Ousmane Dembélé
|
Dembélé trong màu áo đội tuyển Pháp tại FIFA World Cup 2018 | ||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | ||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Masour Ousmane Dembélé[1] | |||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 15 tháng 5, 1997 [2] | |||||||||||||||||||
| Nơi sinh | Vernon, Pháp | |||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,78 m (5 ft 10 in)[3] | |||||||||||||||||||
| Vị trí | Tiền đạo | |||||||||||||||||||
| Thông tin đội | ||||||||||||||||||||
Đội hiện nay | Paris Saint-Germain | |||||||||||||||||||
| Số áo | 10 | |||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | ||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | |||||||||||||||||||
| 2004–2009 | Madeleine Évreux | |||||||||||||||||||
| 2009–2010 | Évreux | |||||||||||||||||||
| 2010–2015 | Rennes | |||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | ||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | |||||||||||||||||
| 2014–2015 | Rennes II | 22 | (13) | |||||||||||||||||
| 2015–2016 | Rennes | 26 | (12) | |||||||||||||||||
| 2016–2017 | Borussia Dortmund | 32 | (6) | |||||||||||||||||
| 2017–2023 | Barcelona | 127 | (24) | |||||||||||||||||
| 2023– | Paris Saint-Germain | 58 | (26) | |||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | ||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | |||||||||||||||||
| 2013–2014 | U-17 Pháp | 8 | (4) | |||||||||||||||||
| 2014–2015 | U-18 Pháp | 5 | (0) | |||||||||||||||||
| 2015 | U-19 Pháp | 3 | (1) | |||||||||||||||||
| 2016–2018 | U-21 Pháp | 4 | (0) | |||||||||||||||||
| 2016– | Pháp | 57 | (7) | |||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| ||||||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 30 tháng 8 năm 2025 ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 5 tháng 9 năm 2025 | ||||||||||||||||||||
Masour Ousmane Dembélé (phát âm tiếng Pháp: [masuʁ usman dɛmbele]; sinh ngày 15 tháng 5 năm 1997) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Pháp hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Paris Saint-Germain tại Ligue 1 và đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp. Nổi tiếng nhờ lối chơi giàu kỹ thuật, tốc độ và khả năng dứt điểm tốt, anh được đánh giá là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất thế giới trong thế hệ của mình.[4][5][6]
Dembélé bắt đầu sự nghiệp của mình tại Rennes trước khi gia nhập Borussia Dortmund vào năm 2016. Anh đã giành được DFB-Pokal cùng với Dortmund trong mùa giải 2016–17, ghi một bàn thắng trong trận chung kết. Tháng 8 năm 2017, anh chuyển đến Barcelona với phí chuyển nhượng 105 triệu euro, qua đó cùng với Paul Pogba trở thành cầu thủ có giá chuyển nhượng cao nhất thế giới vào thời điểm đó. Dembélé giành được nhiều danh hiệu quốc nội tại Barcelona, bao gồm ba chức vô địch La Liga, hai chức vô địch Copa del Rey, và hai chức vô địch Siêu cúp Tây Ban Nha.
Năm 2023, Dembélé hồi hương để khoác áo cho Paris Saint-Germain với mức phí chuyển nhượng 50,4 triệu euro. Mùa giải 2024–25, anh đã có sự hồi sinh mạnh mẽ khi ghi được 33 bàn thắng và đóng góp 15 pha kiến tạo sau 49 lần ra sân, giúp đội bóng giành cú ăn ba châu lục. Anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Ligue 1 và Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải của UEFA Champions League, kết thúc mùa giải với tư cách là Vua phá lưới của Ligue 1 và giành giải Quả bóng vàng châu Âu 2025, qua đó giúp anh trở thành cầu thủ thứ mười trong lịch sử bóng đá giành được ba danh hiệu danh giá nhất trong sự nghiệp của một cầu thủ gồm UEFA Champions League, Ballon d'Or và FIFA World Cup.[7]
Sau khi ra sân 20 lần và ghi được 5 bàn thắng ở các cấp độ trẻ, Dembélé đã có trận ra mắt chuyên nghiệp cho đội tuyển Pháp vào năm 2016. Anh là thành viên của đội tuyển Pháp vô địch FIFA World Cup 2018, đồng thời đại diện cho đất nước tham dự các giải đấu lớn gồm UEFA Euro 2020, FIFA World Cup 2022 (giành ngôi á quân) và UEFA Euro 2024.
Đầu đời
[sửa | sửa mã nguồn]Dembélé sinh ra tại Vernon, một thị trấn thuộc thung lũng sông Seine, trong một gia đình nhập cư gốc Phi. Cha anh đến từ Mali, trong khi mẹ mang quốc tịch Sénégal.[8] Anh bắt đầu sự nghiệp bóng đá của mình tại thành phố Évreux gần nhà, đầu tiên là ở ALM Évreux và sau đó là Évreux FC 27 trong độ tuổi từ 12 đến 13.[9][10]
Sự nghiệp câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn]Rennes
[sửa | sửa mã nguồn]Dembélé có màn ra mắt ở cấp độ chuyên nghiệp cho đội dự bị của Rennes tại Championnat de France Amateur vào ngày 6 tháng 9 năm 2014 khi vào sân thay người ở phút thứ 78 cho Zana Allée. Anh đã có pha kiến tạo cho Alseny Kourouma ghi bàn thứ hai trong chiến thắng 2–0 trên sân nhà trước đội dự bị của đối thủ cùng vùng Bretagne là Guingamp.[11] Vào ngày 9 tháng 11, anh ghi bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp, một lần nữa vào sân từ băng ghế dự bị trong trận đấu tại Stade de la Piverdière, lần này là trước đội dự bị của Laval.[12] Anh ghi tổng cộng 13 bàn sau 18 trận trong mùa giải đầu tiên của mình, bao gồm hat-trick vào ngày 16 tháng 5 năm 2015 trong chiến thắng 6–1 trước Hérouville.[13]
Vào ngày 6 tháng 11 năm 2015, Dembélé có màn ra mắt chuyên nghiệp cho đội một của Rennes ở Ligue 1 trước Angers, vào sân thay Kamil Grosicki trong năm phút cuối trận.[14] Vào ngày 22 tháng 11, anh ghi bàn thắng đầu tiên tại Ligue 1 cho đội một trước Bordeaux, mở tỷ số trong trận hòa 2–2 tại Roazhon Park.[15] Vào ngày 9 tháng 1 năm 2016, Dembélé giúp đội bóng lội ngược dòng từ tỷ số 0–2 để hòa 2–2 trước kình địch cùng khu vực Lorient trên sân nhà.[16] Vào ngày 6 tháng 3, anh ghi hat-trick đầu tiên tại Ligue 1 trong chiến thắng 4–1 trước Nantes tại Derby Breton.[17] Ngày 19 tháng 3, pha ghi bàn của anh trong trận thắng Marseille 5-2 giúp anh trở thành cầu thủ trẻ nhất trong lịch sử Ligue 1 đạt đến cột mốc 10 bàn thắng.[18]
Trong mùa giải 2015-16, Dembélé ghi được 12 bàn thắng và có năm kiến tạo, giành được hai phần thưởng cá nhân là Cầu thủ xuất sắc nhất tháng 3/2016 và Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất mùa giải của Ligue 1.[19][20] Giám đốc thể thao Mikaël Silvestre của Rennes đã so sánh Dembélé với Cristiano Ronaldo, người mà ông đã thấy khi đến Manchester United cùng độ tuổi.[9]
Borussia Dortmund
[sửa | sửa mã nguồn]
Vào ngày 12 tháng 5 năm 2016, Dembélé ký hợp đồng 5 năm với câu lạc bộ Đức Borussia Dortmund, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 cùng năm.[21] Ngày 14 tháng 8 năm 2016, Dembélé có trận đấu đầu tiên cho Dortmund trong trận thua 2–0 trước Bayern München tại Siêu cúp Đức 2016.[22] Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho Dortmund vào ngày 20 tháng 9, trong cuộc chạm trán tại Bundesliga với VfL Wolfsburg, mà Dortmund đã thắng 5–1 tại sân khách Volkswagen Arena.[23] Ngày 22 tháng 11 năm 2016, anh ghi bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp của mình tại UEFA Champions League khi Dortmund đánh bại Legia Warsaw với tỉ số 8–4. Trong trận này, anh còn có ba đường chuyền thành bàn.[24] Tháng 12 năm 2016, Liên đoàn bóng đá Châu Âu UEFA công bố đội hình những gương mặt đột phá, nhân tố mới thi đấu nổi bật ở UEFA Champions League năm 2016, trong đó có Dembélé.[25]
Ngày 4 tháng 3 năm 2017, anh ghi bàn mở tỉ số trong trận thắng đậm 6-2 của Dortmund trước Bayer Leverkusen.[26] Ngày 12 tháng 4, anh ghi bàn gỡ hòa 1-1 trong trận thua Monaco 2-3 tại lượt đi vòng tứ kết Champions League.[27] Vào ngày 26 tháng 4 năm 2017, Dembélé đã kiến tạo bàn thắng cho Aubameyang và ghi bàn ấn định chiến thắng ở phút 74 trước Bayern München trong trận bán kết DFB-Pokal, giúp Dortmund giành cúp cuối cùng.[28] Trong trận chung kết, anh là người mở tỉ số để chung cuộc Dortmund thắng Eintracht Frankfurt 2-1, giúp Dortmund có danh hiệu đầu tiên kể từ năm 2014.[29] Sau khi kết thúc mùa giải, Dembélé được xướng tên vào Đội hình tiêu biểu của mùa giải Bundesliga và được trao giải Tân binh của mùa giải.[30][31]
Barcelona
[sửa | sửa mã nguồn]
Vào ngày 25 tháng 8 năm 2017, câu lạc bộ La Liga Barcelona thông báo rằng họ đã đạt được thỏa thuận ký hợp đồng với Dembélé với giá 105 triệu euro cộng với 40 triệu euro được báo cáo.[32][33] Vào ngày 28 tháng 8, anh ấy đã kiểm tra y tế và ký hợp đồng 5 năm, với điều khoản mua đứt của anh ấy là 400 triệu euro.[34] Barcelona vừa bán Neymar cho Paris Saint-Germain với giá 222 triệu euro, vì vậy thỏa thuận này có nghĩa là Dembélé trở thành cầu thủ đồng đắt giá thứ hai (tính bằng euro), cùng với Paul Pogba. Rennes đã nhận được 20 triệu euro được báo cáo từ Borussia Dortmund sau vụ bán,[35] và Évreux 27 cũng là một phần của khoản phí.[10] Anh được trao chiếc áo số 11 mà Neymar đã mặc trước đó.[36][37]
Dembélé có màn ra mắt vào ngày 9 tháng 9 khi vào sân thay người ở phút thứ 68 cho Gerard Deulofeu trong chiến thắng 5–0 Derbi barceloní trước Espanyol tại Camp Nou, kiến tạo bàn thắng cuối cùng của Luis Suárez.[38] Ở giải đấu đầu tiên của anh ấy bắt đầu tám ngày sau đó tại Getafe, anh bị chấn thương gân kheo và phải nghỉ thi đấu 4 tháng.[39] Anh đã được thông báo y tế hoàn toàn bình thường vào ngày 2 tháng 1 năm 2018,[40] nhưng vài tuần sau, anh ấy lại dính chấn thương trước Real Sociedad và phải nghỉ thi đấu tới 4 tuần.[41] Vào ngày 14 tháng 3 năm 2018, Dembélé ghi bàn thắng đầu tiên cho Barcelona, ghi bàn thắng thứ hai trong chiến thắng 3–0 ở lượt về ở vòng 16 đội Champions League trước Chelsea.[42] Vào ngày 17 tháng 4, anh ghi bàn thắng đầu tiên tại La Liga, bàn mở tỷ số trong trận hòa 2–2 chung cuộc với Celta Vigo.[43] Vào ngày 9 tháng 5, Dembélé ghi hai bàn, đánh dấu cú đúp đầu tiên trong sự nghiệp ở Barcelona của anh, trong chiến thắng 5–1 trên sân nhà trước Villarreal.[44] Dembélé đã giành được cả hai huy chương Copa del Rey và La Liga trong mùa giải đầu tiên của anh ở Tây Ban Nha, với cầu thủ 20 tuổi ghi bốn bàn sau 24 lần ra sân trên mọi đấu trường.[45]
Vào ngày 12 tháng 8 năm 2018, Dembélé đã ghi bàn thắng quyết định vào lưới Sevilla tại Supercopa de España, trong chiến thắng chung cuộc 2–1 giúp Barcelona giành danh hiệu Supercopa de España lần thứ 13.[46] Anh đã mở đầu bảng tổng hợp bàn thắng của mùa giải La Liga bằng cách ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu với Real Valladolid, vào ngày 25 tháng 8, trên sân khách Estadio José Zorrilla.[47] Vào ngày 18 tháng 9, Dembélé ghi bàn thắng đầu tiên tại Champions League mùa giải, giúp Barcelona đánh bại PSV 4–0 tại Camp Nou.[48] Vào ngày 4 tháng 11, anh đã truyền cảm hứng cho Barcelona lội ngược dòng 3–2 trước Rayo Vallecano, ghi bàn gỡ hòa 2–2 bằng một cú volley ở phút 87.[49] Vào ngày 11 tháng 12, anh đã ghi một bàn thắng solo đáng chú ý vào lưới Tottenham Hotspur vượt qua nhiều hậu vệ, kết thúc bằng một cú sút chân trái lạnh lùng vượt qua Hugo Lloris. Anh đã giành được Bàn thắng đẹp nhất trong tuần của UEFA Champions League cho bàn thắng đó.[50] Sau trận đấu, huấn luyện viên của Barcelona Ernesto Valverde đã khen ngợi cầu thủ trẻ, nói rằng "Cậu ấy đã ghi một bàn thắng tuyệt vời, nằm trong tầm với của những cầu thủ bằng tài năng của mình."[51]
Dembélé dính chấn thương gân khoeo trái trong trận mở màn của mùa giải La Liga 2019–20, thất bại 0–1 trước Athletic Bilbao, và dự kiến nghỉ thi đấu 5 tuần.[52] Vào tháng 2 năm 2020, anh bị rách gân khoeo nghiêm trọng và sau cuộc phẫu thuật, anh dự kiến sẽ không thể trở lại trong sáu tháng. Điều này có nghĩa là mặc dù mùa giải bị kéo dài do đại dịch COVID-19, anh sẽ bỏ lỡ phần còn lại của mùa giải.[53]
Vào ngày 28 tháng 10 năm 2020, Dembélé ghi bàn thắng đầu tiên trong mùa giải tại Champions League trong chiến thắng 2–0 trước Juventus.[54]
Vào ngày 10 tháng 5 năm 2022, Dembélé đã có hai pha kiến tạo trong chiến thắng 3–1 trên sân nhà trước Celta Vigo. Đó là pha kiến tạo thứ 10 và 11 của anh ấy vào năm 2022.[55] Anh kết thúc mùa giải La Liga 2021–22 với tư cách là cầu thủ kiến tạo hàng đầu của giải đấu với 13 đường kiến tạo.[56]
Vào ngày 14 tháng 7 năm 2022, Dembélé gia hạn hợp đồng với Barcelona đến ngày 30 tháng 6 năm 2024.[57][58] Điều khoản giải phóng của anh được đặt thành 50 triệu euro, và sau đó tăng lên 100 triệu euro vào ngày 1 tháng 8 năm 2023.[59]
Paris Saint-Germain
[sửa | sửa mã nguồn]2023–24: Mùa giải đầu tiên ở Paris và cú ăn ba quốc nội
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 12 tháng 8 năm 2023, câu lạc bộ Ligue 1 Paris Saint-Germain thông báo rằng họ đã đạt được thỏa thuận chiêu mộ Dembélé từ Barcelona bằng cách kích hoạt điều khoản giải phóng hợp đồng trị giá 50 triệu euro. Thương vụ được hoàn tất sau khi Paris Saint Germain vừa chia tay Lionel Messi và tương lai của Kylian Mbappé chưa rõ ràng, khiến PSG cần bổ sung một cầu thủ chạy cánh giàu tốc độ và kỹ thuật. Dembélé ký hợp đồng có thời hạn 5 năm, đến tháng 6 năm 2028, với mức lương được cho là khoảng 11 triệu euro mỗi mùa. Barcelona và người đại diện của cầu thủ này đã chia nhau khoản phí chuyển nhượng, trong đó CLB xứ Catalunya nhận 25 triệu euro. Anh được trao chiếc áo số 10 mới để chuẩn bị cho mùa giải 2023–24 dưới sự dẫn dắt của HLV Luis Enrique.
Dembélé có trận ra mắt chính thức cho PSG vào ngày 19 tháng 8 năm 2023 trong trận đấu gặp Toulouse tại Ligue 1, vào sân từ ghế dự bị. Trong những vòng đấu đầu tiên, anh chủ yếu được sử dụng ở hành lang cánh phải trong sơ đồ của HLV Luis Enrique, và dần trở thành nhân tố thường xuyên trong đội hình chính.
Tuy không ghi bàn trong những trận đấu đầu tiên, Dembélé vẫn gây ấn tượng nhờ khả năng đi bóng và tạo đột biến. Bàn thắng đầu tiên của anh cho PSG đến vào ngày 3 tháng 12 năm 2023 trong trận thắng 2–0 trước Le Havre tại Ligue 1.[60]
Mùa giải 2023–24, Dembélé góp mặt hơn 40 trận trên mọi đấu trường, ghi được 3 bàn thắng và có hơn 10 đường kiến tạo, góp công giúp PSG giành chức vô địch Ligue 1 lần thứ 12 trong lịch sử câu lạc bộ. Anh cũng cùng đội lọt vào bán kết UEFA Champions League, lần đầu tiên kể từ năm 2021, trước khi bị Borussia Dortmund loại.
Phong độ của Dembélé tại PSG được đánh giá tích cực, đặc biệt là sự phối hợp ăn ý với Kylian Mbappé và tân binh Gonçalo Ramos trên hàng công. Tuy nhiên, anh vẫn thường xuyên gặp những chấn thương nhẹ, khiến số trận ra sân liên tiếp bị gián đoạn.
2024–25: Cú ăn ba và các giải thưởng cá nhân xuất sắc
[sửa | sửa mã nguồn]
Vào mùa giải 2024–25, Ousmane Dembélé đã có bước chuyển mình ngoạn mục dưới thời huấn luyện viên Luis Enrique và trở thành nhân tố chủ chốt đưa Paris Saint-Germain đến một mùa giải lịch sử.
Ngày 5 tháng 1 năm 2025, Dembélé ghi bàn quyết định giúp Paris Saint-Germain thắng Monaco 1–0 tại Trophée des Champions và được chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất trận.
Tại UEFA Champions League, ngày 22 tháng 1 anh ghi bàn đầu tiên trong trận thắng ngược Manchester City 4–2. Một tuần sau, ngày 29 tháng 1, anh lập hat-trick vào lưới VfB Stuttgart, giúp Paris Saint-Germain tiến vào vòng play-offs. Ba ngày sau đó, Dembélé ghi thêm một hat-trick ở Ligue 1 vào lưới Brest, trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ ghi hai hat-trick liên tiếp ở các trận chính thức. Ngày 11 tháng 3, anh ghi bàn gỡ hòa quan trọng trước Liverpool ở vòng 1/8, góp phần giúp đội bóng đi tiếp sau loạt luân lưu. Ngày 29 tháng 4, anh ghi bàn duy nhất trong trận bán kết lượt đi gặp Arsenal, góp phần đưa Paris Saint-Germain vào chung kết. Ngày 31 tháng 5, đội bóng vô địch Champions League lần đầu trong lịch sử sau chiến thắng 5–0 trước Inter Milan, trong đó Dembélé có hai pha kiến tạo. Tổng cộng, anh ra sân 15 trận, ghi 8 bàn và có 6 kiến tạo, đồng thời được bình chọn là Cầu thủ hay nhất Champions League mùa giải 2024–25.
Tại Ligue 1, Dembélé kết thúc mùa giải với vai trò đồng vua phá lưới với 21 bàn thắng, đồng thời được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất Ligue 1 lần đầu tiên trong sự nghiệp và có mặt trong Đội hình tiêu biểu của mùa giải.
Tính trên mọi đấu trường, mùa 2024–25 Dembélé ghi 33 bàn và có 15 kiến tạo sau 49 trận, trở thành ứng viên nổi bật cho Quả Bóng Vàng 2025. Paris Saint-Germain cũng giành chức vô địch Ligue 1, Coupe de France, Trophée des Champions và Champions League, hoàn tất cú ăn bốn lịch sử. Mùa giải này được đánh giá là bước ngoặt trong sự nghiệp của Dembélé, từ một cầu thủ thường xuyên bị nghi ngờ tại Barcelona trở thành nhân tố không thể thiếu tại Paris Saint-Germain. Anh được ca ngợi nhờ khả năng pressing, hiệu quả tấn công và sự trưởng thành trong lối chơi tập thể, đồng thời được xem là ứng viên sáng giá cho Quả Bóng Vàng.
Mùa giải 2025–26
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 13 tháng 8 năm 2025, Dembélé đã giành chức vô địch UEFA Super Cup cùng với Paris Saint-Germain khi anh ghi bàn trong loạt sút luân lưu giúp đội bóng chiến thắng với tỷ số 4–3 sau khi hòa 2–2 trước Tottenham Hotspur trong 120 phút thi đấu chính thức. Pha kiến tạo ở phút bù giờ cho cú đánh đầu của Gonçalo Ramos và cú sút phạt đền thành công trong loạt sút luân lưu là một trong những đóng góp giúp anh giành được giải Cầu thủ xuất sắc nhất trận. Vào ngày 30 tháng 8 năm 2025, Dembélé ghi hai bàn thắng đầu tiên trong mùa giải, hai bàn thắng từ chấm phạt đền trong chiến thắng 6–3 trên sân khách trước Toulouse. Trong khi thi đấu cho đội tuyển quốc gia vào đầu tháng 9 năm 2025, Dembélé bị chấn thương gân kheo khiến anh phải nghỉ thi đấu sáu tuần. Cùng tháng đó, anh giành được giải thưởng quả bóng vàng năm 2025.
Sự nghiệp quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]
Dembélé được triệu tập vào Đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp lần đầu tiên vào tháng 8 năm 2016 chuẩn bị cho các trận giao hữu với Ý và Belarus vào tháng 8 năm 2016 sau khi Alexandre Lacazette và Nabil Fekir không thể tập trung đội tuyển vì chấn thương.[61] Anh có trận đấu đầu tiên trong màu áo đội tuyển Pháp vào ngày 1 tháng 9 năm 2016 khi vào sân thay cho Antoine Griezmann trong chiến thắng 3-1 trước Ý.[62] Ngày 13 tháng 6 năm 2017, Dembélé có bàn thắng đầu tiên cho "Les Bleus" trong trận giao hữu thắng Anh 3-2.[63]
Ngày 17 tháng 5 năm 2018, anh được triệu tập vào đội hình 23 người của đội tuyển Pháp tham dự FIFA World Cup 2018 tại Nga.[64] Vào ngày 15 tháng 7, Pháp đánh bại 4–2 trong trận chung kết để giành chức vô địch thế giới thứ hai trong lịch sử.[65] Cá nhân Dembélé có bốn làn ra sân tại giải đấu này bao gồm ba trận vòng bảng và trận tứ kết với Uruguay.
Anh được gọi vào đội tuyển Pháp tham dự FIFA World Cup 2022 ở Qatar, nơi anh ra sân tất cả các trận khi Pháp kết thúc giải đấu với tư cách á quân.[66] Dembélé đá chính trận chung kết nhưng phạm lỗi với Ángel Di María dẫn đến bàn thua đầu tiên của đội tuyển Pháp từ quả phạt đền của Lionel Messi phút 23. Anh bị thay ra bởi Randal Kolo Muani ở phút 41.[67]
Đời tư
[sửa | sửa mã nguồn]Dembele là một người theo đạo Hồi.[68] Anh kết hôn với một phụ nữ Maroc theo nghi lễ truyền thống của người Maroc ở Pháp vào tháng 12 năm 2021.[69][70][71] Họ có một con gái, sinh tháng 9 năm 2022.[72] Anh ấy là cổ động viên của câu lạc bộ EFL Championship Leeds United.[73]
Vào tháng 7 năm 2021, Dembélé bị lên án là kẻ phân biệt chủng tộc, khi đoạn video quay cảnh anh cùng với đồng đội Antoine Griezmann lan truyền trên mạng, trong đó người ta thấy anh đưa ra những bình luận mang tính phân biệt chủng tộc chống lại các kỹ thuật viên Nhật Bản trong phòng khách sạn của họ.[74] Khi các kỹ thuật viên dường như đang khắc phục sự cố tivi trong phòng, Dembélé đã bình luận về Griezmann bằng tiếng Pháp, nói rằng "Tất cả những khuôn mặt xấu xí này, chỉ để bạn có thể chơi PES, bạn không xấu hổ sao?", tiếp tục với "Ngôn ngữ quái gì vậy?" trước khi phóng to trong khi cười trên khuôn mặt của một trong những kỹ thuật viên, nói rằng "Ở nước bạn, công nghệ của bạn có tiên tiến hay không?".[75][76][77]
Thống kê sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn]- Tính đến ngày 13 tháng 7 năm 2025
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải đấu | Cúp quốc gia[a] | Cúp liên đoàn[b] | Châu Âu | Khác | Tổng cộng | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Rennes II | 2014–15[78] | CFA | 18 | 13 | — | — | — | — | 18 | 13 | ||||
| 2015–16[78] | 4 | 0 | — | — | — | — | 4 | 0 | ||||||
| Tổng cộng | 22 | 13 | — | — | — | — | 22 | 13 | ||||||
| Rennes | 2015–16[78] | Ligue 1 | 26 | 12 | 2 | 0 | 1 | 0 | — | — | 29 | 12 | ||
| Borussia Dortmund | 2016–17[79] | Bundesliga | 32 | 6 | 6 | 2 | — | 10[c] | 2 | 1[d] | 0 | 49 | 10 | |
| 2017–18[45] | 0 | 0 | 0 | 0 | — | 0 | 0 | 1[d] | 0 | 1 | 0 | |||
| Tổng cộng | 32 | 6 | 6 | 2 | — | 10 | 2 | 2 | 0 | 50 | 10 | |||
| Barcelona | 2017–18[45] | La Liga | 17 | 3 | 3 | 0 | — | 3[c] | 1 | — | 23 | 4 | ||
| 2018–19[80] | 29 | 8 | 4 | 2 | — | 8[c] | 3 | 1[e] | 1 | 42 | 14 | |||
| 2019–20[81] | 5 | 1 | 0 | 0 | — | 4[c] | 0 | 0 | 0 | 9 | 1 | |||
| 2020–21[82] | 30 | 6 | 6 | 2 | — | 6[c] | 3 | 2[e] | 0 | 44 | 11 | |||
| 2021–22[83] | 21 | 1 | 1 | 1 | — | 9[f] | 0 | 1[e] | 0 | 32 | 2 | |||
| 2022–23[84] | 25 | 5 | 2 | 2 | — | 6[c] | 1 | 2[e] | 0 | 35 | 8 | |||
| Tổng cộng | 127 | 24 | 16 | 7 | — | 36 | 8 | 6 | 1 | 185 | 40 | |||
| Paris Saint-Germain | 2023–24[85] | Ligue 1 | 26 | 3 | 4 | 1 | — | 11[c] | 2 | 1[g] | 0 | 42 | 6 | |
| 2024–25[86] | 29 | 21 | 4 | 3 | — | 15[c] | 8 | 5[h] | 3 | 53 | 35 | |||
| 2025–26[87] | 0 | 0 | 0 | 0 | — | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | |||
| Tổng cộng | 55 | 24 | 8 | 4 | — | 26 | 10 | 6 | 3 | 95 | 41 | |||
| Tổng cộng sự nghiệp | 262 | 79 | 32 | 13 | 1 | 0 | 72 | 20 | 14 | 4 | 381 | 116 | ||
- ^ Bao gồm Coupe de France, DFB-Pokal, Copa del Rey
- ^ Bao gồm Coupe de la Ligue
- ^ a b c d e f g h Số lần ra sân tại UEFA Champions League
- ^ a b Ra sân tại DFL-Supercup
- ^ a b c d Số lần ra sân tại Supercopa de España
- ^ Ba lần ra sân tại UEFA Champions League, sáu lần ra sân tại UEFA Europa League
- ^ Ra sân tại Trophée des Champions
- ^ Một lần ra sân và một bàn thắng tại Trophée des Champions, bốn lần ra sân và hai bàn thắng tại FIFA Club World Cup
Quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]- Tính đến ngày 5 tháng 9 năm 2025[88]
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Pháp | 2016 | 3 | 0 |
| 2017 | 4 | 1 | |
| 2018 | 14 | 1 | |
| 2021 | 6 | 2 | |
| 2022 | 8 | 0 | |
| 2023 | 7 | 1 | |
| 2024 | 11 | 1 | |
| 2025 | 4 | 1 | |
| Tổng cộng | 57 | 7 | |
- Tính đến ngày 23 tháng 3 năm 2025
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Pháp được tính trước, cột tỷ số cho biết tỷ số sau mỗi bàn thắng của Dembélé.[88]
| # | Ngày | Địa điểm | Trận | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 13 tháng 6 năm 2017 | Stade de France, Saint-Denis, Pháp | 7 | 3–2 | 3–2 | Giao hữu | |
| 2 | 1 tháng 6 năm 2018 | Allianz Riviera, Nice, Pháp | 11 | 3–1 | 3–1 | ||
| 3 | 28 tháng 3 năm 2021 | Astana Arena, Nur-Sultan, Kazakhstan | 23 | 1–0 | 2–0 | Vòng loại FIFA World Cup 2022 | |
| 4 | 2 tháng 6 năm 2021 | Allianz Riviera, Nice, Pháp | 24 | 3–0 | 3–0 | Giao hữu | |
| 5 | 21 tháng 11 năm 2023 | 42 | 10–0 | 14–0 | Vòng loại UEFA Euro 2024 | ||
| 6 | 9 tháng 9 năm 2024 | Parc Olympique Lyonnais, Lyon, Pháp | 51 | 2–0 | 2–0 | UEFA Nations League 2024–25 | |
| 7 | 23 tháng 3 năm 2025 | Stade de France, Saint-Denis, Pháp | 55 | 2–0 | 2–0 (s.h.p.) (5–4 p) |
Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]Borussia Dortmund
Barcelona
Paris Saint-Germain
- Ligue 1: 2023–24,[89] 2024–25[90]
- Coupe de France: 2023–24,[91] 2024–25[92]
- Trophée des Champions: 2023,[93] 2024,[94] 2025[95]
- UEFA Champions League: 2024–25[96]
- UEFA Super Cup: 2025[97]
- FIFA Intercontinental Cup: 2025[98]
- FIFA Club World Cup á quân: 2025[99]
Pháp
- FIFA World Cup: 2018; á quân: 2022[100]
- UEFA Nations League hạng ba: 2024–25[101]
Cá nhân
- Ballon d'Or: 2025
- Giải thưởng FIFA The Best: 2025[102]
- Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của Ligue 1: 2015–16[103]
- Đội hình trẻ xuất sắc nhất UEFA Champions League: 2016[104]
- Cầu thủ xuất sắc nhất trong tháng của Ligue 1: Tháng 3 năm 2016, Tháng 1 năm 2025
- Đội hình xuất sắc nhất mùa giải UEFA Champions League: 2024–25[105]
- Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải UEFA Champions League: 2024–25[106]
- Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất mùa giải của Bundesliga: 2016–17[31]
- Đội hình xuất sắc nhất mùa giải Bundesliga: 2016-17[30]
- Vua kiến tạo của La Liga: 2021–22[107]
- Đội hình xuất sắc nhất mùa giải của UNFP Ligue 1: 2023–24,[108] 2024–25[109]
- Vua kiến tạo Ligue 1: 2023–24 (đồng hạng nhất)[110]
- Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải của Ligue 1: 2024–25[111]
- Vua phá lưới Ligue 1: 2024–25 (đồng hạng nhất)[112]
- Đội hình bóng đá nam châu Âu xuất sắc nhất mùa giải do The Athletic bình chọn: 2024–25[113]
- FIFA FIFPRO World 11: 2025[114]
- Cầu thủ nam xuất sắc nhất thế giới của IFFHS: 2025[115]
Huân chương
- Bắc Đẩu Bội tinh: 2018[116]
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ "Décret du 31 décembre 2018 portant promotion et nomination" [Decree of 31 December 2018 on promotion and appointment]. Journal officiel de la République française (bằng tiếng Pháp). Quyển 2019 số 1. ngày 1 tháng 1 năm 2019. PRER1835394D. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
- ^ "FIFA World Cup Russia 2018: List of Players: France" (PDF). FIFA. ngày 15 tháng 7 năm 2018. tr. 11. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2019.
- ^ "Ousmane Dembélé". FC Barcelona. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Ballon d'Or 2025 Power Rankings: Desire Doue's Champions League final fireworks move PSG teenager into the top 10 - but this is Ousmane Dembele's Golden Ball". Goal.com. ngày 1 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2025.
- ^ Swan, Rob; Malyan, Christy; Murray, Will (ngày 10 tháng 11 năm 2023). "The 25 best footballers in the world right now - ranked in order". GiveMeSport. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2025.
- ^ "After PSG beat Liverpool, we ask: Is Dembélé the world's best soccer player?". ESPN. ngày 14 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2025.
- ^ Xuân Bình (ngày 23 tháng 9 năm 2025). "Dembele - từ cậu bé chơi game thâu đêm đến Quả Bóng Vàng". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ "Ousmane Dembele: Từ kẻ thần tượng đến người kế thừa Neymar". TTVH Online. ngày 14 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ a b "Formé à l'ALM Evreux, Ousmane Dembélé en passe de rejoindre Barcelone pour 150 M€". Paris-Normandie (bằng tiếng Pháp). ngày 25 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2017.
- ^ a b Auffret, Simon (ngày 25 tháng 8 năm 2017). "Dembélé au FC Barcelone : une bonne nouvelle pour l'EFC 27" (bằng tiếng Pháp). France 3. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2017.
- ^ "Rennes (B) – Guingamp (B) : 2–0 Guingamp n'a pas fait le poids" [Rennes (B) – Guingamp (B): 2–0 Guingamp were inadequate]. Le Télégramme (bằng tiếng Pháp). ngày 7 tháng 9 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Rennes en pilotage automatique" [Rennes on auto-pilot]. Maville.com (bằng tiếng Pháp). ngày 10 tháng 11 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Stade Rennais (B) – Hérouville : 6–1". Ouest-France (bằng tiếng Pháp). ngày 17 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Angers – Rennes – Ligue 1". Eurosport. ngày 6 tháng 11 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2017.
- ^ Crossan, D. (ngày 22 tháng 11 năm 2015). "Carrasso saves point for Bordeaux". Ligue 1. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2015.
- ^ Gordon, Connor (ngày 9 tháng 1 năm 2016). "Stade Rennais 2–2 FC Lorient: Hosts respond well after early derby disaster". Vavel. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Ligue 1 : Rennes écrase Nantes (4–1)". Le Monde (bằng tiếng Pháp). ngày 6 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2017.
- ^ "Ousmane Dembélé: football's hottest property, if you can convince his mother". The Guardian. ngày 23 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ "Ousmane Dembele: Borussia Dortmund sign Rennes forward". BBC Sport. ngày 16 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ "Ousmane Dembele & hành trình từ Rennes lên ĐT Pháp". Bóng Đá +. ngày 31 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ "Borussia Dortmund signs top talent Ousmane Dembélé". Borussia Dortmund. ngày 12 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Deutscher Supercup, 2016, Finale" (bằng tiếng Đức). German Football Association. ngày 14 tháng 8 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2017.
- ^ "VfL Wolfsburg 1–5 Borussia Dortmund". BBC Sport. ngày 20 tháng 9 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2017.
- ^ "Borussia Dortmund 8-4 Legia Warsaw". BBC Sport. ngày 22 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ "UEFA announce Champions League breakthrough team of the year with Portugal's Euro 2016 star Renato Sanches and Victor Lindelof included". Mail Online. ngày 24 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ "ROMP Borussia Dortmund 6 Bayer Leverkusen 2: Pierre-Emerick Aubameyang fires two in thumping victory". The Sun Online. ngày 4 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ "Borussia Dortmund 2-3 Monaco: Kylian Mbappe brace and Sven Bender own goal gives visitors the advantage after a thrilling quarter-final first leg". Mail Online. ngày 12 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ "Borussia Dortmund beat Bayern Munich to reach DFB Cup final – as it happened!". Bundesliga. ngày 26 tháng 4 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2017.
- ^ "Dortmund đoạt Cup Quốc gia, khép lại ba năm không danh hiệu". VNExpress. ngày 28 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ a b "Official Bundesliga Team of the Season for 2016/17". bundesliga.com. ngày 26 tháng 5 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2018.
- ^ a b "Borussia Dortmund's Ousmane Dembele voted Bundesliga Rookie of the Season". Bundesliga. ngày 21 tháng 6 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2018.
- ^ "Ousmane Dembele: Barcelona agree £135.5m deal for Dortmund forward". BBC Sport. ngày 25 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2017.
- ^ Marsden, Samuel (ngày 25 tháng 8 năm 2017). "Borussia Dortmund confirm Barcelona close to Ousmane Dembele deal". ESPN FC. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2017.
- ^ "Ousmane Dembélé, FC Barcelona's new signing". FC Barcelona. ngày 25 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2017.
- ^ Bushnell, Henry (ngày 25 tháng 8 năm 2017). "Barcelona signs Ousmane Dembele, its Neymar replacement in more ways than one". Yahoo Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2017.
- ^ "Barcelona Hands Ousmane Dembele Neymar's No. 11 Shirt After Dortmund Transfer". Sports Illustrated. ngày 25 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2017.
- ^ FC Barcelona [@FCBarcelona] (ngày 25 tháng 8 năm 2017). "The shirt number for @Dembouz is..." (Tweet). Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2017 – qua Twitter.
- ^ Emons, Michael (ngày 9 tháng 9 năm 2017). "Barcelona 5–0 Espanyol". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
- ^ "Ousmane Dembélé medical announcement". FC Barcelona. ngày 17 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2018.
- ^ "Ousmane Dembélé receives medical discharge". FC Barcelona. ngày 2 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2018.
- ^ "Dembélé out for three to four weeks". FC Barcelona. ngày 15 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2018.
- ^ Lowe, Sid (ngày 14 tháng 3 năm 2018). "Ousmane Dembélé finally shines but the night belongs to Lionel Messi". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2018.
- ^ "Celta Vigo 2–2 Barcelona". BBC Sport. ngày 17 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2018.
- ^ "Barcelona 5–1 Villarreal". BBC Sport. ngày 9 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2018.
- ^ a b c "Trận thi đấu của Ousmane Dembélé trong 2017/2018". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2018.
- ^ "Barcelona beat Sevilla 2–1 to win Spanish Super Cup in Morocco". BBC Sport. ngày 12 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Real Valladolid 0–1 Barcelona: Champions win after VAR reprieve". BBC Sport. ngày 25 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Lionel Messi sets Champions League hat-trick record as Barcelona ease past PSV". ESPN.com. ngày 18 tháng 9 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2018.
- ^ "Luis Suarez goal completes late comeback, puts Barcelona four points clear". ESPN. Reuters. ngày 4 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018.
- ^ "Dembélé awarded 'Goal of the Week'". FC Barcelona. ngày 14 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2021.
- ^ "Dembélé stunner against Spurs pleases Barça boss Valverde". Diario AS. ngày 12 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2019.
- ^ Fibla, Albert (ngày 20 tháng 8 năm 2019). "Dembélé es torna a trencar i serà baixa cinc setmanes". L'Esportiu (bằng tiếng Catalan). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
- ^ "Ousmane Dembele: Barcelona winger sidelined for six months after surgery". BBC Sport. ngày 11 tháng 2 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2020.
- ^ "Barcelona down Juventus with goals from Messi, Dembele". ESPN.com. ngày 29 tháng 10 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2020.
- ^ "Two more assists for Dembélé". FC Barcelona. ngày 10 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2022.
- ^ "All leaders in Assists". La Liga. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2021.
- ^ "Dembélé to sign contract until 2024". FC Barcelona (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Ousmane Dembélé: 'FC Barcelona was always my first choice'". FC Barcelona (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022.
- ^ "BARCELONA WINGER OUSMANE DEMBELE COULD MAKE SHOCK MOVE TO PSG AS RELEASE CLAUSE NEARS EXPIRY - PAPER ROUND". www.eurosport.com. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2023.
- ^ "PSG feasts thanks to the rhythm of Dembélé and Mbappe". MARCA (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2025.
- ^ "Dembélé, Gameiro et Kondogbia appelés chez les Bleus". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). ngày 29 tháng 8 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2016.
- ^ "Italie-France: et Dembélé lança sa carrière en Bleu…" (bằng tiếng Pháp). RMC Sport. ngày 2 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ "France 3–2 England". BBC Sport. ngày 13 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ Charles, Andy (ngày 21 tháng 5 năm 2018). "Alexandre Lacazette and Anthony Martial on standby for France World Cup squad and Dimitri Payet out". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2018.
- ^ McNulty, Phil (ngày 15 tháng 7 năm 2018). "France 4–2 Croatia". BBC Sport. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ "Ousmane Dembélé in the World Cups". www.thesoccerworldcups.com. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2023.
- ^ "Argentina vô địch World Cup 2022". VnExpress. ngày 18 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ^ "Así afecta el Ramadán al fútbol: el plan de los futbolistas musulmanes para jugar pese al ayuno". El Español (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 3 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2022.
- ^ "Boda marroquí de Ousmane Dembélé por el rito musulmán". Mundo Deportivo (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 25 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2021.
- ^ "Ousmane Dembélé sorprende con boda en medio de sus vacaciones". ESPNdeportes.com (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 24 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2021.
- ^ Kasraoui, Safaa. "FC Barcelona Star Ousmane Dembele Celebrates Traditional Moroccan Wedding". Morocco World News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2021.
- ^ Sport (ngày 17 tháng 9 năm 2022). "Ousmane Dembele becomes the father of a girl". sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2022.
- ^ Bamford, Patrick (ngày 25 tháng 3 năm 2021). "Barcelona's Ousmane Dembélé is a massive Leeds United fan". The Official Leeds United Podcast (Podcast). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021 – qua YouTube.
- ^ McTear, Euan (ngày 21 tháng 7 năm 2019). "Barcelona arrive in Japan and are ready to start pre-season". Marca. EFE. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2021.
- ^ White, Jonathan (ngày 3 tháng 7 năm 2021). "Euro 2020 star Ousmane Dembele in race storm for mocking Asian hotel workers in video with Antoine Griezmann". South China Morning Post. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2021.
- ^ "Leaked video shows French football stars mocking Asian staff". TRT (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2021.
- ^ Iaz, Chams (ngày 6 tháng 7 năm 2021). "Racisme anti-asiatique: les excuses insuffisantes de Ousmane Dembélé et Antoine Griezmann". Le Temps (bằng tiếng Pháp). ISSN 1423-3967. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2021.
- ^ a b c Ousmane Dembélé tại Soccerway
- ^ "Trận thi đấu của Ousmane Dembélé trong 2016/2017". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2018.
- ^ "Trận thi đấu của Ousmane Dembélé trong 2018/2019". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2018.
- ^ "Trận thi đấu của Ousmane Dembélé trong 2019/2020". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2020.
- ^ "Trận thi đấu của Ousmane Dembélé trong 2020/2021". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2020.
- ^ "Trận thi đấu của Ousmane Dembélé trong 2021/2022". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2021.
- ^ "Trận thi đấu của Ousmane Dembélé trong 2022/2023". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2021.
- ^ "Trận thi đấu của Ousmane Dembélé trong 2023/2024". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2023.
- ^ "Trận thi đấu của Ousmane Dembélé trong 2024/2025". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2024.
- ^ "Trận thi đấu của Ousmane Dembélé trong 2025/2026". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2024.
- ^ a b "Ousmane Dembélé". National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2022.
- ^ "Paris Saint-Germain win their 12th Ligue 1 title!". Paris Saint-Germain F.C. ngày 28 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
- ^ "Le PSG champion de France pour la 13e fois de son histoire après sa victoire contre Angers" [PSG are crowned French champions for the 13th time in their history after their victory against Angers.]. L'Équipe (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2025.
- ^ "PSG beat Lyon 2-1 to win French Cup final in Mbappe's farewell appearance". Reuters. ngày 25 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2024.
- ^ Guillemet, Hugo (ngày 24 tháng 5 năm 2025). "Le PSG s'offre une 16e Coupe de France après une victoire facile en finale contre Reims". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
- ^ "Paris start 2024 with Trophée des Champions triumph!". Paris Saint-Germain F.C. ngày 3 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
- ^ "Foot : Ousmane Dembélé offre sur le fil un nouveau Trophée des champions au PSG contre Monaco". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). ngày 5 tháng 1 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2025.
- ^ "Le PSG de Lucas Chevalier tient son premier titre 2026" [Lucas Chevalier's PSG get their first 2026 title] (bằng tiếng Pháp). Radio Télévision Suisse. ngày 8 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2026.
- ^ "PSG-Inter Milan : les Parisiens remportent brillamment la Ligue des champions". lemonde.fr. lemonde.fr. ngày 31 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2025.
- ^ Bärthel, Julie (ngày 13 tháng 8 năm 2025). "PSG gewinnt Elfmeterkrimi gegen Tottenham" [PSG win penalty shootout against Tottenham] (bằng tiếng Đức). Sportschau. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
- ^ "Porté par un énorme Safonov lors des tirs au but, le PSG remporte la première Coupe Intercontinentale de son histoire face à Flamengo". L’Équipe. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Douché par Chelsea, le PSG ne sera pas le premier vainqueur de la Coupe du monde des clubs". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). ngày 13 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025.
- ^ McNulty, Phil (ngày 18 tháng 12 năm 2022). "Argentina 3–3 France". BBC Sport. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2022.
- ^ "Germany 0-2 France report: Kylian Mbappé scores landmark goal as Les Bleus clinch Nations League third place". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 8 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Dembele scoops The Best Men's Player Award". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 16 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Trophées UNFP: Ousmane Dembélé élu meilleur espoir de Ligue 1". RTL. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2018.
- ^ "Our Champions League breakthrough team of 2016". UEFA.com: The official website for European football. ngày 24 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2018.
- ^ "2024/25 Champions League Team of the Season". UEFA. Union of European Football Associations. ngày 1 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Ousmane Dembélé named 2024/25 UEFA Champions League Player of the Season". UEFA. Union of European Football Associations. ngày 1 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Leaderboard Assists". La Liga. ngày 26 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2023.
- ^ "Trophées UNFP : sept joueurs du PSG dans l'équipe type de la saison 2023-2024 en Ligue 1" (bằng tiếng Pháp). L'Équipe. ngày 13 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2024.
- ^ "Trophées UNFP : Neuf joueurs du PSG dans l'équipe type de la saison en Ligue 1" (bằng tiếng Pháp). L'Équipe. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2025.
- ^ "Classement des passeurs Ligue 1 Uber Eats 2023-2024 : Championnat de France - Football" (bằng tiếng Pháp). L'Équipe. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2024.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên:5 - ^ "D'abord mené, le PSG termine la saison par une victoire à domicile contre Auxerre". L’Équipe. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2025.
- ^ "The Athletic's end-of-season awards, 2024-25: Men's football". The Athletic’s. ngày 28 tháng 5 năm 2025.
- ^ "Who is in the 2025 FIFPRO Men's World 11?". FIFPRO. ngày 3 tháng 11 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
- ^ "IFFHS AWARDS 2025 - OUSMANE DEMBELE, MEN'S WORLD BEST PLAYER". IFFHS. ngày 14 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Décret du 31 décembre 2018 portant promotion et nomination" [Decree of ngày 31 tháng 12 năm 2018 on promotion and appointment]. Official Journal of the French Republic (bằng tiếng Pháp). Quyển 2019 số 1. ngày 1 tháng 1 năm 2019. PRER1835394D. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Thông tin về Ousmane Dembélé trên trang web của FC Barcelona
- Ousmane Dembélé tại BDFutbol
- Ousmane Dembélé tại Soccerway
- Sinh năm 1997
- Nhân vật còn sống
- Cầu thủ bóng đá nam Pháp
- Cầu thủ bóng đá Borussia Dortmund
- Cầu thủ bóng đá Barcelona
- Tiền đạo bóng đá nam
- Cầu thủ bóng đá Bundesliga
- Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Tây Ban Nha
- Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Đức
- Cầu thủ bóng đá nam Pháp ở nước ngoài
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá U-21 quốc gia Pháp
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2022
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá trẻ quốc gia Pháp
- Cầu thủ bóng đá La Liga
- Cầu thủ bóng đá Ligue 1
- Cầu thủ bóng đá Paris Saint-Germain F.C.
- Cầu thủ bóng đá Stade Rennais F.C.
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá châu Âu 2024
- Người đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA
- Cầu thủ đoạt giải Quả bóng vàng châu Âu
- Cầu thủ vô địch UEFA Champions League
- Cầu thủ vô địch Giải vô địch bóng đá thế giới