Việt.

Biên khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Biên khánh

Biên khánh là một nhạc cụ gõ Trung Hoa cổ xưa bao gồm một bộ chuông chùm bằng đá nhẵn nhụi hình chữ L còn được hiểu như là khánh, chơi một cách du dương. Bộ nhạc khí này được du nhập vào cung đình Việt Nam từ thời phong kiến.[1]

Đàn bầu[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đàn bầu

Đàn bầu, tên chữ là độc huyền cầm, là loại đàn một dây của người Việt, gảy bằng que hoặc miếng gảy. Đàn có hai loại là đàn thân tre và đàn hộp gỗ.

Đàn đá[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đàn đá

Đàn đá là một nhạc cụ gõ cổ nhất của Việt Nam và là một trong những loại nhạc cụ cổ sơ nhất của loài người. Đàn được làm bằng các thanh đá với kích thước dài, ngắn, dày, mỏng khác nhau

Đàn cầm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cổ cầm

Đàn cầm hay cổ cầm là một loại nhạc cụ xuất xứ từ Trung Quốc từ thời cổ đại, không rõ năm nào được đưa vào Việt Nam. Nhưng căn cứ ghi chép trong

Cuốn An Nam chí lược của dưới thời nhà Trần đàn cầm hay cổ cầm được đưa vào dàn tiểu nhạc. Vào thời Hậu Lê, khi triều đình áp dụng

Đường thượng chi nhạc và Đường hạ chi nhạc trong thời gian ngắn với biên chế như sau: Đường thượng chi nhạc gồm: trống treo lớn, biện khánh, biên chung,

Đàn cầm, đàn sắt, sinh, tiêu, quản, thược, chúc, ngữ, huân, trì; Đường hạ chi nhạc gồm có phương hướng treo, không hầu, tỳ bà, quản cổ, quản địch. Đàn cầm

Tiếp tục được sử dụng trong các lễ nhạc thời nhà Nguyễn. Hiện nay đàn cầm không được thịnh hành như đàn tranh, đàn nhị và tiêu sáo.

Đàn tỳ bà[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đàn tỳ bà

Tỳ bà đã du nhập sang nước Việt từ rất sớm. Bằng chứng là hình chạm các nhạc công trên tảng đá vuông dùng làm chân cột chùa Phật Tích, Bắc Ninh,

Có chạm hình tỳ bà giữa hai nhạc công dùng ống sênh, và ống tiêu thổi dọc. Trong khi đàn tranh có vóc dáng mà không thấy những con nhạn căng dây,

Đứng giữa hai nhạc công thổi ống sênh và ống sáo ngang. Trong cuốn An Nam chí lược của Lê Tắc, đàn tỳ bà thuộc dàn tiểu nhạc.

Đàn sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Đàn sắt (瑟) từng được sử dụng trong dàn nhạc cung đình cũng như dân gian từ thời nhà Trần và Hậu Lê, trước đó khó có thể khảo cứu. Vào thời nhà Trần,

Đàn sắt được đưa vào dàn tiểu nhạc, dù giàu nghèo sang hèn đều được sử dụng, dưới thời Hậu Lê, đàn sắt thuộc về Đường thược chi nhạc phỏng theo nhà Minh.

Căn cứ vào cuốn Khâm định Đại Nam Hội diễn Sư lệ được biên soạn vào giữa thế kỷ XIX bởi Nội các triều Nguyễn thì đàn sắt được đưa vào

Dàn Huyền nhạc bao gồm: 1 kiến cổ, 1 bác chung, 1 đặc khánh, 1 bộ biên chung, 1 bộ biên khánh, 1 bác phụ, 1 chúc, 1 trống, 2 đàn cầm,

2 đàn sắt, 2 bài tiêu, 2 tiêu, 2 địch, 2 sinh, 2 huân, 2 trì, 2 phách bản.

Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn viết về đàn cầm, đàn sắt như sau:

"Về việc phân định của lục khí thì đàn cầm, đàn sắt là khó nhất.

- Đàn cầm mỗi điệu phải sửa dây.

- Đàn sắt mỗi điệu phải dời cây trụ.

- Cao thấp cùng sinh ra, lý rất huyền diệu.

Đàn đáy[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đàn đáy

Đàn đáy là nhạc cụ do người Việt Nam sáng tạo ra. Không rõ đàn đáy xuất hiện lần đầu vào năm nào nhưng nó được nhắc đến gần 500 năm qua.

Đàn hồ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đàn hồ
  • Đàn hồ là nhạc cụ có cung vĩ, thuộc loại trung âm. Nó là một loại đàn nhị nhưng kích thước lớn hơn, âm thanh trầm hơn đàn nhị bình thường.
  • Đàn hồ lớn: Đàn hồ lớn còn gọi là hồ trầm, mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Hình dạng và cấu tạo của hồ lớn giống như đàn hồ trung nhưng kích thước cao to hơn. Do đó các nghệ sĩ thường đặt đàn hồ trên giá gỗ để diễn tấu chứ không thể đặt trên người.
  • Đàn hồ trung: Hồ trung còn gọi là hồ đại, mới xuất hiện trong thời gian gần đây do yêu cầu của các dàn nhạc vừa trở lên.

Đàn nguyệt (đàn kìm)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đàn nguyệt

Đàn nguyệt tức nguyệt cầm, trong Nam còn gọi là đàn kìm. Loại đàn này có hộp đàn hình tròn như Mặt Trăng nên mới có tên là "đàn nguyệt". Theo sách xưa thì đàn nguyên thủy có 4 dây, sau rút lại còn 2 dây. Sách của Phạm Đình Hổ thì ghi rằng đàn nguyệt xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ 18.

Đàn nhị (đàn cò)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đàn nhị

Đàn nhị (ở miền nam Việt Nam gọi là đàn cò) là nhạc cụ có cung vĩ, xuất hiện từ lâu ở Việt Nam. Ngoài người Kinh, nhiều dân tộc khác cũng sử dụng rộng rãi nhạc cụ này (Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Giáy, H’Mông...). Họ gọi đàn nhị bằng cái tên khác nhau.

Ravanastron.jpg

Đàn tam[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đàn tam

Đàn tam là nhạc cụ Việt Nam có 3 dây (tam là 3). Trước đây người ta thường dùng nhạc cụ này trong dàn nhạc bát âm, ngày nay phần lớn các dàn nhạc đều có đàn tam với đủ loại kích cỡ, từ nhỏ, vừa đến lớn và cả loại đàn tam âm trầm, hòa điệu với những nhạc cụ âm trầm khác trong dàn nhạc.

Đàn tam thập lục[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tam thập lục

Tam thập lục là nhạc khí dây, chi gõ của âm nhạc dân gian Việt Nam. Đàn có 36 dây nên được gọi là Tam Thập Lục. Tuy nhiên ngày nay một số nghệ nhân đã cải tiến đàn này bằng cách mắc thêm nhiều dây nữa để đánh được nhiều âm hơn, kể cả những âm nửa cung.

Đàn tứ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đàn tứ

Đàn tứ là một nhạc cụ Việt Nam có âm cao, do có 4 dây nên người ta gọi là đàn tứ (tứ là bốn). Tuy nhiên đàn này còn nhiều tên gọi khác như đàn đoản (đoản là ngắn) và cần đàn ngắn hơn đàn nguyệt, đàn nhật (nhật là mặt trời) một cách để đối lại với đàn nguyệt (nguyệt là Mặt Trăng).

Kèn loa[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kèn loa

Kèn loa là nhạc cụ thổi hơi có nhiều tên gọi khác nhau. Người ta còn gọi kèn loa là kèn già nam, kèn bát (loa kèn giống hình cái bát) hay pí lê, pí kẻo (cách gọi của người Thái). Nhạc cụ này cả người kinh và người dân tộc đều sử dụng.

[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết:

Mõ được xếp là một nhạc khí tự thân vang, phổ biến ở Việt Nam. Trên thực tế mõ được sử dụng vào các môi trường khác nhau và có những chức nǎng khác nhau.

Phách[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Phách

Phách là nhạc cụ gõ, xuất hiện trong nhiều thể loại ca, múa nhạc ở Việt Nam từ lâu đời. Phách có nhiều loại và tên gọi khác nhau. Trong hát xẩm phách gọi là cặp kè; trong cải lương và dàn nhạc tài tử phách là song lang; trong ca Huế phách là sênh, còn trong dàn nhạc tuồng, đám ma, múa tôn giáo và múa dân gian người ta mới gọi là phách...

Sáo ngang[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sáo ngang

Sáo là nhạc cụ thổi hơi có từ thời kỳ cổ đại, rất nhiều nước trên thế giới sử dụng sáo với nhiều hình dáng và cấu tạo có thể khác nhau. Ở Việt Nam sáo ngang rất thông dụng và có nhiều loại.

Sinh tiền[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sinh tiền

Sinh tiền là nhạc cụ gõ độc đáo, xuất hiện ở Việt Nam ít nhất vài trăm năm nay. Tên cổ của nó là phách sâu tiền hay phách quán tiền. Ngày nay có người gọi là sênh tiền. Nhìn chung, nhạc cụ này là một loại sinh có gắn những đồng tiền vào nên gọi là sinh tiền.

Song lang[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Song lang

Song lang là một loại mõ nhỏ bằng gỗ cứng hình tròn dẹt dùng để giữ nhịp trong dàn nhạc.

Tiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tiêu

Tiêu là nhạc cụ xuất hiện ở Việt Nam hàng ngàn năm nay. Nó là nhạc cụ thổi hơi có cấu tạo đơn giản hơn cả sáo ngang, vì chỉ có một ống nứa và một số lỗ khoét. Nếu sáo thường được thổi ngang thì tiêu lại thổi dọc.

Trống cái[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trống cái

Trống cái là nhạc cụ không định âm, to lớn, xuất hiện ở khắp nước Việt Nam từ hàng ngàn năm nay. Dù ở đồng bằng hay miền núi người ta đều nhận ra sự có mặt của trống cái.

Trống cơm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trống cơm

Từ thế kỷ 10, trống cơm đã xuất hiện ở Việt Nam (đời nhà Lý). Đây là nhạc cụ gõ, định âm, còn có tên gọi khác là phạn cổ (phạn là cơm, cổ là trống). Trong các ban nhạc tuồng, chèo và ban nhạc tang lễ ngày xưa có loại trống này. Nhiều ban nhạc ngày nay cũng sử dụng trống cơm.

Trống đế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trống đế

Trống đế là nhạc cụ gõ, xuất hiện ở Việt Nam từ khá lâu đời. Trong nhạc chèo người ta gọi nó là trống đế, còn trong hát ca trù nó là trống chầu. Nhìn chung nó chỉ xuất hiện trong chèo và ca trù.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Dương (9 tháng 12 năm 2010). “Sắp phục chế thành công 2 bộ nhạc cụ độc đáo đã thất truyền”. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2016.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)