Nicolas Pépé

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nicolas Pépé
Nicolas Pepe LOSC.jpg
Pépé trong màu áo Lille năm 2019
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Nicolas Pépé[1]
Ngày sinh 29 tháng 5, 1995 (27 tuổi)
Nơi sinh Mantes-la-Jolie, Pháp
Chiều cao 1,83 m[2]
Vị trí Tiền đạo cánh / Tiền đạo cắm / Tiền đạo lùi
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Arsenal
Số áo 19
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Solitaire Paris Est
Poitiers
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2012–2013 Poitiers 9 (2)
2013–2015 Angers II 41 (9)
2013–2017 Angers 40 (3)
2015–2016Orléans (mượn) 29 (7)
2017–2019 Lille 74 (35)
2019– Arsenal 52 (10)
Đội tuyển quốc gia
2016– Bờ Biển Ngà 32 (8)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia và chính xác tính đến 21 tháng 3 năm 2021
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia chính xác tính đến 26 tháng 1 năm 2022

Nicolas Pépé (sinh ngày 29 tháng 5 năm 1995) là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp chơi ở vị trí chạy cánh cho câu lạc bộ Arsenal tại Premier Leagueđội tuyển Bờ Biển Ngà.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Poitiers FC[sửa | sửa mã nguồn]

Pépé sinh ra ở Mantes-la-Jolie,Pháp. Anh bắt đầu sự nghiệp của mình ở vị trí thủ môn cho đội bóng địa phương Solitaire Paris Est cho đến khi anh 14 tuổi.Anh gia nhập Poitiers FC sau khi cha anh,một cai ngục chuyển đến Poitiers

Angers[sửa | sửa mã nguồn]

Anh ký hợp đồng với Angers SCO vào năm 2013

Anh có trận ra mắt chuyên nghiệp ở vòng hai Coupe de la Ligue trong trận thua 2-1 trên sân nhà trước Arles-Avignon vào ngày 26 tháng 8 năm 2014,khi vào thay Yohann Eudeline ở phút 73.Vào ngày 21 tháng 11 năm 2014,anh có trận đấu đầu tiên tại Ligue 2 trong trận hòa 1-1 trước Ajaccio.Mùa giải 2015-2016 Pépé được cho mượn tại Orléans đội bóng đang chơi tại Championnat National và giúp đội thăng hạng lên Ligue 2.Anh trở lại khoác áo Angers chơi ở Ligue 1 và lọt vào Chung kết Coupe de France 2017,nơi đội bóng của anh thất bại với tỷ số 1-0 trước Paris Saint-Germain

Lille[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 21 tháng 6 năm 2017, Pépé đã ký vào bản hợp đồng có thời hạn 5 năm với Lille , với mức phí chuyển nhượng là 10 triệu euro

Trong suốt mùa giải Ligue 1 2017–18 ,anh ra sân 36 trận và ghi 13 bàn

Anh kết thúc mùa giải 2018–19 Ligue 1 với 22 bàn thắng và 11 pha kiến ​​tạo,chỉ đứng sau Kylian Mbappé của PSG, và được xướng tên trong Đội UNFP của năm

Arsenal[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 1 tháng 8 năm 2019,Arsenal chính thức chiêu mộ thành công Nicolas Pepe từ Lille với mức giá 72 triệu bảng.Biến anh trở thành bản hợp đồng chuyển nhượng kỷ lục trong lịch sử đội bóng.Pépé có trận ra mắt Arsenal trong chiến thắng 1–0 trước Newcastle United vào ngày 11 tháng 8, khi vào sân thay Reiss Nelson ở phút 71. Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho Arsenal từ chấm phạt đền trong chiến thắng 3–2 trước Aston Villa vào ngày 22 tháng 9.Vào ngày 1 tháng 8 năm 2020, anh chơi cả 90 phút trong trận Chung kết FA Cup với Chelsea để giành chiếc cúp với tư cách là cầu thủ Arsenal

Vào ngày 22 tháng 11 năm 2020, Pépé nhận thẻ đỏ đầu tiên trong sự nghiệp trong trận hòa 0–0 trên sân khách trước Leeds United sau khi va chạm với Ezgjan Alioski ở phút 51

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Pépé sinh ra tại Pháp trong gia đình có nguồn gốc Bờ Biển Ngà. Anh được triệu tập vào đội tuyển Bờ Biển Ngà tháng 11 năm 2016, trong trận đấu trên sân của Maroc tại in vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 vào ngày 12 tháng 11. Trận này anh ngồi trên ghế dự bị và không được vào sân[3] Ba ngày sau, anh ra sân lần đầu cho đội tuyển trong trận giao hữu với Pháp trên sân vận động Bollaert-Delelis tại Lens, vào sân thay người 4 phút cuối trận thay cho Max-Alain Gradel.[4]

Pépé được huấn luyện viên Michel Dussuyer gọi vào đội hình 23 cầu thủ tham dự cúp bóng đá châu Phi 2017 tại Gabon, nhưng không được thi đấu trận nào khi những chú voi (biệt danh của đội tuyển Bờ Biển Ngà) bị loại từ vòng bảng vì chỉ xếp thứ 3.[5]

Ngày 24 tháng 3 năm 2018, trong trận giao hữu với Togo tại Pháp, Pépé ghi bàn đầu tiên cho đội tuyển trong trận hòa 2–2.[6] Anh ghi bàn thứ 2 cho đội tuyển 3 ngày sau trong trận thắng 2–1 trước Moldova cũng tại sân này.[7]

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Pépé được biết đến là một cầu thủ chạy cánh nhanh nhẹn và kỹ thuật, thi đấu tốt ở cả hai cánh, nhưng thường chơi ở cánh phải, chạy cắt mặt vào trong và dứt điểm bằng chân trái. Anh cũng từng được cựu huấn luyện viên Marcelo Bielsa của Lille OSC sử dụng như một tiền đạo.[8][9]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 21 tháng 3 năm 2021.[1][10]
Câu lạc bộ Mùa giải Vô địch quốc gia Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Cúp châu lục Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn
Angers 2014–15 Ligue 2 7 0 1 0 8 0
2016–17 Ligue 1 33 3 5 0 1 0 39 3
Tổng cộng 40 3 5 0 2 0 47 3
Orléans (mượn) 2015–16 Championnat National 29 7 2 1 1 0 32 8
Lille 2017–18 Ligue 1 36 13 2 1 38 14
2018–19 38 22 2 1 1 0 41 23
Tổng cộng 74 35 4 2 1 0 79 37
Arsenal 2019–20 Premier League 31 5 5 1 0 0 6 2 42 8
2020–21 21 5 2 0 3 0 9 3 0 0 35 8
Tổng cộng 52 10 7 1 3 0 15 5 0 0 77 16
Tổng cộng sự nghiệp 194 55 19 4 7 0 15 5 0 0 235 64

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 26 tháng 1 năm 2022[11]
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Số bàn
Bờ Biển Ngà 2016 1 0
2017 5 0
2018 4 3
2019 9 2
2020 6 0
2021 4 1
2022 4 2
Tổng cộng 32 8

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tỷ số của Bờ Biển Ngà viết trước.[11]
STT Ngày Sân Đối thủ Bàn thắng Kết quả Khuôn khổ
1. 24 tháng 3 năm 2018 Sân vận động Pierre Brisson, Beauvais, Pháp  Togo 1–0 2–2 Giao hữu
2. 2–0
3. 27 tháng 3 năm 2018  Moldova 2–1
4. 23 tháng 3 năm 2019 Sân vận động Félix Houphouët-Boigny, Abidjan, Bờ Biển Ngà  Rwanda 1–0 3–0 Vòng loại CAN 2019
5. 13 tháng 10 năm 2019 Sân vận động Licorne, Amiens, Pháp  CHDC Congo 2–0 3–1 Giao hữu
6. 11 tháng 10 năm 2021 Sân vận động Hữu nghị, Cotonou, Bénin  Malawi 1–0 2–1 Vòng loại World Cup 2022
7 16 tháng 1 năm 2022 Sân vận động Japoma, Douala, Cameroon  Sierra Leone 2–1 2–2 CAN 2021
8 20 tháng 1 năm 2022  Algérie 3–0 3–1

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Nicolas Pépé tại Soccerway
  2. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2019.
  3. ^ “Morocco 0–0 Côte d'Ivoire”. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018.
  4. ^ “Friendlies 2014-16 - France-Ivory Coast – UEFA.com”. UEFA. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018.
  5. ^ “Afcon 2017: Wilfried Zaha in Ivory Coast's final squad”. BBC Sport. ngày 4 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2019.
  6. ^ “Togo/Cote d'Ivoire: Amical - La difficile semaine des eléphants” [Togo/Ivory Coast: Friendly - The Elephants' difficult week] (bằng tiếng Pháp). All Africa. ngày 26 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2019.
  7. ^ “Amical - La Côte d'Ivoire l'a emporté sur la Moldavie” [Friendly - The Ivory Coast swept past Moldova] (bằng tiếng Pháp). Made in Foot. ngày 28 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2019.
  8. ^ “Nicolas Pepe: All you need to know about Lille star linked with Arsenal”. Sky Sports. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2019.
  9. ^ “Love at First Sight: How Nicolas Pepe Sent Europe's Top Clubs Weak at the Knees”. Sky Sports. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2019.
  10. ^ “Nicolas Pépé”. ogol. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2019.
  11. ^ a b “Nicolas Pépé”. National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2019.
  12. ^ “TROPHÉES UNFP 2019: LE PALMARÈS COMPLET”. LFP. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019.
  13. ^ “Prix Marc-Vivien Foé 2019: le Lillois Nicolas Pépé plébiscité”. RFI (bằng tiếng Pháp). ngày 19 tháng 5 năm 2019.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]