Oxozon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mô hình phân tử oxozon

Oxozon, cũng được gọi là "tetraoxygen" có công thức hoá học là O4, màu xanh da trời và là một dạng thù hình mới được phát hiện của oxy. Oxozon lần đầu tiên được dự đoán bởi Gilbert N. Lewis, người đã đề xuất nó như là một lời giải thích cho sai sót của oxy lỏng tuân theo định luật Curie [1]. Máy tính mô phỏng chỉ ra rằng mặc dù không có phân tử O4 ổn định trong oxy lỏng, các phân tử O2 có khuynh hướng liên kết theo cặp với spin song song, tạo thành các đơn vị O4 thoáng qua [2].Vào năm 1999, các nhà nghiên cứu cho rằng oxy rắn tồn tại trong pha của nó (ở áp suất trên 10 GPa) là O4. [3]. Tuy nhiên, vào năm 2006, nó được thể hiện bằng tinh thể học tia X, giai đoạn ổn định này được gọi là ε oxy hoặc oxy đỏ nhưng thực tế là O8 [4] Tuy nhiên, oxozon tích điện dương đã được phát hiện là một loại hóa chất có thời gian tồn tại ngắn trong các thí nghiệm khối phổ.[5].

Các dải sóng hấp thụ của phân tử O4, ví dụ: ở 360, 477 và 577 nm thường được sử dụng để thực hiện đảo ngược aerosol trong quang phổ hấp thụ quang học khí quyển. Do sự phân bố của O2 và do đó cũng có thể sử dụng mật độ cột nghiêng O, mật độ cột nghiêng O4 để lấy các aerosol sau đó có thể được sử dụng lại trong các mô hình chuyển bức xạ để mô hình hóa các đường ánh sáng [6].

Tính chất hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Oxozon có tính chất oxy hóa mạnh hơn oxyozon. Một bằng chứng cho thấy oxozon có tính oxy hóa mạnh hơn oxy và ozon là: oxozon oxy hóa bạc nhanh hơn so với ozon.

Tính chất vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Oxozon tồn tại ở thể rắn.

Điều chế[sửa | sửa mã nguồn]

Oxozon được điều chế bằng cách nén oxy dưới áp suất khoảng 20 GPa.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lewis, Gilbert N. (1924). “The Magnetism of Oxygen and the Molecule O4”. Journal of the American Chemical Society. 46 (9): 2027–2032. doi:10.1021/ja01674a008.
  2. ^ Oda, Tatsuki; Alfredo Pasquarello (2004). “Noncollinear magnetism in liquid oxygen: A first-principles molecular dynamics study”. Physical Review B. 70 (134402): 1–19. Bibcode:2004PhRvB..70m4402O. doi:10.1103/PhysRevB.70.134402.
  3. ^ Gorelli, Federico A.; Lorenzo Ulivi; Mario Santoro; Roberto Bini (1999). “The ε Phase of Solid Oxygen: Evidence of an O4 Molecule Lattice”. Physical Review Letters. 83 (20): 4093–4096. Bibcode:1999PhRvL..83.4093G. doi:10.1103/PhysRevLett.83.4093.
  4. ^ Lars F. Lundegaard, Gunnar Weck, Malcolm I. McMahon, Serge Desgreniers and Paul Loubeyre (2006). “Observation of an O8 molecular lattice in the phase of solid oxygen”. Nature. 443 (7108): 201–204. Bibcode:2006Natur.443..201L. doi:10.1038/nature05174. PMID 16971946.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  5. ^ Cacace, Fulvio; Giulia de Petris; Anna Troiani (2001). “Experimental Detection of Tetraoxygen”. Angewandte Chemie International Edition. 40 (21): 4062–4065. doi:10.1002/1521-3773(20011105)40:21<4062::AID-ANIE4062>3.0.CO;2-X. PMID 12404493.
  6. ^ Friess, U. and Monks, P. S. and Remedios, J. J. and Wagner, T. and Platt, U. (2005). “MAX-DOAS O4 measurements: A new technique to derive information on atmospheric aerosols - Retrieval of aerosol properties”. Journal of Geophysical Research. Bibcode:2004JGRD..10922205W. doi:10.1029/2004jd004904.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)