Ornithine

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Bản mẫu:Sm-Ornithine
L-Ornithin2.svg
Ornithine ball-and-stick.png
Danh pháp IUPACBản mẫu:Sm-Ornithine
Tên khác(+)-(S)-2,5-Diaminovaleric acid
(+)-(S)-2,5-Diaminopentanoic acid
Nhận dạng
Số CAS70-26-8
PubChem389
Ngân hàng dược phẩmDB00129
KEGGD08302
MeSHOrnithine
ChEBI15729
Ảnh Jmol-3Dảnh
SMILES
InChI
Thuộc tính
Công thức phân tửC5H12N2O2
Khối lượng mol132.16 g/mol
Điểm nóng chảy 140 °C (413 K; 284 °F)
Điểm sôi
Độ hòa tan trong nướcsoluble
Độ hòa tanhòa tan trong ethanol
Độ axit (pKa)1.94
SpecRotation+11.5 (H2O, c = 6.5)
Các nguy hiểm
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
KhôngN kiểm chứng (cái gì ☑YKhôngN ?)

Ornithine là một axit amin không tạo protein có vai trò trong chu trình urê. Ornithine được tích lũy bất thường trong cơ thể trong tình trạng thiếu hụt ornithine transcarbamylase. Các gốcornithyl.

Vai trò trong chu trình urê[sửa | sửa mã nguồn]

  l-Ornithine là một trong những sản phẩm hoạt động của enzyme arginase trên l  - arginine, tạo urê. Do đó, ornithine là một phần trung tâm của chu trình urê, cho phép thải nitơ dư thừa. Ornithine được tái chế và, theo một cách nào đó, là một chất xúc tác. Đầu tiên, amoniac được chuyển thành carbamoyl phosphate (H
2
NC(O)OPO2−
3
). Ornithine được chuyển đổi thành một dẫn xuất urê tại nitơ terminal (cực cuối) bởi carbamoyl phosphate synthetase. Một nitơ khác được thêm vào từ aspartate, tạo ra fumarate khử nitơ và arginine (một hợp chất guanidinium) được thủy phân trở lại ornithine, tạo ra urê. Nitrogen của urê đến từ amoniac và aspartate, và nitơ trong ornithine vẫn còn nguyên.

Ornithine không phải là một axit amin được mã hóa bởi DNA, nghĩa là không tạo protein. Tuy nhiên, trong các mô không phải của động vật có vú, việc sử dụng chính của chu trình urê là trong sinh tổng hợp arginine, vì vậy, như một chất trung gian trong các quá trình trao đổi chất, ornithine khá quan trọng.[1]

Phản ứng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ornithine, thông qua hoạt động của ornithine decarboxylase (EC 4.1.1.17), là điểm khởi đầu cho quá trình tổng hợp các polyamines như putrescine.

Ở vi khuẩn, chẳng hạn như E. coli, ornithine có thể được tổng hợp từ l-glutamate.[2]

Ornithine cho con bú

Nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Mệt mỏi do gắng sức[sửa | sửa mã nguồn]

-Bổ sung thuốc giảm mệt mỏi ở các đối tượng trong một nghiên cứu kiểm soát giả dược bằng cách sử dụng máy đo chu kỳ. Kết quả cho thấy l -ornithine có tác dụng chống mệt mỏi trong việc tăng hiệu quả tiêu thụ năng lượng và thúc đẩy bài tiết amoniac.[3][4]

Bổ sung cử tạ[sửa | sửa mã nguồn]

Bổ sung axit amin, bao gồm l -ornithine, thường được bán cho người tập thể hình và người tập tạ với tuyên bố tăng mức độ hormone tăng trưởng của con người (HGH), khối lượng cơ bắp và sức mạnh. Một nghiên cứu lâm sàng báo cáo rằng L-ornithine ở mức 2 g / ngày không làm tăng HGH.[5] Một đánh giá về chủ đề đã kết luận "Việc sử dụng các axit amin cụ thể để kích thích giải phóng GH của các vận động viên không được khuyến khích." [6]

Xơ gan[sửa | sửa mã nguồn]

 <span typeof="mw:Transclusion" data-mw="{&quot;parts&quot;:[{&quot;template&quot;:{&quot;target&quot;:{&quot;wt&quot;:&quot;Chữ hoa nhỏ&quot;,&quot;href&quot;:&quot;./Bản mẫu:Chữ hoa nhỏ&quot;},&quot;params&quot;:{&quot;1&quot;:{&quot;wt&quot;:&quot;l&quot;}},&quot;i&quot;:0}}]}" data-cx="[{&quot;adapted&quot;:true,&quot;partial&quot;:false,&quot;targetExists&quot;:true}]" about="#mwt891156139" data-ve-no-generated-contents="true" id="mwUA" rel="mw-deduplicated-inline-style"></span> -Ornithine <span about="#mwt25" data-cx="[{&quot;adapted&quot;:true,&quot;partial&quot;:false,&quot;targetExists&quot;:true}]" data-mw="{&quot;parts&quot;:[{&quot;template&quot;:{&quot;target&quot;:{&quot;wt&quot;:&quot;Chữ hoa nhỏ&quot;,&quot;href&quot;:&quot;./Bản mẫu:Chữ hoa nhỏ&quot;},&quot;params&quot;:{&quot;1&quot;:{&quot;wt&quot;:&quot;l&quot;}},&quot;i&quot;:0}}]}" data-ve-no-generated-contents="true" id="mwUA" rel="mw-deduplicated-inline-style" typeof="mw:Transclusion"> </span>  -aspartate (Lola), một loại muối ổn định của ornithine và axit aspartic, đã được sử dụng trong điều trị xơ gan.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Weber AL, Miller SL (1981). “Reasons for the occurrence of the twenty coded protein amino acids” (PDF). Journal of Molecular Evolution 17 (5): 273–84. PMID 7277510. doi:10.1007/BF01795749. 
  2. ^ “Ornithine Biosynthesis”. School of Biological and Chemical Sciences, Queen Mary, University of London. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2007. 
  3. ^ Sugino T, Shirai T, Kajimoto Y, Kajimoto O (tháng 11 năm 2008). “L-ornithine supplementation attenuates physical fatigue in healthy volunteers by modulating lipid and amino acid metabolism”. Nutrition Research 28 (11): 738–43. PMID 19083482. doi:10.1016/j.nutres.2008.08.008. 
  4. ^ Demura S, Yamada T, Yamaji S, Komatsu M, Morishita K (tháng 10 năm 2010). “The effect of L-ornithine hydrochloride ingestion on performance during incremental exhaustive ergometer bicycle exercise and ammonia metabolism during and after exercise”. European Journal of Clinical Nutrition 64 (10): 1166–71. PMID 20717126. doi:10.1038/ejcn.2010.149. 
  5. ^ Fogelholm GM, Näveri HK, Kiilavuori KT, Härkönen MH (tháng 9 năm 1993). “Low-dose amino acid supplementation: no effects on serum human growth hormone and insulin in male weightlifters”. International Journal of Sport Nutrition 3 (3): 290–7. PMID 8220394. doi:10.1123/ijsn.3.3.290. 
  6. ^ Chromiak JA, Antonio J (2002). “Use of amino acids as growth hormone-releasing agents by athletes”. Nutrition 18 (7–8): 657–61. PMID 12093449. doi:10.1016/s0899-9007(02)00807-9. 
  7. ^ Sikorska H, Cianciara J, Wiercińska-Drapało A (tháng 6 năm 2010). “[Physiological functions of L-ornithine and L-aspartate in the body and the efficacy of administration of L-ornithine-L-aspartate in conditions of relative deficiency]”. Polski Merkuriusz Lekarski 28 (168): 490–5. PMID 20642112.