Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Những cuộc cách mạng 1989)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sự sụp đổ của các nước CNXH ở Liên Xô và Đông Âu 1989
Một phần của Chiến tranh lạnh
Thefalloftheberlinwall1989.JPG
Sự sụp đổ của Bức tường Berlin năm 1989
Ngày 9/3/1989 – 27/4/1992
(3 năm, 1 tháng, 2 tuần và 4 ngày)
Địa điểm Châu Âu (Chính xác ở trung tâm châu Âu, sau đó lan sang Đông Nam và Đông Âu)
Trung quốc
Liên Xô
Các nước XHCN ở các bộ phận khác của châu Âu và thế giới
Nguyên nhân
Mục tiêu
Đặc điểm Biểu tình, đấu tranh, bạo động
Kết quả
Sự sụp đổ của các quốc gia cộng sản Liên Xô và Đông Âu còn được gọi là: Các cuộc cách mạng 1989, Mùa thu của chủ nghĩa cộng sản, sụp đổ của chủ nghĩa Stalin, sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản, sụp đổ của chủ nghĩa xã hội, Mùa thu của chủ nghĩa xã hội, mùa thu các quốc gia, mùa xuân châu Âu.

Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu hay được phương Tây gọi Cuộc cách mạng năm 1989 (cũng được gọi là Mùa thu của Cộng sản, Sự sụp đổ của khối Cộng sản chủ nghĩa, Các cuộc cách mạng ở Đông ÂuMùa thu của Quốc gia [2]) là sự sụp đổ của các nhà nước cộng sản theo mô hình kế hoạch hóa của Liên Xô ở Đông Âu.

Những sự kiện này bắt đầu từ Ba Lan vào năm 1989,[3][4] và tiếp tục ở Hungary, Đông Đức, Bungary, Tiệp KhắcRomânia. Một đặc tính phổ biến cho hầu hết các cuộc cách mạng này là việc sử dụng rộng rãi các chiến dịch của lực lượng đối lập chống lại chế độ độc đảng và góp phần gây áp lực với sự thay đổi [5]. Romania là nước Đông Âu duy nhất lật đổ chế độ Xã hội chủ nghĩa của mình bằng bạo lực [6]. Sự kiện Thiên An Môn đã không thành công trong việc kích thích sự thay đổi chính trị lớn ở Trung Quốc. Tuy nhiên, hình ảnh mạnh mẽ của các sự thách thức dũng cảm trong những cuộc biểu tình đó đã giúp gây ra các sự kiện ở những phần khác của thế giới. Trong số các cuộc cách mạng chống Cộng nổi tiếng nhất là sự sụp đổ của Bức tường Berlin, đã phục vụ như là cửa ngõ tượng trưng để thống nhất nước Đức vào năm 1990.

Việc Liên Xô bị giải thể vào cuối năm 1991 dẫn đến kết quả là Nga và 14 quốc gia tuyên bố độc lập của khỏi Liên Xô: Armenia, Azerbaijan, Belarus, Estonia, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Litva, Moldova, Tajikistan, Turkmenistan, UkrainaUzbekistan. Cộng sản đã bị bỏ rơi tại AlbaniaNam Tư từ năm 1990 đến 1992, chia thành năm nước kế tục: Slovenia, Croatia, Cộng hòa Macedonia, Bosnia và Herzegovina, và Cộng hòa Liên bang Nam Tư (gồm Serbia, MontenegroKosovo). Tác động này cũng được cảm thấy ở hàng chục quốc gia xã hội chủ nghĩa khác. Chế độ Xã hội Chủa nghĩa đã bị bỏ rơi ở các nước như Campuchia, Ethiopia, Mông CổNam Yemen. Sự sụp đổ của các nước cộng sản đã dẫn đến tuyên bố kết thúc của Chiến tranh Lạnh.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nổi lên của phong trào cộng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Ý tưởng của Chủ nghĩa xã hội đã đạt được giữa các tầng lớp công nhân của thế giới từ thế kỷ 19, lên đến đỉnh điểm trong thế kỷ 20 khi một số quốc gia hình thành Đảng Cộng sản của riêng họ. Thông thường, chủ nghĩa xã hội không được ưa chuộng bởi tầng lớp cầm quyền cuối thế kỷ 19 đầu thế kỉ 20; do vậy, ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa bị đàn áp và điều này đã được thực hành ngay cả ở các nước thực hiện chế độ đa đảng.

Cuộc cách mạng Bolshevik năm 1917 đã chứng kiến sự lật đổ một nhà nước dân tộc Nga trước đó cùng với chế độ quân chủ của nó. Những người Bolshevik bao gồm các dân tộc của Nga đã lập ra Liên Xô trong suốt giai đoạn sau đó.

Trong thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, phong trào Cộng sản đã trỗi dậy tại nhiều nơi trên thế giới (ví dụ như ở Vương quốc Nam Tư thì nó đã phát triển phổ biến tại các đô thị trong suốt những năm 1920). Điều này dẫn đến một loạt các cuộc thanh trừng ở nhiều nước để dập tắt phong trào.

Sau thế chiến II, một loạt các quốc gia cộng sản chủ nghĩa đã ra đời ở châu Á và Đông Âu, tiêu biểu là CHND Trung Hoa. Các Đảng Cộng sản được thành lập ngày càng nhiều ở khắp nơi trên thế giới.

Khi phong trào cộng sản đã vào một giai đoạn phát triển phổ biến trên khắp Đông Âu, hình ảnh của họ cũng đã bắt đầu mờ nhạt đi. Khi các nhóm chính trị đối lập tăng cường các chiến dịch của họ để chống lại phong trào cộng sản, họ đã dùng đến bạo lực (bao gồm cả vụ đánh bom và giết người) để đạt được mục tiêu của họ: điều này dẫn phần lớn dân chúng trước đây ủng hộ Đảng Cộng sản đã mất sự quan tâm đến ý thức hệ này. Một sự hiện diện của Đảng Cộng sản vẫn được duy trì nhưng mất đi vai trò trước kia của nó.

Áp lực từ phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thế chiến thứ II, mặc dù là nước thắng trận nhưng Liên bang Xô Viết (goị tắt là Liên Xô) bị thiệt hại nặng nề về người và của, đặc biệt là vấp phải sự chống phá của các phe đối lập nói chung và các nước tư bản nói riêng. Các nước tư bản đứng đầu là Mỹ, thực hiện chiến lược "toàn cầu chống XHCN" bằng những hành động cô lập kinh tế-chính trị, cũng từ đây thế giới bước vào thời kì "chiến tranh lạnh. Mỹ đưa ra lệnh "cấm vận" đối với Liên Xô, khiến tình hình nước này đã khó khăn nay càng trở nên khó khăn hơn. Bên cạnh đó, Mỹ thành lập "Khối Bắc Đại Tây Dương" (gọi tắt là NATO) để bao vây chính trị, tạo thế lực đồng minh chống XHCN. Để thoát khỏi áp lực nặng nề đó, Liên Bang Xô Viết đã thành lập "Khối quân Warszawa", tạo đối trọng với NATO và thành lập "Hội đông tương trợ kinh tế" nhằm giải quyết tình trạng cô lập kinh tế của các nước phương TâyMỹ.[cần dẫn nguồn]

Nguyên nhân của sự sụp đổ hệ thống chủ nghĩa xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sách giáo khoa Lịch sử lớp 9 và lớp 12 tại Việt Nam, nguyên nhân của sự sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới là do bản thân các nước này cũng như tác động từ bên ngoài:

  • Các nước công nghiệp tư bản (Tây Âu, bắc Mỹ...) dưới sự đấu tranh của tầng lớp người lao động và áp lực cạnh tranh từ hệ thống chủ nghĩa xã hội, xã hội tư bản đã hình thành các hệ thống bảo hiểm xã hội tiên tiến để xoa dịu sự đối kháng giai cấp, nâng cao phúc lợi xã hội và giúp đỡ người nghèo. Trong khi các nước CNXH lại thiếu sự dân chủ thực sự, bám vào một đường lối, tư tưởng cứng nhắc đã vạch trước nên thiếu nhạy bén, chậm chạp với sự phát triển chung của toàn cầu.
  • Các nước XHCN, mặc dù cũng đã luôn tìm cách hiện đại hóa đất nước, nhưng vẫn không theo kịp các nước tư bản. Với phương pháp "bao cấp" trong nhiều lĩnh vực (giao thông, y tế, lương thực, nhà ở...) để chứng minh sự ưu việt hơn nhà nước tư bản, dẫn tới thụt lùi về kinh tế, từ đó
    Bản đồ (timeline) sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở các nước Đông Âu và sự tan rã của Liên Xô
    dẫn tới khủng hoảng kinh tế.
  • Nhiều nước XHCN thể chế chính trị không phải đại diện cho toàn dân, rõ ràng nhất là ở các nước mà chính phủ không tự lập ra qua kháng chiến chống ngoại xâm, mà do nước khác áp đặt (như các nước đông Âu) và trợ cấp.
  • Ở tất cả các nước XHCN, nền kinh tế không phát triển theo thị trường, mà được chỉ đạo, nên thiếu thực tế về cung và cầu trong xã hội, không đầu tư đúng chỗ, chậm chạp trong áp dụng kỹ thuật mới. Ngoài ra trong thời kỳ chiến tranh lạnh các nước này đều bị gánh nặng nợ nước ngoài vì cần tiền cho việc chi phí quân sự lớn, ganh đua với Tây Âu.

Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ vì xa rời quần chúng.[7] Cuối đời Brezhnev, lãnh đạo Đảng CS Liên Xô càng ngày càng xa rời sự thay đổi, phát triển của thời đại, xa rời yêu cầu của quần chúng nhân dân. Trong tư tưởng và hành động, họ tỏ ra bảo thủ, cứng nhắc, duy trì hiện trạng theo kiểu tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại. Dưới thời Khrushchev và Brezhnev, về hình thức vẫn nhấn mạnh lãnh đạo tập thể, song thật ra chỉ là thay đổi từ một người quyết định thành một vài người quyết định mà thôi. Trên thực tế, không có sự thực hiện nghiêm túc của nguyên tắc tập trung dân chủ.

Theo sách báo Phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Sách báo các nước Phương Tây và ngay cả trong bản thân các nước trước là XHCN có cách giải thích về một số nguyên nhân khác so với cách giải thích tại Việt Nam.

Có cả một hệ thống nghiên cứu về nguyên nhân của sự sụp đổ Chế độ XHCN tại Liên Xô và các nước Đông Âu, với nhiều nghiên cứu từ các khía cạnh khác nhau. [cần dẫn nguồn]

Dự đoán về sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều dự đoán rằng Liên bang Xô viết cuối cùng sẽ bị tan rã trước khi quá trình giải thể bắt đầu với sự sụp đổ của Bức tường Berlin vào tháng 10 năm 1989.

Các tác giả dự đoán sự sụp đổ của Liên bang Xô viết bao gồm Andrei Amalrik trong cuốn Liên bang Xô viết sẽ tồn tại đến 1984? (1970), học giả người Pháp Emmanuel Todd trong La chute finale: Essais sur la décomposition de la sphère Soviétique (The Fall Final: Bài luận về sự tan rã của Liên Xô) (1976), nhà kinh tế Ravi Batra trong cuốn sách của ông là Sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản và cộng sản năm 1978 và sử gia người Pháp Hélène Carrère d'Encausse.[8] Ngoài ra, Walter Laqueur lưu ý rằng "bài báo khác nhau xuất hiện trong các tạp chí chuyên ngành về các vấn đề của cộng sản và nghiên cứu về sự phân rã và sự sụp đổ có thể có của chế độ Xô viết."[9]

Tại Hoa Kỳ, chủ yếu là giữa những người bảo thủ,[10][11] các chính trị gia nhất ghi có dự đoán sự sụp đổ của Liên bang Xô viết là Tổng thống Ronald Reagan.

Các dự đoán được thực hiện trước 1980 về sự sụp đổ của Liên Xô đều coi sự sụp đổ là điều xảy ra trong tương lai hơn là một xác suất. Tuy nhiên, đối với một số ý tưởng (như Amalrik và Todd) được nghiên cứu thấu đáo hơn là suy nghĩ thoáng qua.[9] Trong trường hợp của Ludwig von Mises, ông gọi là sự sụp đổ của Liên Xô là một sự chắc chắn tuyệt đối, tuy nhiên ông không đưa ra bất kỳ khoảng thời gian hợp lý để kiểm tra dự đoán của mình.

Sự phát triển những năm 1980 dẫn tới sự sụp đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội lần thứ tư của Liên Hợp Đảng Người lao động Ba Lan, được tổ chức vào năm 1963.
Người dân mang tem phiếu xếp hàng để mua tại một cửa hàng, hình ảnh tiêu biểu về thời bao cấp ở Ba Lan trong những năm 1980

Những năm 1980 hầu như tất cả các nền kinh tế bao cấp các ở nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đều có

vấn đề.

Quá trình sụp đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Các cuộc cách mạng năm 1989 (còn được gọi là Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản, sự sụp đổ của cộng sản, (Fall of Communism, the Collapse of Communism), các cuộc cách mạng của Đông Âu) là những cuộc cách mạng lật đổ các nhà nước thân cộng sản Liên Xô của các nước Đông Âu.

Những sự kiện bắt đầu tại Ba Lan,[3][12] và tiếp tục ở Hungary, Đông Đức, Bulgaria, Tiệp Khắc và Romania. Romania là nước duy nhất thuộc Đông Âu lật đổ chế độ cộng sản bằng bạo lực [6] Các cuộc biểu tình Thiên An Môn năm 1989 không thành công để kích thích những thay đổi chính trị lớn ở Trung Quốc. Tuy nhiên, hình ảnh mạnh mẽ của người biểu tình dũng cảm trong cuộc biểu tình đó đã giúp để thúc đẩy các sự kiện tương tự ở các khu vực khác của thế giới.

Albania và Nam Tư từ bỏ chủ nghĩa cộng sản từ năm 1990 đến 1992, chia thành năm nước năm 1992: Slovenia, Croatia, Cộng hòa Macedonia, Bosnia và Herzegovina, và Cộng hòa Liên bang Nam Tư (gồm Serbia và Montenegro). Liên Xô bị giải thể vào cuối năm 1991, kết quả là Nga và 14 quốc gia mới tuyên bố độc lập từ Liên bang Xô Viết: Armenia, Azerbaijan, Belarus, Estonia, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Lithuania, Moldova, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraine và Uzbekistan. Tác động của sự sụp đổ này được cảm thấy ở hàng chục quốc gia xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa Cộng sản đã bị bỏ rơi ở các nước như Campuchia, Ethiopia, và Mông CổNam Yemen. Sự sụp đổ của cộng sản đã dẫn tới tuyên bố kết thúc chiến tranh lạnh.

Việc áp dụng các hình thức khác nhau của nền kinh tế thị trường thường dẫn đầu trong việc giảm mức sống ở Hoa hậu Cộng sản, cùng với tác dụng phụ bao gồm sự gia tăng của đầu sỏ chính trị kinh doanh tại các nước như Nga, và phát triển xã hội và kinh tế. Cải cách chính trị đã bị thay đổi, một số quốc gia Đảng cộng sản vẫn có thể giữ cho mình quyền lực, chẳng hạn như Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong khi đối với các quốc gia các đảng chính trị khác đã thành công. Nhiều tổ chức cộng sản và xã hội ở phương Tây tôn chỉ quay sang nền dân chủ xã hội. Các cảnh quan chính trị châu Âu đã quyết liệt thay đổi, với rất nhiều nước Đông Âu gia nhập NATO và hội nhập kinh tế mạnh mẽ hơn châu Âu và xã hội tiếp đó.

Ba LanBa Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ tịch Công đoàn Đoàn kết Lech Wałęsa (giữa) với Tổng thống Mỹ George H. Bush (phải) và Barbara Bush (trái) ở Warsaw, tháng 7 năm 1989.

Vào tháng 4 năm 1989, Phong trào Công đoàn Đoàn kết lại được hợp pháp hóa và được tham gia cuộc bầu cử quốc hội vào ngày 4 tháng 6 năm 1989 (bất ngờ, ngày hôm sau vụ đàn áp những người biểu tình Trung Quốc nửa đêm ở Thiên An Môn). Một trận động đất chính trị diễn ra. Chiến thắng Công đoàn đoàn kết vượt qua tất cả các dự đoán. Các ứng cử viên giành được tất cả các chỗ họ được phép cạnh tranh trong Hạ viện, trong khi tại Thượng viện họ chiếm 99 trong số 100 ghế (với các ghế còn lại được thắng cử bởi một ứng cử viên độc lập). Đồng thời, nhiều ứng cử viên nổi bật của Đảng Cộng sản đã thất bại để đạt được ngay cả những số phiếu tối thiểu cần thiết để nắm bắt những ghế đã được dành riêng cho họ.

Một chính phủ Phi Cộng sản mới, lần đầu tiên của loại hình này ở các nước Khối Đông Âu, đã tuyên thệ nhậm chức vào văn phòng vào tháng 9 năm 1989.

HungaryHungary[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sau Ba Lan, Hungary đã tới để trở lại với một chính phủ không cộng sản. Mặc dù Hungary đã đạt được một số cải cách kinh tế lâu dài và tự do hóa chính trị giới hạn trong những năm 1980, cải cách chính chỉ xảy ra sau khi János Kádár làm Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản năm 1988. Cùng năm đó, Quốc hội đã thông qua một "gói cải cách dân chủ", trong đó bao gồm đa nguyên, tự do hội họp, lập hội, và báo chí; một luật bầu cử mới, và sửa đổi một hiến pháp cấp tiến, và nhiều hoạt động khác.

Trong tháng 10 năm 1989, Đảng Cộng sản triệu tập đại hội cuối cùng của mình và sau đó tái thành lập trở thành Đảng Xã hội Hungary, mà vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay (tên gọi là MSZP).Trong một phiên họp lịch sử từ 16 tháng mười - 20 tháng 10, Quốc hội đã thông qua luật cho phép bầu cử quốc hội đa đảng và một cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp. Pháp luật về chuyển Hungary từ Cộng hòa Nhân dân thành Cộng hòa Hungary, đảm bảo nhân quyền và dân quyền, và tạo ra một cấu trúc thể chế đảm bảo phân chia quyền lực giữa các ngành tư pháp, lập pháp, và hành pháp của chính phủ. Hungary đề nghị quân đội Xô viết "về nhà." - Một ý tưởng đầu tiên được đề xuất bởi Viktor Orbán tại lễ tang chôn lại của Imre Nagy.

Cộng hòa Dân chủ ĐứcĐông Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tường Berlin tại Cổng Brandenburg, ngày 10 tháng 11 năm 1989

Sau khi biên giới cải cách đã được mở từ phía Hungary, ngày càng có nhiều người Đông Đức đã bắt đầu di cư sang Tây Đức thông qua biên giới của Hungary với nước Áo. Đến cuối tháng 9 năm 1989, hơn 30.000 người Đông Đức đã trốn thoát sang Tây Đức trước khi Đông Đức từ chối cho phép du lịch đến Hungary, để lại CSSR (Tiệp Khắc) là các nhà nước láng giềng duy nhất mà người Đông Đức có thể đi du lịch. Hàng ngàn người Đông Đức đã cố gắng để tiếp cận Tây Đức bằng cách chiếm các cơ sở ngoại giao ở thủ đô Đông Âu khác, đặc biệt là Đại sứ quán Prague, nơi hàng ngàn người cắm trại trong vườn lầy lội từ tháng Tám đến tháng Mười Một. Đông Đức đã đóng cửa biên giới với Tiệp Khắc (CSSR) vào đầu tháng Mười, từ đó cô lập mình khỏi tất cả các nước láng giềng. Do cơ hội cuối cùng để tẩu thoát đã bị đóng lại, những người Đông Đức bắt đầu cuộc biểu tình Ngày Thứ Hai. Hàng trăm ngàn người dân ở một số thành phố - đặc biệt là Leipzig - đã tham gia.

Sau khi các cuộc biểu tình ngày 02 Tháng Mười, lãnh đạo Đảng Thống nhất Xã hội Chủ nghĩa (SED) Erich Honecker đã ra lệnh bắn và giết cho quân đội [19] Đảng Cộng sản chuẩn bị một lực lượng cảnh sát rất lớn, dân quân, cảnh sát chìm (Stasi), và quân tác chiến và đã có tin đồn về một thảm sát Thiên An Môn nữa. [20]

Ngày 06 tháng 10 và 07 tháng mười, Gorbachev viếng thăm Đông Đức để đánh dấu kỷ niệm 40 năm nước Cộng hòa Dân chủ Đức, và thúc giục lãnh đạo Đông Đức chấp nhận cải cách. Một câu nói nổi tiếng của ông được đưa ra trong tiếng Đức là "Wer zu spät kommt, den bestraft das Leben" (Ai đã là quá muộn sẽ bị chết). Tuy nhiên, Erich Honecker vẫn chống đối cải cách, với chế độ của ông thậm chí còn đi xa hơn như cấm lưu hành các ấn phẩm của Liên Xô mà được xem như là phá hoại.

Đối mặt với tình trạng bất ổn dân sự đang diễn ra, phán quyết của Đảng Thống nhất Xã hội chủ nghĩa (SED) cho Honecker về vườn vào giữa tháng Mười, và thay thế ông ta bằng Egon Krenz. Ngoài ra, biên giới Tiệp Khắc đã được mở cửa trở lại, nhưng chính quyền Tiệp Khắc sớm để cho tất cả Đông Đức du lịch trực tiếp tới Tây Đức mà không có thêm thủ tục gì, do đó nâng phần mình của Bức màn sắt vào ngày 3 tháng 11. Không thể để ngăn chặn dòng người tị nạn tiếp theo với phương Tây thông qua Tiệp Khắc, chính quyền Đông Đức cuối cùng đầu hàng trước áp lực công chúng bằng cách cho phép các công dân Đông Đức vào Tây Berlin và Tây Đức trực tiếp, thông qua các điểm biên giới hiện tại, vào ngày 09 tháng 11, mà không cần phải thông báo với lính biên phòng canh biên giới.

Kích hoạt bởi các ngôn từ thất thường của Günter Schabowski trong một cuộc họp báo truyền hình, nói rằng những thay đổi kế hoạch là "có hiệu lực ngay lập tức", hàng trăm ngàn người đã lợi dụng cơ hội, ngay sau mới điểm qua đã được mở trong các bức tường Berlin và dọc biên giới với Tây Đức. Đến tháng mười hai, Krenz đã được thay thế, và chế độ độc tài của Đảng Thống nhất Xã hội chủ nghĩa đã kết thúc. Điều này dẫn đến sự tăng tốc của quá trình cải cách ở Đông Đức đã kết thúc với sự thống nhất cuối cùng của Đông và Tây Đức có hiệu lực vào ngày 03 tháng mười 1990.

Sự sẵn sàng của điện Kremlin từ bỏ một đồng minh chiến lược quan trọng đánh dấu một sự thay đổi đầy kịch tính của một siêu cường Liên Xô và các mô hình thay đổi cơ bản trong quan hệ quốc tế, trước năm 1989 vẫn thống trị sự chia cắt Đông Tây Berlin.

Tiệp KhắcTiệp Khắc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cách mạng Nhung
Các cuộc biểu tình bên dưới tượng đài ở Quảng trường Wenceslas Prague, Tiệp Khắc.

Các "Cách mạng nhung" là một cuộc cách mạng bất bạo động ở Tiệp Khắc mà thấy việc lật đổ chính phủ Cộng sản. Vào ngày 17 tháng 11 năm 1989 (thứ sáu), cảnh sát chống bạo động đàn áp một cuộc biểu tình sinh viên hòa bình ở Prague. Sự kiện đó đã gây ra một loạt các cuộc biểu tình phổ biến từ tháng 19 đến cuối tháng Mười Hai. Đến ngày 20 tháng 11 số lượng người biểu tình hòa bình tập hợp tại Praha đã tăng lên từ 200.000 ngày hôm trước đến khoảng nửa triệu. Tổng Đình công "hai tiếng" gồm tất cả các công dân của Tiệp Khắc, được tổ chức vào ngày 27.

Đài tưởng niệm của cuộc cách mạng Nhung tại Bratislava (Námestie SNP), Slovakia

Với sự sụp đổ của các chính phủ cộng sản khác, và cuộc biểu tình đường phố ngày càng tăng, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc công bố vào ngày 28 Tháng 11 rằng họ sẽ từ bỏ quyền lực và từ bỏ nhà nước độc đảng. Dây thép gai và chướng ngại vật khác đã được gỡ bỏ từ biên giới với Tây Đức và Áo vào đầu tháng mười hai. Ngày 10 Tháng 12, Chủ tịch Gustáv Husák bổ nhiệm chính phủ phi cộng sản đầu tiên ở Tiệp Khắc từ năm 1948, và từ chức. Alexander Dubček được bầu làm người phát ngôn của nghị viện liên bang vào ngày 28 và Václav Havel làm Tổng thống Tiệp Khắc vào ngày 29 Tháng Mười Hai 1989.

Trong tháng 6 năm 1990 Tiệp Khắc đã tổ chức cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên kể từ năm 1946.

BulgariaBulgaria[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10 tháng 11 năm 1989 - một ngày sau khi Bức tường Berlin đã bị xâm phạm – nhà lãnh đạo lâu đời của Bulgaria Todor Zhivkov bị lật đổ bởi Bộ Chính trị. Moscow dường như chấp thuận việc thay đổi lãnh đạo, mặc dù danh tiếng của Zhivkov như là một đồng minh khuất phục của Liên Xô. Tuy nhiên, sự ra đi của Zhivkov là không đủ để đáp ứng các phong trào dân chủ đang phát triển. Cùng lúc đó tác động của chương trình cải cách của Mikhail Gorbachev tại Liên Xô đã được cảm thấy ở Bulgaria vào cuối thập niên 1980, những người Cộng sản, giống như lãnh đạo của họ, đã trở nên quá yếu ớt để chống lại những nhu cầu thay đổi lâu dài.

Trong Tháng Mười Một năm 1989 các cuộc biểu tình về các vấn đề sinh thái được tổ chức tại Sofia, và những sớm mở rộng vào một chiến dịch chung để cải cách chính trị. Đảng Cộng sản đã phản ứng bằng cách khai trừ Zhivkov già yếu và thay thế ông ta bằng Petar Mladenov, nhưng điều này đã chỉ có một thời gian ổn định ngắn. Trong tháng 2 năm 1990 Đảng Cộng sản, buộc bởi cuộc biểu tình đường phố đã từ bỏ độc quyền của Đảng và vào tháng 6 năm 1990, bầu cử tự do đầu tiên kể từ năm 1931 đã được tổ chức, thắng của Bungari Đảng Xã hội (tên mới của Đảng Cộng sản). Mặc dù Zhivkov phải đối mặt với phiên toà vào năm 1991, ông thoát khỏi số phận nghiệt ngã của đồng chí miền Bắc của mình, Tổng thống Rumani Nicolae Ceauşescu.

RomâniaRomania[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cách mạng România
Người biểu tình trên đường phố trong cuộc Cách mạng Rumani năm 1989

Không giống như các nước Đông Âu, Romania đã không bao giờ trải qua bất cứ phong trào chống Stalin nào, nhưng đã được độc lập với sự thống trị của Liên Xô từ những năm 1960. Năm 1989 Tháng một, Ceauşescu, sau đó ở độ tuổi 71, được bầu lại thêm năm năm, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Rumani, báo hiệu rằng ông dự định để vượt qua cuộc nổi dậy chống cộng sản đang càn quét phần còn lại của Đông Âu. Như Ceauşescu chuẩn bị để đi trên một chuyến thăm nhà nước Iran, Securitate của ông đã ra lệnh bắt giữ và lưu vong của một bộ trưởng địa phương nói tiếng Hungary, László Tőkés, ngày 16 tháng mười hai, vì vi phạm chế độ. Tőkés bị giam, nhưng chỉ sau khi nổ ra bạo loạn nghiêm trọng. Timisoara là thành phố đầu tiên phản ứng, ngày 16 tháng mười hai, và nó vẫn còn nổi loạn trong 5 ngày.

Trở về từ Iran, Ceauşescu ra lệnh cho một cuộc biểu tình quần chúng ủng hộ ông ở bên ngoài trụ sở đảng Cộng sản ở Bucharest. Tuy nhiên, thật bất ngờ, đám đông la ó khi ông nói. Sau khi biết sự cố xảy ra (cả hai từ Timisoara và từ Bucharest) từ các đài phát thanh phương Tây, những năm tháng của sự không hài lòng về sự đàn áp đã tồn tại trong dân Rumani và thậm chí giữa các thành phần trong chính phủ của Ceauşescu, và các cuộc biểu tình lan rộng trong cả nước.

Lúc đầu, các lực lượng an ninh của Ceauşescu tuân lệnh bắn người biểu tình, nhưng vào sáng ngày 22 Tháng 12, quân đội Rumani đột nhiên thay đổi bên. Quân đội xe tăng đã bắt đầu chuyển động hướng tới Ủy ban Trung ương với đám đông tràn ngập bên cạnh. Những người nổi loạn buộc mở cửa các cửa ra vào của tòa nhà Trung ương trong một nỗ lực để bắt Ceauşescu và vợ ông, Elena, nhưng họ đã trốn thoát qua một máy bay trực thăng đang chờ họ trên mái của tòa nhà. Các cuộc cách mạng dẫn đến 1104 người tử vong.

Vào ngày lễ Giáng Sinh, truyền hình Rumani cho thấy Ceauşescus phải đối mặt với một phiên xử vội vàng, và sau đó là tử hình. Một Hội đồng Mặt trận lâm thời cứu quốc đã tiếp nhận và công bố cuộc bầu cử cho tháng 4 năm 1990. Các cuộc bầu cử đầu tiên đã được thực sự tổ chức vào ngày 20 Tháng Năm 1990.

AlbaniaAlbania[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Cộng hoà xã hội chủ nghĩa nhân dân Albania, Enver Hoxha, người cai trị Albania trong bốn thập kỷ với bàn tay sắt, đã chết vào 11 Tháng Tư năm 1985. Người kế nhiệm ông, Ramiz Alia, bắt đầu dần dần lới lỏng chế độ cai trị. Năm 1989, các cuộc nổi dậy đầu tiên bắt đầu tại Shkodra và lây lan ra các thành phố khác. Cuối cùng, chế độ hiện hành đưa một số tự do hóa, bao gồm cả các biện pháp năm 1990 quy định quyền tự do đi du lịch nước ngoài. Những nỗ lực bắt đầu cải thiện quan hệ với thế giới bên ngoài. Tháng 3 năm 1991 cuộc bầu cử cho phép những người cộng sản trước đây nắm quyền, nhưng một cuộc tổng biểu tình và đối lập đô thị dẫn đến việc thành lập một nội các liên minh bao gồm cả phi cộng sản. Đảng cựu cộng sản Albania đã bị loại trong cuộc bầu cử tháng 3 năm 1992, giữa lúc sự sụp đổ kinh tế và bất ổn xã hội.

Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam TưNam Tư[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Liên bang Nam Tư không phải là một phần của Khối hiệp ước Warszawa, nhưng theo đuổi phiên bản "cộng sản" riêng của mình theo Josip Broz Tito.Đó là một nhà nước đa sắc tộc, và những căng thẳng giữa các dân tộc đầu tiên leo thang với mùa xuân Croatia cái gọi là của 1970-71, một phong trào tự trị lớn hơn của Croatia, đã được dập tắt. Năm 1974 có thay đổi hiến pháp theo phân cấp một số các quyền hạn của liên bang cho các nước cộng hòa thành phần và các tỉnh. Sau cái chết của Tito vào năm 1980 đã tăng căng thẳng sắc tộc, đầu tiên Kosovo cộng đồng đa số tiếng Albania. Trong cuối những năm 1980 lãnh đạo Serbia Slobodan Milošević sử dụng cuộc khủng hoảng Kosovo để thúc đẩy tăng chủ nghĩa dân tộc Serbia và cố gắng để củng cố và thống trị đất nước, xa lánh các nhóm dân tộc khác.

Song song với quá trình này, Slovenia đã chứng kiến một chính sách tự do hóa dần dần từ năm 1984, không giống như các Perestroika của Liên Xô. Điều này gây căng thẳng giữa các Liên minh Cộng sản của Slovenia ở một bên, và Trung ương Đảng và Quân đội Liên bang Nam Tư ở phía bên kia. Vào giữa tháng năm 1988, Liên minh nông dân của Slovenia đã được tổ chức như tổ chức chính trị đầu tiên phi cộng sản trong nước. Sau đó trong cùng một tháng, quân đội Nam Tư bị bắt giữ bốn nhà báo của tạp chí Mladina, kết án họ là tiết lộ bí mật nhà nước. Phiên toà Ljubljana gây ra cuộc biểu tình quần chúng ở Ljubljana, các thành phố của Slovenia khác. Ủy ban Bảo vệ nhân quyền được thành lập như là nền tảng của tất cả phong trào chính trị Phi Cộng sản. Đến đầu năm 1989, một số đảng phái chính trị chống Cộng sản đã được công khai hoạt động, thách thức quyền bá chủ của Đảng cộng sản Slovenia. Ngay sau đó, Đảng Cộng sản Slovenia, dưới áp lực của xã hội dân sự của mình, bước vào trong cuộc xung đột với các lãnh đạo Cộng sản Serbia.

Vào tháng 1 năm 1990, Đại hội bất thường của Liên đoàn của Cộng sản Nam Tư đã được triệu tập để giải quyết các tranh chấp giữa các bên độc lập. Ở thế thiểu số, những người Cộng sản Slovenia rời bỏ Quốc hội, do đó trên thực tế mang đến sự kết thúc Đảng Cộng sản Nam Tư. Đảng Cộng sản Slovenia đã được theo bởi những người Croatia. Cả hai bên của hai nước cộng hòa miền Tây đàm phán tự do bầu cử đa đảng với các phong trào đối lập của riêng mình.

Vào mùa xuân năm 1990, trình diễn dân chủ và chống Nam Tư liên minh đã giành được cuộc bầu cử tại Slovenia, trong khi các cuộc bầu cử Croatia đã chứng kiến chiến thắng của những người theo chủ nghĩa dân tộc. Các kết quả đã được nhiều cân bằng hơn ở Bosnia và Herzegovina và Macedonia, trong khi các cuộc bầu cử quốc hội và tổng thống ở Serbia và Montenegro hợp nhất sức mạnh của Milošević và những người ủng hộ ông ta. Cuộc bầu cử tự do vào mức độ liên bang đã không bao giờ thực hiện. Thay vào đó, các lãnh đạo Slovenia và Croatia bắt đầu chuẩn bị kế hoạch ly khai khỏi liên bang.

Leo thang căng thẳng sắc tộc và quốc gia đã dẫn tới các cuộc chiến tranh Nam Tư và độc lập của các (liên bang) các đơn vị thành phần, trình tự thời gian:

  • Slovenia (25 tháng 6 năm 1991)
  • Croatia (25 tháng 6 năm 1991)
  • Cộng hòa Macedonia (Ngày 08 tháng 9 năm 1991)
  • Bosnia và Herzegovina (Ngày 01 tháng 3 năm 1992)
  • Serbia và Montenegro (2 công đoàn nhà nước từ 1992-2006). Montenegro tuyên bố độc lập vào ngày 03 tháng 6 năm 2006, trong khi Serbia tuyên bố thừa kế của mình cho các công đoàn như là một nhà nước độc lập vào ngày 05 tháng 6 năm 2006.
  • Kosovo (ngày 17 tháng 2 năm 2008, một phần được công nhận)

Hội nghị thượng đỉnh Malta[sửa | sửa mã nguồn]

Mikhail Gorbachev và Tổng thống Mỹ George Bush trên boong tàu của Liên Xô Maxim Gorky, Marsaxlokk Harbour.

Hội nghị thượng đỉnh Malta bao gồm một cuộc họp giữa Tổng thống Mỹ George HW Bush và nhà lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev, diễn ra khoảng 2-3 tháng mười hai, năm 1989, chỉ một vài tuần sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin, trong đó hai bên chính thức kết thúc chiến tranh lạnh, một phần là kết quả của phong trào ủng hộ dân chủ rộng lớn. Đó là cuộc họp thứ hai của họ sau một cuộc họp trong đó có Tổng thống Ronald Reagan, tại New York vào tháng 12 năm 1988.

Các bản tin vào thời gian này[13] gọi Hội nghị thượng đỉnh Malta là quan trọng nhất kể từ năm 1945, khi Thủ tướng Anh Winston Churchill, thủ tướng Liên Xô Joseph Stalin và Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã nhất trí về một kế hoạch hậu chiến cho châu Âu tại Hội nghị Yalta.

Trình tự thời gian bầu cử ở Đông Âu từ 1989-1991[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa mùa xuân 1989 và mùa xuân 1991, các nước thuộc Liên Xô và đông Âu dần từ bỏ chế độ Xã hội chủ nghĩa. Tại một số nước, Đảng Cộng sản bị giải thể hoặc thậm chí bị cấm hoạt động trong một thời gian. Ở Trung và Đông Âu, kể cả những người đã từng là công dân của nước Liên Xô và Nam Tư cũ, đã tham gia bầu cử nhiều đảng phái lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ. Dưới đây là danh sách các cuộc bầu cử ở Đông Âu sau Các cuộc cách mạng 1989:

Sự sụp đổ của Liên Bang Xô viết[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Liên Xô tan rã
Xe tank tại Quảng trường Đỏ ở Moscow trong cuộc đảo chính năm 1991

Sự suy yếu của chính phủ Xô viết đã dẫn đến một loạt các sự kiện mà cuối cùng gây ra sự tan rã của Liên Xô, một quá trình dần dần diễn ra từ 19 tháng một 1990 tới 31 Tháng 12 Năm 1991. Quá trình này dẫn tới nhiều trong số các nước cộng hòa của Liên Xô tuyên bố độc lập.

Ảnh hưởng của Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Các nước cộng sản và xã hội chủ nghĩa trên thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu là một tổn thất to lớn đối với các quốc gia theo chế độ Cộng sản và Xã hội Chủ nghĩa trên thế giới năm 1991, kéo theo nhiều cuộc biểu tình, bạo động nội chiến trên khắp thế giới, làm kết thúc chiến tranh lạnh, thiết lập một trận tự Thế giới mới. Sau đây là tình hình các nước trên thế giới sau cuộc cách mạng 1989.

Châu Phi[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Algeria – Bạo loạn Tháng Mười 1988, cuộc nổi dậy Hồi giáo ở Algeria 1991, đã buộc nước này phải từ bỏ chế độ độc đảng chuyển sang cuộc bầu cử đa đảng năm 1995.
  • Angola Angola – Chính phủ MPLA cầm quyền đã từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin vào năm 1991 và đồng ý với Hiệp định Bicesse trong cùng năm, tuy nhiên cuộc Nội chiến Angola giữa hai đảng MPLA và UNITA bảo thủ vẫn tiếp tục trong một thập kỷ nữa.
  • Bénin Benin – Chính quyền của Mathieu Kérékou bị áp lực phải từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin vào năm 1989.
  •  Burkina FasoDân chủ hoá năm 1990.
  •  Cape Verde – Đảng cầm quyền châu Phi độc lập của Cape Verde đã cắt giảm hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và viện trợ nước ngoài gây áp lực cho chính phủ để cho phép bầu cử đa đảng vào năm 1991.
  •  ChadDân chủ hoá năm 1991.
  • Cộng hòa Congo Cộng hòa Dân chủ Congo – Chính quyền của Denis Sassou Nguesso bị áp lực phải từ bỏ Chủ nghĩa Mác - Lênin vào năm 1991. Quốc gia này đã có những cuộc bầu cử vào năm 1992 và thành lập Cộng hòa Congo vào năm 1993.
  •  Djibouti – Xảy ra cuộc nội chiến ở Djibouti năm 1991 và dân chủ hoá năm 1992.
  • Ethiopia Cộng hoà dân chủ liên bang Ethiopia – Một hiến pháp mới được thực hiện vào năm 1987, và sau khi Liên Xô và Cuba sụp đổ, chính quyền quân sự Cộng sản Derg do Mengistu Haile Mariam lãnh đạo đã bị đánh bại bởi phe nổi dậy trong cuộc Nội chiến ở Ethiopia và trốn chạy vào năm 1991.
  •  Guinea-BissauDân chủ hoá năm 1991.
  • Madagascar Cộng hoà Madagascar – Chủ tịch nước Chủ nghĩa xã hội, ông Didier Ratsiraka bị lật đổ.
  •  Mali – Chính quyền của Moussa Traoré đã bị lật đổ, Mali thông qua một hiến pháp mới; Tổ chức các cuộc bầu cử đa đảng. Cuộc nổi dậy năm 1990 và cuộc đảo chính năm 1991.
  • Mozambique Mozambique – Cuộc nội chiến ở Mozambiku giữa FRELIMO và các đảng bảo thủ RENAMO đã kết thúc thông qua hiệp định năm 1992. FRELIMO sau đó đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội và với sự ủng hộ của Liên hợp quốc đã tổ chức nhiều cuộc bầu cử.
  •  São Tomé and Príncipe – Phong trào Giải phóng Lao động São Tomé và Príncipe / Đảng Xã hội đã cắt giảm hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và các viện trợ nước ngoài gây áp lực cho chính phủ cho phép bầu cử đa đảng vào năm 1991.
  •  SeychellesDân chủ hoá năm 1991.
  • Somalia SomaliaRebelling Somali đã lật đổ chính quyền quân sự Cộng sản của Siad Barre trong cuộc Cách mạng Somali.
  •  Sudan – Kết thúc triều đại của Đảng Liên minh Dân chủ bằng cuộc đảo chính của Omar al-Bashir năm 1989
  •  Tanzania – Đảng Chama Cha Mapinduzi cầm quyền đã cắt giảm hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và các viện trợ nước ngoài gây áp lực cho chính phủ cho phép bầu cử đa đảng vào năm 1995.
  •  Tunisia – Đổi tên Đảng Cộng sản Tunisia ở Phong trào Ettajdid năm 1993 và đổi tên Đảng Destourian Xã hội Chủ nghĩa trong Cuộc Hiến pháp Lập hiến Dân chủ năm 1988.
  •  Zambia – Đảng Thống nhất Quốc gia đã cắt giảm hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và viện trợ nước ngoài gây áp lực cho chính phủ cho phép bầu cử đa đảng vào năm 1991.

Các nước Trung Đông[sửa | sửa mã nguồn]

  • Afghanistan Afghanistan – Đổi tên thành Cộng hòa Afghanistan năm 1987, chấm dứt sự chiếm đóng Liên Xô và chính quyền Cộng sản dưới quyền Mohammad Najibullah rơi vào tay Mujahideen năm 1992.
  • Iraq Cộng hoà Iraq – Những cuộc nổi dậy năm 1991. Còn lại dưới chế độ Ba'athist của Saddam Hussein cho đến năm 2003 với cuộc xâm lăng của Mỹ lật đổ chế độ của ông.
  • Kuwait Kuwait – Được bổ sung vào Liên bang của Irag vào năm 1990. Sau đó được giải phóng trong Chiến tranh vùng Vịnh.
  • Nhà nước Palestine Palestinian Territories – Tổ chức Giải phóng Palestine đã mất đi một trong những người bảo trợ ngoại giao quan trọng nhất do sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, mối quan hệ thất bại của Arafat với Moscow và mất một chính phủ độc đảng và Tổng thống PFLP-GC của PLO năm 1984.
  •  South Yemen – Cuộc nội chiến Nam Yemen năm 1986; Chủ nghĩa Mác - Lênin bị bỏ rơi năm 1990; Nó được thống nhất với các nhà tư bản Bắc Yemen năm đó, sau đó đã dẫn đến một cuộc nội chiến.
  •  Syria – Đảng Cộng sản Syria đã được chia thành hai đảng vào năm 1986. Syria đã tham dự Hội nghị Madrid năm 1991 và gặp Israel trong cuộc chiến tranh lạnh của ông trong các cuộc đàm phán hòa bình.

Các nước Châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Bangladesh – Mâu thuẫn nội chiến từ năm 1989.
  • Myanmar Myanma – Cuộc nổi dậy 8888 năm 1988 đã chứng kiến sự sụp đổ của Chế độ Xã hội Chủ nghĩa Miến Điện, nhưng thất bại trong việc đưa dân chủ mặc dù chủ nghĩa Mác đã bị bỏ rơi. Nước này được lãnh đạo bởi một chính phủ quân sự thuộc Hội đồng Hoà bình và Phát triển Nhà nước cho đến năm 2011, sau cuộc bầu cử năm 2010 được nhiều nước phương Tây xem là gian lận. Kết thúc cuộc nổi dậy của Cộng sản năm 1989.
  • Campuchia Campuchia Sau cuộc Chiến tranh biên giới Tây Nam, chế độ Kherme đỏ bị lật đổ, Đảng CGDKĐảng dân chủ campuchia, Được chính phủ Việt nam bảo trợ, đã bị mất quyền lực sau cuộc bầu cử do LHQ bảo trợ vào năm 1993, sau đó Đảng CGDK bị giải thể vào năm 1993 và Đảng dân chủ campuchia bị giải thể năm 1992.
  •  Trung Quốc – Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu thực hiện tự do hoá cải cách kinh tế vào cuối những năm 1970 dưới thời Đặng Tiểu Bình.
  •  Ấn Độ –Cải cách kinh tế Ấn Độ đã được đưa ra vào năm 1991. Và Nghị quyết của Đảng Nhân dân Arunachal. Đại hội Rashtriya Samajwadi đã tan rã vào năm 1989, Tình nguyện viên Quốc gia Tripura đã tan rã vào năm 1988 và Công ước Nhân dân Hmar đã tan rã vào năm 1986. Bắt đầu Cuộc nổi dậy tại Jammu và Kashmir năm 1989.
  •  Lào – Còn lại Cộng sản dưới quyền của Đảng Cách mạng Nhân dân Lào. Lào đã buộc phải yêu cầu Pháp và Nhật Bản hỗ trợ khẩn cấp, đồng thời yêu cầu Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á trợ giúp. Cuối cùng, vào năm 1989, Kaisôn đã viếng thăm Bắc Kinh để xác nhận việc khôi phục các mối quan hệ hữu nghị và để bảo đảm viện trợ của Trung Quốc. Ngôi sao màu đỏ và cái búa và lưỡi liềm được lấy ra khỏi đỉnh năm 1991.
  •  Mông Cổ – Cuộc Cách mạng Dân chủ năm 1990 ở Mông Cổ đã chứng kiến một bước đi dần dần để cho phép bầu cử đa đảng tự do và văn bản của hiến pháp mới. Đảng Cách mạng Nhân dân Mông Cổ vẫn giữ đa số trong các cuộc bầu cử năm 1990, nhưng đã thua cuộc bầu cử năm 1996.
  •  Bắc Triều TiênKim Nhật Thành qua đời năm 1994, chuyển quyền lực cho con trai Kim Jong-il. Lũ lụt chưa từng có và sự tan rã của Liên Xô đã dẫn tới nạn đói ở Triều Tiên, dẫn đến cái chết của khoảng 2,5 triệu đến 3 triệu người Triều Tiên. Tư tưởng Chủ nghĩa Mác - Lênin đã được thay thế bởi Tư tưởng chủ thể Juche vào năm 1992.
  •  Sri Lanka1989 Revolt
  •  Vietnam – Đảng cộng sản Việt Nam đã thực hiện chính sách Đổi mới vào năm 1986, Từ nền kinh tế tập chung bao cấp sang nền kinh tế thị trường.

Mỹ Latinh[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Cuba – Sự chấm dứt trợ cấp Liên Xô đã dẫn tới giai đoạn đặc biệt. không thể lựa chọn Đảng lên nắm quyền vào năm 1992. Một cuộc biểu tình không thành công đã được tổ chức vào năm 1994.
  •  NicaraguaDaniel Ortega thua cuộc bầu cử đa đảng vào năm 1990, và Liên minh Đối nghịch Quốc gia thắng.
  •  Suriname – Dân chủ hóa vào năm 1987 và cuộc chiến tranh Guinness của Suriname 1986-1992.

Châu Đại Dương[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Vanuatu – Vanua'aku Pati thua cuộc bầu cử đa đảng vào năm 1991, và Liên hiệp các Đảng Trung bình giành chiến thắng.

Các nước khác[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều đảng chính trị và các nhóm chiến binh trên thế giới do Liên Xô hậu thuẫn đã bị mất phương hướng và mất nguồn tài chính.

  •  Australia –Đảng Cộng sản Úc đã bị giải thể.
  •  Áo – Đảng Cộng sản Áo mất tài trợ của Đông Đức và 250 triệu euro tài sản.
  •  Belgium – Đảng Cộng sản Bỉ được chia thành hai đảng vào năm 1989.
  •  Burundi1996 xảy ra cuộc đảo chính Burundi
  •  Canada - Vào năm 1990, đảng đã được đăng ký và tịch thu tài sản của mình, buộc phải bắt đầu một cuộc chiến chính trị và luật pháp kéo dài mười ba năm nhằm duy trì đăng ký các đảng chính trị nhỏ ở Canada, được gọi là Figueroa v. Canada, do đó thay đổi định nghĩa pháp lý một đảng chính trị ở Canada vào năm 2003 và bây giờ hoạt động mà không cần bất kỳ đại diện chính trị bầu.
  •  Phần Lan – Liên đoàn Dân chủ Nhân dân Phần Lan đã tan rã vào năm 1990 và Đảng Cộng sản Phần Lan bị phá sản sụp đổ vào năm 1992 và hấp thụ vào Liên minh Trái lại.
  •  Pháp – Sự sụp đổ của khối Đông Âu đã gây sốc cho Đảng Cộng sản Pháp. Cuộc khủng hoảng được gọi là đột biến la. Sự kết hợp của Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất với Nửa mới cho Chủ nghĩa xã hội, Sinh thái học và Tự quản lý các Giải pháp Thay thế Đỏ và Xanh vào năm 1989.
  •  Gambia1994 cuộc đảo chính Gambia
  •  Tây Đức – Các Phái Hồng quân mất người ủng hộ lâu dài của nó, Stasi, sau khi bức tường Berlin sụp đổ.[14]
  •  Hy Lạp – Tổ chức Cộng sản Mác-Lênin của Hy Lạp đã tan rã vào năm 1993 và sáp nhập vào Phong Trào cho một Đảng Cộng sản Hy Lạp. Hy Lạp còn lại bị giải thể vào năm 1992.
  •  Ireland – Đảng Cộng sản Ireland đã suy giảm đáng kể. Đảng Dân chủ Xã hội đã bị giải thể.
  •  Italy – Sự sụp đổ này khiến Đảng Cộng sản Ý phải tự cải cách, tạo ra hai nhóm mới, Đảng Dân chủ Phía Tây lớn hơn và Đảng Cộng sản nhỏ hơn. Sự tan rã của Đảng Cộng sản một phần đã dẫn tới những thay đổi sâu sắc trong hệ thống đảng chính trị Ý trong những năm 1992-1994 và Sự sụp đổ của Đảng cấp tiến năm 1989 và Đảng Xã hội Ý vào năm 1994. Sự tan rã của các Lữ đoàn Đỏ vào năm 1988.
  •  JapanĐảng Cộng sản Nhật Bản đã ban hành một tuyên bố có tiêu đề "Chúng tôi hoan nghênh kết thúc của một điều ác lịch sử vĩ đại của chủ nghĩa đế quốc và bá quyền".
  •  Lebanon – Kết thúc cuộc nội chiến
  •  LiberiaCuộc nội chiến ở Liberia đầu tiên
  •  Malaysia – Đảng Cộng sản Malayan đã đặt cánh tay của mình vào năm 1989, chấm dứt một cuộc nổi dậy kéo dài hàng thập kỷ.
  •  Maldives – những thất bại trong cuộc đảo chính năm 1988 Maldives
  •  Mexico – Đảng Cộng sản Mexico và một số đảng Cộng sản khác đã tan rã vào năm 1989 và bị hấp thu vào Đảng XHCN Mexico và sau đó vào Đảng Cách mạng Dân chủ. Và sự sụp đổ của Đảng XHCN vào năm 1989.
  •  Morocco – Kết thúc Chiến tranh Tây Sahara năm 1991.
  • Nepal Nepal – Đảng Cộng sản Nepal (Janamukhi) và Đảng Cộng sản Nepal (Công ước thứ tư) đã được giải thể vào năm 1990.
  •  Hà Lan – Đảng Cộng sản Hà Lan bị giải thể vào năm 1991 và bị sáp nhập vào GreenLeft. Liên đoàn Cộng sản ở Hà Lan đã bị giải thể vào năm 1992.
  •  Niger – cuộc đảo chính vào năm 1996.
  •  Na Uy – Đảng Cộng sản Na Uy đã thay đổi bộ máy thân Nga.
  •  Oman – The Popular Front for the Liberation of Oman was dissolved in 1992.
  •  Peru – The Shining Path, có trách nhiệm giết hàng chục ngàn người, bị thu hẹp trong những năm 1990.
  •  Philippines – Đảng Cộng sản Philippines đã trải qua những lời chỉ trích và những cuộc tranh luận giữa các đảng viên hàng đầu đã dẫn đến việc trục xuất những người ủng hộ "chủ nghĩa cơ hội trái và quyền", đặc biệt là hình thành các phe phái "bác bỏ" và "tái khẳng định". Những người khẳng định chính thống Maoist được gọi là "Reaffirmists", hoặc RA, trong khi những người từ chối các tài liệu được gọi là "Rejectionists" hoặc RJ. Vào tháng 7 năm 1993, Ủy ban Rehiyon of Manila-Rizal (KRMR), một trong những người bác bỏ, tuyên bố quyền tự chủ của nó từ lãnh đạo trung ương. Trong vòng vài tháng, một số các tổ chức và các cơ quan khu vực của Đảng tiếp tục theo kịp, chính thức hoá và làm sâu sắc thêm sự phân ly. Xem tài khoản bên thứ ba toàn diện về sự phân ly ở đây: <http://pcij.org/imag/SpecialReport/left.html>
  •  San Marino – Đảng Cộng sản Sammarinese đã bị giải thể vào năm 1990.
  •  Sierra Leone – Sự khởi đầu của cuộc nội chiến Sierra Leone vào năm 1990 và cuộc đảo chính năm 1992.
  •  Singapore – Xã hội Mặt trận được hòa tan trong năm 1988.
  •  Spain – Đảng Lao động của Đảng Cộng sản Tây Ban Nha đã được giải thể vào năm 1991. Đảng Cộng sản Tây Ban Nha (Mác-Lênin) đã bị giải tán vào năm 1991. Đảng Cộng sản Tây Ban Nha (Mác-Lênin) đã bị giải thể vào năm 1992. Đảng Cộng sản Galicia (nhà cách mạng Marxist) 1989.
  •  Sweden –Hiệp hội Cộng sản Norrköping đã được giải thể vào năm 1990 và Kommunistiska Förbundet Marxist-Leninisterna đã ngừng hoạt động như một đảng toàn quốc. Đảng Kommunisterna, Vänsterpartiet kommunisterna, VPK (Bên trái Đảng Cộng sản), đã bỏ rơi đảng Cộng sản và trở thành đơn giản chỉ là Vänsterpartiet (Bên trái).
  •  Turkey – Đảng Lao động Cộng sản Thổ Nhĩ Kỳ bị chia rẽ.
  •  Anh Quốc – Đảng Cộng sản Anh đã bị giải thể.

Đồng thời, nhiều quốc gia độc tài chống Cộng sản, trước đây được Hoa Kỳ ủng hộ, đã dần dần chứng kiến sự chuyển đổi sang nền dân chủ.

  •  Brazil Đã có cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên từ năm 1960 do những cuộc cải cách bắt đầu vài năm trước đó.
  •  Chile – Chính quyền quân sự dưới thời Augusto Pinochet bị áp lực phải thực hiện các cuộc bầu cử dân chủ, chứng tỏ sự dân chủ hoá của Chilê vào năm 1990. Đảng cánh tả rộng rãi của Đảng Xã hội Cộng hòa Sê ri thành Chile.
  •  Colombia – Hiến pháp bảo thủ năm 1886 đã được huỷ bỏ vào năm 1991. Phong trào 19 tháng Tư, Phong trào Quần đảo Quintin Lame và phần lớn là Quân đội Giải phóng Dân chủ đã bỏ vũ khí và bắt đầu tham gia chính trị.
  •  El Salvador – Cuộc Nội chiến Salvador đã kết thúc vào năm 1992 sau Hiệp định Hòa bình Chapultepec. Phong trào FMLN nổi dậy đã trở thành một đảng chính trị hợp pháp và tham gia vào các cuộc bầu cử tiếp theo.
  •  Guatemala – Cuộc nội chiến ở Guatemala đã kết thúc vào năm 1996 và cuộc nổi dậy Cách mạng Quốc gia Guatemala đã trở thành một đảng hợp pháp.
  •  Panama – Chính quyền Manuel Noriega bị lật đổ bởi cuộc xâm lăng của Hoa Kỳ vào năm 1989 do hậu quả của việc ông ta đàn áp các cuộc bầu cử, các hoạt động buôn bán ma túy và giết một sĩ quan quân đội Mỹ.
  •  Paraguay – Chế độ độc tài của Alfredo Stroessner đã chấm dứt khi ông bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự. Năm 1992, hiến pháp mới của đất nước đã thiết lập một hệ thống chính quyền dân chủ.
  • Philippines Philippines – Cuộc cách mạng vàng vào năm 1986.
  •  Rwanda – Cuộc nội chiến ở Rwanda vào năm 1990.
  •  Hàn Quốc – Các cuộc biểu tình của Phong trào Dân chủ tháng Sáu đã dẫn tới sự sụp đổ của chính phủ Chun Doo-hwan vào năm 1987, và cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên của đất nước. Năm 2000, Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc đã nhất trí về nguyên tắc làm việc để thống nhất hòa bình trong tương lai.
  •  Nam Phi – Các cuộc đàm phán được bắt đầu vào năm 1990 để kết thúc hệ thống Apartheid. Nelson Mandela được bầu làm Tổng thống Nam Phi năm 1994.
  •  Đài Loan – Đảng Quốc Dân Đảng Quốc Dân Đảng đã cai quản dưới luật lệ nghiêm ngặt kể từ khi cuộc nội chiến Trung Quốc kết thúc cải cách dân chủ hóa.
  •  Mỹ – Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Hoa Kỳ đã trở thành siêu cường duy nhất của thế giới. Nó ngừng hỗ trợ nhiều chế độ độc tài quân sự mà nó đã có trong Chiến tranh Lạnh, ép thêm nhiều quốc gia thông qua dân chủ.
  •  Zaire – Nội chiến 1996.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Interesting People: re: A Ridiculous Failure of Critical Infrastructure”. 
  2. ^ See various uses of this term in the following publications. The term is a play on a more widely used term for 1848 revolutions, the Spring of Nations. Also Polish term Jesień Ludów or Jesień Narodów in in Polish language publications.
  3. ^ a ă Sorin AntohiVladimir Tismăneanu, "Independence Reborn and the Demons of the Velvet Revolution" in Between Past and Future: The Revolutions of 1989 and Their Aftermath, Central European University Press. ISBN 963-9116-71-8. p.85.
  4. ^ Boyes, Roger (ngày 4 tháng 6 năm 2009). “World Agenda: 20 years later, Poland can lead eastern Europe once again”. The Times (UK). Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2009. 
  5. ^ Adam Roberts, Civil Resistance in the East European and Soviet Revolutions, Albert Einstein Institution, 1991. ISBN 1-880813-04-1. Available as pdf from: http://www.aeinstein.org/organizationse3a7.html.
  6. ^ a ă Piotr Sztompka, preface to Society in Action: the Theory of Social Becoming, University of Chicago Press. ISBN 0-226-78815-6. p. x.
  7. ^ “Đảng cộng sản Liên Xô sụp đổ vì xa rời quần chúng”. VietNamNet. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015. 
  8. ^ Flora Lewis (1987). Europe: A Tapestry of Nations. USA: Simon and Schuster. p. 364. ISBN 0-671-44018-7.
  9. ^ a ă Laqueur, Walter (1996). The Dream that Failed: Reflections on the Soviet Union. USA: Oxford University Press. pp. 187–191. ISBN 0-19-510282-7.
  10. ^ Knopf, Jeffrey W. (August 2004). "Did Reagan Win the Cold War?". Strategic Insights, Volume III, Issue 8. Center for Contemporary Conflict at the Naval Postgraduate School. http://www.ccc.nps.navy.mil/si/2004/aug/knopfAUG04.asp. Truy cập 2006-04-19.
  11. ^ Owens, Mackubin Thomas (ngày 5 tháng 6 năm 2004). "The Reagan of History: Reflections on the death of Ronald Reagan.". National Review Online. http://www.nationalreview.com/owens/owens200406051832.asp. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006
  12. ^ Boyes, Roger (ngày 4 tháng 6 năm 2009). [/tol/news/world/world_agenda/article6430833.ece “World Agenda: 20 years later, Poland can lead eastern Europe once again”] Kiểm tra giao thức |url= (trợ giúp). The Times (London). Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2009. 
  13. ^ “1989: Malta Summit Ends Cold War". News. BBC. 3 December 1989. Retrieved 23 February 2015.”. 
  14. ^ Schmeidel, John. "My Enemy's Enemy: Twenty Years of Co-operation between West Deutschland's Red Army Faction and the GDR Ministry for State Security." Intelligence and National Security 8, no. 4 (October 1993): 59–72.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]