Bước tới nội dung

Oát Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Hoàn Nhan Tông Cán (giản thể: 完颜宗干; phồn thể: 完顏宗幹; bính âm: Wányán Zōnggān, ?-17/6/1141), tên Nữ ChânOát Bổn (斡本) là trưởng tử của Kim Thái Tổ Hoàn Nhan A Cốt Đả, là dưỡng phụ của Kim Hi Tông Hoàn Nhan Hiệp Lạt, là sinh phụ của Kim Hải Lăng Vương Hoàn Nhan Lượng.

Tiểu sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn Nhan Tông Can sinh ra tại Hội Ninh phủ, Thượng Kinh (nay thuộc khu tự trị Cáp Nhĩ Tân, tỉnh Hắc Long Giang), là con trai đầu của Kim Thái Tổ, sinh mẫu là Quang Ý Hoàng hậu Bùi Mãn thị (裴滿氏) - một trong những Thứ Hoàng hậu của ông. Năm sinh của ông không được ghi chép, vì em trai ông là Ngoa Lý Đóa sinh năm 1096 nên ông có lẽ được sinh ra trước đó vài năm.

Kim Thái Tông đăng cơ, được phong Bột cực liệt, Thái phó, cùng Hoàn Nhan Tông Hàn quản lý Tam tỉnh, đến năm 1139 lại phong Lương Tống Quốc vương (梁宋国王), được miễn hành lễ và đặc cách ban kiệu để di chuyển trong cung.

Tháng 5 năm Hoàng Thống thứ nhất thì mất, Kim Hi Tông đích thân đến phủ khóc tang, ban bố nghỉ triều bảy ngày[1].

Sau khi con trai ông là Hải Lăng Vương kế vị, ngày Ất Hợi tháng 12 năm Thiên Đức thứ 1 (27/1/1150), được truy thụy hiệu là Hiến Cổ Hoằng Đạo Văn Chiêu Vũ Liệt Chương Hiếu Duệ Minh Hoàng đế (憲古弘道文昭武烈章孝睿明皇帝), truy miếu hiệu là Đức Tông (德宗). Sau khi Hải Lăng Vương bị giết hai năm, tức năm Đại Định thứ 2 (1162) dưới thời Kim Thế Tông, miếu hiệu bị loại bỏ, thụy hiệu cải thành Minh Túc Hoàng đế (明肅皇帝). Năm Đại Định thứ 22 (1182), do con trai của Hải Lăng Vương hai năm trước bị phế thành dân thường, nên ngay cả thụy hiệu cũng bị mất. Đến năm Minh Xương thứ 4 (1193) dưới thời Kim Chương Tông, được phối hưởng tại Thái Miếu.

Gia quyến

[sửa | sửa mã nguồn]

Thê thiếp

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Chính phi Đồ Đan thị (徒单氏, 1109 - 1161), con gái Đồ Đan Bồ Đái (徒单蒲带), không con. Năm Thiên Đức thứ 2 (1150) tôn vị Hoàng thái hậu, cư ngụ Vĩnh Thọ cung. Bị tỳ nữ Cao Phúc Nương vu cáo âm mưu phản loạn nên bị Hoàn Nhan Lượng bí mật thắt cổ chết, về sau Kim Thế Tông truy phong Ai Hoàng hậu (哀皇后). Hoàn Nhan Lượng bị phế, cải thành Liêu vương phi (辽王妃)[2].
  • Thứ phi :
    • Đại thị (大氏, ? - 4/1153), con gái tặng Thái úy Đại Hạo Thiên (大昊天), sinh Hoàn Nhan Lượng, Hoàn Nhan Tương, Khánh Nghi công chúa và Bình Dương công chúa[3]. Năm Thiên Đức thứ 2 (1150) tôn vị Hoàng thái hậu, cư ngụ Vĩnh Ninh cung. Qua đời truy phong Từ Hiển Hoàng hậu (慈憲皇后), sau Kim Thế Tông giáng làm Hải Tây Thái phi (海陵太妃) rồi Liêu vương Phu nhân (遼王夫人).
    • Lý thị (李氏), sinh Hoàn Nhan Sung.
    • Lý thị (李氏), phong Thuận phi (顺妃), sau bị giáng làm Liêu vương Phu nhân (遼王夫人).
    • Tiêu thị (萧氏), phong Ninh phi (宁妃), sau bị giáng làm Liêu vương Phu nhân (遼王夫人).
    • Đồ Đan thị (徒单氏), phong Văn phi (文妃), sau bị giáng làm Liêu vương Phu nhân (遼王夫人).
  • Hoàn Nhan Sung (完顏充, ? - 1149), phong Truy quốc công (淄国公), sau thăng Đại vương (代王), khi mất tặng Trịnh vương (郑王).
  • Hoàn Nhan Lượng (完顏亮)
  • Hoàn Nhan Duyện (完顏兗, 1122 - 1153), mẹ không rõ, nhậm Tư đồ, Thái úy, Xu mật sứ, qua đời tặng tước Vương.
  • Hoàn Nhan Tương (完顏襄), phong Vệ vương (卫王), sau Kim Thế Tông giáng làm Ngân thanh quang lộc đại phu.
  • Hoàn Nhan Cổn (完顏袞, 1122 - 1153), mẹ không rõ, bị Hoàn Nhan Lượng xử tử[4].
  • Hoàn Nhan Địch Bát (完顏迪缽), phong Liêu quốc Trưởng công chúa (遼國長公主), lấy Sở quốc công Bồ Sát Á Hổ Điệt (蒲察阿虎迭). Có một con gái là Bồ Sát Xoa Cát (蒲察叉察) về sau là một Thứ phi không chính thức của chú là Hoàn Nhan Lượng.
  • Hoàn Nhan Thôi Ca (完顏崔哥), phong Đặng quốc Trưởng công chúa (鄧國長公主), sau khi chị gái qua đời thì trở thành kế thất của Á Hổ Điệt.
  • Tam nữ, phong Khánh Nghi Công chúa (慶宜公主), sau khi hai chị gái qua đời thì trở thành kế thất của Á Hổ Điệt. Có con trai là Bồ Sát Đỉnh Thọ (蒲察鼎壽) lấy con gái Kim Hi TôngTrịnh quốc Công chúa (郑国公主), sinh ra Khâm Hoài Hoàng hậu của Kim Chương Tông.
  • Tứ nữ (1121 - 1182), phong Bình Dương Trưởng công chúa (平阳长公主), sau bị giáng làm Vĩnh Bình Huyện chúa (永平县主) , lấy Đồ Đan Trinh (徒单贞), có con gái là Hiếu Ý Hoàng hậu, chính cung của Hoàn Nhan Tông Vọng. Đồ Đan Trinh bị xử tử, Huyện chúa cũng bị ép tự sát, sau Kim Chương Tông lên ngôi tặng Lương quốc Công chúa (梁国公主).
  • Ngũ nữ, ban đầu được phong Công chúa (không rõ phong hiệu), sau bị giáng làm Gia Tường Huyện chúa (嘉祥县主), lấy Đồ Đan Khắc Ninh (徒单克宁).

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ 此为《金史·熙宗本记》的说法。《金史·宗幹传》里是「朕幼冲時,太師有保傅之力,安得不哭。」
  2. ^ Kim sử, tập 1.
  3. ^ 《金史·卷一百三十二·列传第七十◎逆臣》徒单贞......贞娶辽王宗干女,海陵同母女弟也......海陵数之曰:“......朕念慈宪太后子四人,惟朕与公主在,而京等皆近属,曲贷死罪。”
  4. ^ 周峰. 占卜与金代政治. 《辽金历史与考古国际学术研讨会论文集》(下). 辽宁教育出版社. 2012-11-28 [2013-01-04] (中文(简体)).
  • 《金史·熙宗本記》
  • 《金史·宗幹傳》