PK (súng máy)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
PK súng máy đa chức năng
PKM of Hungarian Army.JPG
PKM súng máy đa năng
LoạiSúng máy đa năng
Nơi chế tạo Liên Xô
 Nga
Lược sử hoạt động
Phục vụ1961–hiện tại
Sử dụng bởiXem Các nước sử dụng  Liên Xô
 Nga
 Việt Nam
 Cuba
 Lào
 Azerbaijan
 Cộng hòa Nhân dân Campuchia
 Campuchia
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
 Iraq
 Syria
 Phần Lan
Cuộc chiến tranhChiến tranh Việt Nam
Nội chiến Campuchia
Chiến tranh biên giới Tây Nam
Chiến tranh Afghanistan (1978–1992)
Chiến tranh Iran-Iraq
Chiến tranh Chechnya lần thứ nhất
Chiến tranh Chechnya lần thứ hai
Chiến tranh Afghanistan (2001–2014)
Chiến tranh Iraq
Xung đột biên giới Campuchia–Thái Lan
Nội chiến Syria
Lược sử chế tạo
Người thiết kếMikhail Kalashnikov
Năm thiết kếPK: 1961
PKM: 1969
Nhà sản xuấtDegtyarev plant(Ở Nga)
Giai đoạn sản xuấtPK: 1961–hiện tại
PKM: 1969–hiện tại
Các biến thểtrước hiện đại hoá:
PK
PKS
PKB
PKT
Sau hiện đại hoá:
PKM
PKMS
Thông số
Khối lượng
  • PK: 9 kg (súng và chân chống chữ V) + 7,7 kg (bệ chống 3 chân)
  • PKS: 7,5 kg (súng và chân chống chữ V) + 4,5 kg (bệ chống 3 chân)
  • PKT/PKB (gắn trên các phương tiện cơ giới): 10,5 kg
  • Chiều dài
  • PK: 1203 mm
  • PKS: 1192 mm
  • PKT/PKB: 1098 mm
  • Độ dài nòng
  • PK: 658 mm
  • PKS: 645 mm
  • PKT/PKB: 772 mm

  • Đạn7.62×54mmR
    Cỡ đạn7.62mm
    Cơ cấu hoạt độngNạp đạn bằng khí nén, khóa nòng xoay
    Tốc độ bắn
  • PK, PKS: 650–850 viên/phút
  • PKT/PKB: 800 viên/phút
  • Vận tốc mũiPK, PKS: 825 m/s
    Tầm bắn hiệu quả100–1.500 m tùy tầm nhìn
    Chế độ nạpDây đạn
    Ngắm bắnĐiểm ruồi

    PK (tiếng Nga:Пулемёт Калашникова, Pulemyot Kalashnikova) là loại súng máy đa năng được thiết kế từ thời Liên Xô và hiện tại Nga vẫn tổ chức sản xuất hàng loạt mẫu súng này. Loại súng này được giới thiệu vào năm 1961 để thay thế cho các khẩu súng máy tiền nhiệm là SG-43 GoryunovRPD. Nó được sử dụng để chiến đấu ngoài chiến tuyến hoặc được gắn trên các phương tiện cơ giới và loại súng này còn được Liên Xô/Nga thương mại hóa (Họ dùng để xuất khẩu với số lượng lớn cho các nước có nhu cầu đặt mua nó).

    Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

    Tổng cục pháo binh Liên Xô (GRAU) đã đề ra các yêu cầu cho một khẩu súng máy mới để trang bị cho cấp đại đội và tiểu đoàn sử dụng cỡ đạn 7.62x54mm vào năm 1955. Năm 1958, một mẫu súng máy được 2 kĩ sư là G.NikitinYuri Sokolov nghiên cứu thiết kế đã vượt qua thành công các bài kiểm tra do Quân đội Liên Xô đề ra. Thế nhưng khi súng máy Nikitin-Sokolov 1958 sắp được sản xuất hàng loạt để trang bị cho quân đội Liên Xô thì một nhóm các nhà thiết kế vũ khí của Nhà máy Cơ khí Izhevsk, đứng đầu là M.Kalashnikov-"bố đẻ" của khẩu AK-47 danh tiếng cũng đã tham gia vào dự án thiết kế. Nguyên mẫu súng máy có cơ chế chuyển động được kĩ sư Kalashnikov thiết kế dựa trên cơ chế trích khí dài với khóa nòng xoay danh tiếng trước đó đã được chứng minh bởi khẩu AK-47 của ông. Hai nguyên mẫu Kalashnikov và Nikitin-Sokolov 1958 đã trải qua hàng loạt các cuộc thử nghiệm gắt gao do quân đội Liên Xô đặt ra vào cuối năm 1960 và sau một thời gian quan sát, Ban chỉ huy tên lửa và pháo binh của Bộ Quốc phòng Liên Xô đã lựa chọn thiết kế của Kalashnikov bởi thiết kế của Kalashnikov được đánh giá là: dễ sản xuất hơn, bền hơn, đáng tin cậy hơn, rẻ hơn, dễ tháo lắp để khắc phục lỗi hơn, ít xảy ra lỗi khi chiến đấu hơn,...so với thiết kế của Grigory Nikitin và Yuri Sokolov. PK/PKS được đưa vào sản xuất tại Nhà máy cơ khí của Kovrov và sử dụng giá đỡ ba chân và hộp đựng đai đạn được thiết kế ban đầu cho súng máy Nikitin-Sokolov 1958.

    Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

    PK được thiết kế để bắn loại đạn 7.62×54mmR tiêu chuẩn sử dụng trong khẩu Mosin-Nagant. Nó sử dụng hệ thống nạp đạn bằng khí nén với khóa nòng xoay có 4 móc đạn và nó chỉ có chế độ tự động, bắn khi khóa nòng mở, làm mát bằng không khí và có thể thay nòng nhanh chóng. Sử dụng dây đạn 250 viên, các dây đạn có thể nối với nhau với bất kỳ chiều dài nào khi cần thiết.

    Loại súng này có một chân chống chữ V và có thể sử dụng một nhóm để hỗ trợ tác chiến, ngoài ra nó cũng có thể gắn trên các phương tiện cơ giới cũng như dùng để phòng không khi gắn vào bệ phòng không. Báng súng của PK có dạng khung làm bằng gỗ, cò súng cũng có thể làm bằng gỗ hay nhựa tổng hợp. Các dụng cụ làm sạch được cất trong một khoang rỗng ở báng súng.

    Giống như các mẫu thiết kế súng khác của Liên Xô đạn được đưa vào phía bên phải và vỏ đạn được nhả ra ở phía bên trái.

    Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

    PKM[sửa | sửa mã nguồn]

    PKM là mẫu hiện tại. Nó rất cơ động chỉ nặng 7,5 kg khi không có đạn.

    PKMS/MSN[sửa | sửa mã nguồn]

    PKMS là dùng để cố thủ và hỗ trợ mạnh nó có một bệ chống ba chân và nặng 12 kg. PKMSN là PKMS có hệ thống nhìn trong đêm.

    PKB[sửa | sửa mã nguồn]

    PKB là mẫu chuyên dùng để gắn trên các phương tiện cơ giới bọc giáp nhẹ lẫn giáp nặng. Nó có hai tay vịn phía sau với cò súng điện tử để thay cho tay cầm cò súng và báng súng.

    PKT[sửa | sửa mã nguồn]

    PKT là mẫu chuyên dụng để gắn trên các phương tiện cơ giới có bọc giáp nhẹ lẫn giáp mạnh (đặc biệt là xe tăng). Nó không có báng súng, nòng dài và nặng hơn có thêm khả năng trích khí tăng cường và cò súng điện tử.

    PK Pecheneg[sửa | sửa mã nguồn]

    PK Pecheneg hay PKP Pecheneg là loại vũ khí tự động phát triển từ PKM. Nó có một nòng cố định nặng bọc trong một hệ thống tản nhiệt bằng không khí bao xung quanh với khả năng sử dụng dòng đối lưu không khí tốt. Thiết kế của nó kết hợp các kinh nghiệm trong chiến dịch của Liên Xô ở Afghanistan nơi mà thời tiết nóng khiến cho các khẩu PK nhanh chóng quá tải nhiệt không thể duy trì khả năng bắn áp đảo đối phương.

    Các phiên bản nước khác[sửa | sửa mã nguồn]

    HCP PKM-NATO (Ba Lan)[sửa | sửa mã nguồn]

    Vào đầu những năm 1990, quân đội Ba Lan đã tìm kiếm mẫu để thay thế các khẩu PK khi họ đã trở thành thành viên của NATO và phải sử dụng chung loại đạn tiêu chuẩn. H.Cegielski - Poznań S.A. tại Poznań đã sửa chữa các khẩu PK/PKS để chúng có thể sử dụng được loại đạn 7.62x51mm NATO, mẫu mới này có tên PKM-NATO. Các sửa chữa bao gồm nòng nặng hơn, khoang chứa đạn lớn hơn, thiết kế lại khóa nòng cũng như toàn bộ cơ chế nạp đạn. Tuy nhiên quân đội Ba Lan đã chọn khẩu UKM-2000 cũng có nền tảng từ PKM.

    Zastava M84/M86 (Serbia)[sửa | sửa mã nguồn]

    Khẩu Zastava M84 được chế tạo từ giấy phép cho phép sao chép PK/PKS. Zastava M84 sử dụng cò súng điện tử.

    Norinco Type 80 (Cộng hòa nhân dân Trung Hoa)[sửa | sửa mã nguồn]

    Đây là bản sao chép thông qua giấy phép cho phép sao chép PKM/PKMS.

    Arsenal MG-1/MG-1M (Bulgaria)[sửa | sửa mã nguồn]

    MG-1 được chế tạo từ giấy phép cho phép sao chép PKM nhưng có báng súng và cò súng làm bằng vật liệu nhân tạo.

    Các nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

    PKM tại Iraq

    Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]