Nhập cư vào Hoa Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Lễ nhập tịch tại Trường trung học Oakton tại quận Fairfax, Virginia, tháng 12 năm 2015.
Những người nhập cư vào Hoa Kỳ thực hiện Lời thề của Allegiance tại một buổi lễ nhập tịch tại Công viên quốc gia Grand Canyon tại Arizona, tháng 9 năm 2010.

Nhập cư vào Hoa Kỳ là sự di chuyển quốc tế của những người không có quốc tịch Mỹ đến Hoa Kỳ và thường trú tại quốc gia này.[1] Nhập cư là một nguồn chính của tăng trưởng dân số và thay đổi văn hóa trong suốt phần lớn lịch sử Hoa Kỳ. Bởi vì Hoa Kỳ là một xã hội thực dân định cư, tất cả người Mỹ, ngoại trừ phần trăm nhỏ của Người Mỹ bản địa, có thể theo dõi tổ tiên của họ cho những người nhập cư từ các quốc gia khác trên thế giới.

Về số lượng tuyệt đối, Hoa Kỳ có dân số nhập cư lớn hơn bất kỳ quốc gia nào khác, với 47 triệu người nhập cư vào năm 2015.[2] Con số này chiếm 19,1% trong số 244 triệu người di cư quốc tế trên toàn thế giới và 14,4% dân số Hoa Kỳ. Một số quốc gia khác có tỷ lệ người nhập cư lớn hơn, chẳng hạn như Thụy Sĩ với 24,9%Canada với 21,9%.[3][4]

Theo Niên giám thống kê nhập cư năm 2016, Hoa Kỳ đã thừa nhận 1,18 triệu người nhập cư hợp pháp trong năm 2016.[5] Trong số này, 48% là người thân trực tiếp của công dân Hoa Kỳ, 20% là gia đình bảo trợ, 13% là người tị nạn và/hoặc người tị nạn, 12% là sở thích dựa trên việc làm, 4.2% là một phần của chương trình Visa nhập cư đa dạng, 1,4% là nạn nhân của tội phạm (U1) hoặc thành viên gia đình của họ (U2 đến U5),[6] và 1,0% đã được cấp Visa nhập cư đặc biệt (SIV) cho người Iraq và người Afghanistan do Chính phủ Hoa Kỳ tuyển dụng.[5] 0,4% còn lại bao gồm một số lượng nhỏ từ một số loại khác, bao gồm 0,2% được cho phép đình chỉ trục xuất như một người thân ngay lập tức của một công dân (Z13);[7] những người được thừa nhận theo Đạo luật Cứu trợ Nicaragua và Trung Mỹ; trẻ em sinh ra sau khi cấp visa của cha mẹ; và một số người tạm tha từ Liên Xô cũ, Campuchia, Lào và Việt Nam đã bị từ chối tình trạng tị nạn.[5]

Các khía cạnh kinh tế, xã hội và chính trị của nhập cư đã gây ra tranh cãi về các vấn đề như duy trì đồng nhất dân tộc, người lao động cho người sử dụng lao động so với việc làm cho người không di dân, mô hình định cư, tác động lên di động xã hội, tội phạm và hành vi bỏ phiếu.

Trước năm 1965, các chính sách như công thức nguồn gốc quốc gia cơ hội nhập cư hạn chế và nhập tịch cho những người từ các khu vực bên ngoài Tây Âu. Luật loại trừ được ban hành sớm nhất là vào những năm 1880 thường cấm nhập cư hoặc hạn chế nghiêm ngặt từ châu Á, và luật hạn ngạch được ban hành vào những năm 1920 đã ngăn chặn nhập cư Đông Âu. Phong trào dân quyền đã dẫn đến thay thế[8] trong số các hạn ngạch dân tộc với giới hạn mỗi quốc gia đối với thị thực ưu tiên dựa trên gia đình và việc làm.[9] Kể từ đó, số lượng người nhập cư thế hệ đầu tiên sống ở Hoa Kỳ đã tăng gấp bốn lần.[10][11]

Nghiên cứu cho thấy rằng nhập cư vào Hoa Kỳ có lợi cho nền kinh tế Hoa Kỳ. Với một vài trường hợp ngoại lệ, bằng chứng cho thấy rằng trung bình, nhập cư có tác động kinh tế tích cực đối với người dân bản địa, nhưng có một sự pha trộn nào đó là liệu nhập cư có tay nghề thấp có ảnh hưởng xấu đến người bản địa có tay nghề thấp hay không. Các nghiên cứu cũng cho thấy người nhập cư có tỷ lệ tội phạm thấp hơn người bản địa ở Hoa Kỳ.[12] Nghiên cứu cho thấy Hoa Kỳ vượt trội trong việc đồng hóa người nhập cư thế hệ thứ nhất và thứ hai so với nhiều nước phương Tây khác.[cần dẫn nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tiêu đề 8 của Bộ luật Hoa Kỳ § 1101(a)(22) ("Thuật ngữ 'quốc tịch Hoa Kỳ' có nghĩa là (A) một công dân Hoa Kỳ, hoặc (B) một người, mặc dù không phải là công dân Hoa Kỳ, có lòng trung thành vĩnh viễn với Hoa Kỳ.")
  2. ^ “United Nations Population Division | Department of Economic and Social Affairs”. www.un.org. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2017. 
  3. ^ “Ausländer in Zahlen”. Blick. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2018. 
  4. ^ Canada, Government of Canada, Statistics. “The Daily — Immigration and ethnocultural diversity: Key results from the 2016 Census”. www150.statcan.gc.ca (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2018. 
  5. ^ a ă â “Table 7. Persons Obtaining Lawful Permanent Resident Status By Type And Detailed Class Of Admission: Fiscal Year 2016 — 2016 Yearbook of Immigration Statistics”. DHS.gov. United States Department of Homeland Security (DHS). 18 tháng 12 năm 2017. Truy cập 23 tháng 6 năm 2018. 
  6. ^ “Green Card for a Victim of a Crime (U Nonimmigrant)”. www.uscis.gov. Truy cập 30 tháng 7 năm 2019. 
  7. ^ “INS CLASS OF ADMISSION CODES” (PDF). www.hplct.org. Truy cập 30 tháng 7 năm 2019. 
  8. ^ Foner, Nancy; Fredrickson, George M. biên tập (ngày 8 tháng 12 năm 2005). “Chapter 6: American Gatekeeping: Race and Immigration Law in the Twentieth Century”. Not Just Black and White: Historical and Contemporary Perspectives on Immigration, Race, and Ethnicity in the United States. Russell Sage Foundation. ISBN 978-0-87154-270-0. Bản gốc lưu trữ 1 tháng 1 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  9. ^ “Per Country Limit”. U.S. Citizenship and Immigration Services. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 1 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp) vào năm 1965.
  10. ^ "Immigrants in the United States and the Current Economic Crisis Lưu trữ 2010-04-08 tại Wayback Machine", Demetrios G. Papademetriou and Aaron Terrazas, Migration Policy Institute, Tháng 4 năm 2009.
  11. ^ "Immigration Worldwide: Policies, Practices, and Trends Lưu trữ 2016-01-01 tại Wayback Machine". Uma A. Segal, Doreen Elliott, Nazneen S. Mayadas (2010),
  12. ^ The Integration of Immigrants into American Society (bằng tiếng Anh). National Academies of Sciences, Engineering, and Medicine. 2015. ISBN 978-0-309-37398-2. doi:10.17226/21746. Người Mỹ từ lâu đã tin rằng người nhập cư có nhiều khả năng hơn người bản địa phạm tội và nhập cư tăng dẫn đến tội phạm gia tăng... Niềm tin này có khả năng phục hồi đáng kể với bằng chứng trái ngược rằng người nhập cư thực tế ít có khả năng phạm tội hơn người bản địa..