Paparazzi (bài hát của Lady Gaga)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Paparazzi"
Đĩa đơn của Lady Gaga
từ album The Fame
Phát hành 6 tháng 7 năm 2009
Định dạng CD, Tải kỹ thuật số
Thu âm 2008
Thể loại Electropop, synthpop
Thời lượng 3:28
Hãng đĩa Streamline, Kon Live, Interscope, Cherrytree
Sáng tác Lady Gaga, Rob Fusari
Sản xuất Rob Fusari
Thứ tự đĩa đơn của Lady Gaga
"Chillin"
(2009)
"Paparazzi"
(2009)
"Bad Romance"
(2009)

"Paparazzi" (tạm dịch: Thợ săn ảnh) là một bài hát của nữ ca sĩ-nhạc sĩ người Mỹ Lady Gaga. Bài hát là đĩa đơn cuối cùng trích từ album đầu tay của cô, The Fame (2008). Được viết bởi Lady Gaga và Rob Fusari, bài hát miêu tả nỗ lực của Gaga trong tìm kiếm danh vọng cũng như tình yêu trong sự nghiệp.

"Paparazzi" là đĩa đơn thứ ba của album The Fame tại Ireland, ÝVương quốc Anh, thứ tư tại Hoa KỳCanada, và thứ năm tại Úc, PhápNew Zealand. Mặc dù được phát hành vào ngày 6 tháng 7 năm 2009 tại Vương quốc Anh, "LoveGame" ban đầu được chọn là đĩa đơn thứ ba tại Vương quốc Anh, nhưng phần ca từ và video âm nhạc của bài hát gây tranh cãi, chính vì vậy "Paparazzi" đã được thay thế.[1] "Paparazzi" được các nhà phê bình đánh giá tích cực, về cả giai điệu lẫn ca từ. Bài hát gặt hái được khá nhiều thành công khi lọt vào top-ten các bảng xếp hạng tại các quốc gia Úc, Canada, Ireland, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và đạt vị trí quán quân tại các quốc gia Đức và Cộng hòa Séc.

Video của "Paparazzi" miêu tả Lady Gaga là một ngôi sao bị các tay săn ảnh bám theo và gần như đã bị chết bởi người bạn trai tồi tệ của cô. Nó cho thấy sự trở lại, sự trả thù bạn trai và những kinh nghiệm trong sự nghiệp của một ngôi sao nổi tiếng. Video đã đem lại cho Gaga hai Giải Video Âm nhạc của MTV vào năm 2009 ở hạng mục Nghệ thuật tốt nhất và Hiệu ứng đặc biệt tốt nhất.

Viết nhạc và cảm hứng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một cuộc phỏng vấn với Ron Slomowicz từ trang web About.com, Gaga nói,

Tôi một vài điều giải thích khác nhau, về ý tưởng. Bài hát nói về một vài điều khác nhau - về cuộc đấu tranh của tôi, tôi muốn nổi tiếng hay tôi muốn tình yêu? Đó cũng là điều thu hút các tay săn ảnh rơi vào tình yêu với tôi. Đó là về những phương tiện truyền thông, nếu bạn sẽ, bắt chước chơi xỏ của mình để đài của họ. Đó là một bài hát tình yêu dành cho các máy ảnh, nhưng nó cũng là một bài hát tình yêu về danh tiếng hay tình yêu - bạn có thể có cả hai, hoặc có thể bạn chỉ có một?

Trả lời tờ Daily Telegraph của Úc, Gaga giải thích rằng bài hát cũng phải vật lộn để cân bằng thành công và tình yêu. Bill Lamb từ About.com đồng tình rằng "bài hát là một cống của các loại" nhựa "cộng sinh nhưng cuối cùng giả mối quan hệ giữa các sao và các tay săn ảnh của họ dấu [...] cho tốt hơn hoặc tồi tệ hơn, là có tài liệu và, trong một ý nghĩa nào đó, tạo ra các ngôi sao ".

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lady Gaga đứng trước máy quay trong video "Paparazzi".

Paparazzi được đạo diễn bởi Jonas Akerlund – người đã từng cộng tác với nữ hoàng nhạc pop Madonna, nhóm nhạc U2 và một số gương mặt nổi tiếng khác. Trong cuộc phỏng vấn vào ngày 26 tháng 5 năm 2009, Lady Gaga cho biết: "Video này là sản phẩm sáng tạo kinh ngạc nhất mà tôi từng làm từ trước đến giờ, bản thân tôi cũng không thể ngờ được sự thành công của nó. Paparazzi giúp bạn khám phá ra những vấn đề thực tế mà bạn sẽ phải đối mặt khi trở thành một người của công chúng. Cụ thể nhất là tình dục và án mạng, đó là một số chủ đề chính xuyên suốt trong video". Cô cho biết thêm: "Tôi rất vui mừng khi có một vài cách hiểu clip Paparazzi khác nhau, và đó cũng chính là ý tưởng mà tôi muốn truyền đạt đến mọi người. Bài hát nói về những thứ khác biệt – nó nói về cuộc đấu tranh của tôi, tôi muốn nổi tiếng hay là muốn được yêu ? Đồng thời nó cũng nói về sự theo đuổi của cánh săn ảnh với tôi, cũng đề cập đến giới truyền thông, nhìn những thứ giả tạo tự biến mình thành những kẻ ngu ngốc theo cách nhìn nhận của họ. Đồng thời đây cũng là một ca khúc nói về tình yêu và sự nổi tiếng. Bạn có thể có cả hai không ? Hay chỉ có thể chọn một ?" [2]

Phần mở đầu video không phải là tiếng nhạc dồn dập, mạnh mẽ theo đúng chất nhạc dance mà thay vào đó là khung cảnh của một ngôi biệt thự êm đềm có tiếng đàn piano vang lên văng vẳng. Phía trong, Lady Gaga đóng vai một cô gái gợi cảm cùng với người bạn trai đang âu yếm với nhau. Khi ra đến sân, cánh săn ảnh đã chụp được liên tiếp những cảnh tình tứ của hai người, anh chàng này lại ép Lady Gaga phải nhìn vào camera, xô xát xảy ra và thế là Gaga bị đẩy xuống vực. Tức giận, phẫn nộ, quá thất vọng vì bị người con trai mà cô thương yêu nhất lừa dối, Lady GaGa quyết tâm trả mối nhục thù mặc cho cô còn ngồi trên xe lăn với những vết băng bó khắp người (trong video thay vào đó là trang phục kim loại). Với một bộ đồ đen vàng bó sát như chú chuột mickey, trông Lady thật xinh đẹp với kiểu tô môi son giống với những kỹ nữ Geisha của Nhật Bản, cùng với tài đóng kịch một cô bạn gái khác của anh chàng tệ bạc, cô đã lén cho gói thuốc độc vào li nước của người bạn trai và thế là anh ta lăn đùng ra chết. Hành động trả thù của Gaga đã thành công, tuy nhiên, cô lại gọi điện đến sở cảnh sát và thốt lên một câu: "Tôi chỉ giết chết người bạn trai thôi mà !". Chỉ trong tích tắc, Lady bị sở cảnh sát bắt về đồn và tòa kết án cô có tội giết người vô căn cứ.

Diễn biến trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hoa Kỳ, bài hát ra mắt trên Billboard Hot 100 ở vị trí 74 vào ngày 12 tháng 9 năm 2009 và sau đó đã leo lên đến vị trí thứ 6, trở thành đĩa đơn thứ tư của cô liên tiếp đứng tốp-ten trên bảng xếp hạng này [3]. "Paparazzi" đã giúp cho Lady Gaga sánh vai cùng với Christina Aguilera, BeyoncéFergie là những nữ nghệ sĩ duy nhất trong thập kỷ 2000-2010 khi có 4 đĩa đơn cùng trích từ album đầu tay giành vị trí top-ten tại bảng xếp hạng của Hoa Kỳ.[4] Bài hát cũng giành vị trí quán quân tại hai bảng xếp hạng "Pop 100" và "Hot Dance Club Songs" của Mỹ [5][6]. Đến nay, "Paparazzi" đã bán được 2.616.000 bản download trên mạng tại Hoa Kỳ theo Nielsen Soundscan.[7][8] Bài hát ra mắt trên "Canada Hot 100" tại vị trí 92 và leo lên đến vị trí thứ 3.[9][10][11]. "Paparazzi" lọt vào bảng xếp hạng của Úc tại vị trí 73 và sao đó đã giành vị trí á quân.[12][13] Bài hát được chứng nhận hai lần đĩa bạch kim của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc (ARIA) trao tặng [14]. Ở New Zealand, "Paparazzi" đứng vị trí thứ 23 vào ngày 22 tháng 6 năm 2009 [15] và đạt đến vị trí thứ 5 [16]. Bài hát được chứng nhận đĩa vàng của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm của New Zealand (RIANZ) chứng nhận sau 14 tuần đứng vững trên bảng xếp hạng [17].

Ca khúc ra mắt trên UK Singles ChartAnh tại vị trí 99 vào tháng 2 năm 2009 do lượng Download nhạc sau khi phát hành album The Fame và leo lên đến vị trí 13 vào ngày 21 tháng 6 năm 2009 [18]. Tuần tiếp theo ca khúc leo lên tiếp đến vị trí thứ 8 [19] và cuối cùng đừng lại tại vị trí thứ 4.[20] Bài hát này cũng đứng vị trí 38 ở Ireland [21] và leo lên đến vị trí thứ 4 [22]. "Paparazzi" giành vị trí quán quân ở Đức, trở thành đĩa đơn thứ hai của Lady Gaga quán quân ở quốc gia này.

Biểu diễn trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

A blond woman wearing a shiny black dress and her hair extended with long braids, stands on a stage. The braids fall on her left arm and continue down. Behind her, a number of twinkling lights are visible and the woman makes a gesture with her right hand.
Lady Gaga trình diễn ca khúc "Paparazzi" trong chuyến lưu diễn The Monster Ball Tour.

Gaga đã có một buổi diễn trực tiếp tại một chương trình The Album Chart ShowLiên hiệp Anh vào ngày 14 tháng 2 năm 2009 để quảng bá cho album The Fame [23]. Đến ngày 20 tháng 3 năm 2009, bài hát cũng được biểu diễn trực tiếp tại chương trình "AOL Sessions" cùng với một số ca khúc của Lady Gaga như Just Dance, LoveGame, Beautiful, Dirty, Rich bằng một phiên bản acoustic của Poker Face.[24] Gaga đã trình diễn ca khúc tại Capital FM, nơi cô ấy sử dụng một phiên bản acoustic, tương tự như đối với Poker Face. Bài hát cũng được chọn làm ca khúc mở đầu cho mỗi buổi lưu diễn của The Fame Ball Tour - chuyến lưu diễn đầu tiên của cô. Ngoài ra, cô đã hát Paparazzi bằng phiên bản Acoustic trong lễ trao giải VMAs 2009 với màn biểu diễn vô cùng ấn tượng và rùng rợn.

Sự tác động[sửa | sửa mã nguồn]

Phải nói rằng "Paparazzi" là một ca khúc có sức ảnh hưởng rất lớn từ phía cộng đồng cư dân toàn cầu. Tiêu biểu là hiện tượng câu bé Greyson Chance bất ngờ trở thành hiện tượng mới trên Youtube khi thể hiện ca khúc "Paparazzi" bên cây đàn piano. Tài năng của cậu bé đã thu hút sự chú ý của thế giới và cả với Lady Gaga. Hiện tại cậu bé đã bắt tay thực hiện album đầu tay của mình với công ty Eleveneleven. Do chính MC nổi tiếng Ellen DeGeneres lập ra.[25]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đề cử cho Giải thưởng Kết quả
2009 Giải MTV Video Music MTV Video Music Award for Best Direction Đề cử
MTV Video Music Award for Best Editing Đề cử
MTV Video Music Award for Best Special Effects Đoạt giải
MTV Video Music Award for Best Cinematography Đề cử
MTV Video Music Award for Best Art Direction Đoạt giải
Giải UK Music Video UK Music Video Awards for Best International Video Đoạt giải
2010 Giải ASCAP Ascap Pop Music Award - Most Performed Songs Đoạt giải
Giải Nickelodeon Kids' Choice Kids' Choice Awards for Favorite Song Đề cử

Danh sách ca khúc và định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Thông tin bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sáng tácLady Gaga, Rob Fusari
  • Sản xuất – Rob Fusari, Victor Korh (đồng sản xuất)
  • Chỉnh sửa âm thanh – Robert Orton
  • Piano – Lady Gaga,Rob Fusari
  • Giọng hát – Lady Gaga
  • Lập trình – Calvin "Sci-Fidelty" Gaines

Bảng xếp hạng, doanh số chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm và đương nhiệm xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền vị
"Sexy Bitch" của David Guetta hợp tác với Akon
Đĩa đơn quán quân German Singles Chart
Ngày 16 tháng 10 năm 2009 – Ngày 23 tháng 10 năm 2009
Kế vị
"Bodies" của Robbie Williams
Tiền vị
"I Gotta Feeling" của Black Eyed Peas
"Sexy Bitch" của David Guetta hợp tác với Akon
Đĩa đơn quán quân Czech Airplay Chart
Ngày 5 tháng 11 năm 2009 – Ngày 19 tháng 11 năm 2009 (Lần 1)
Ngày 3 tháng 10 năm 2009 – Ngày 17 tháng 10 năm 2009 (Lần 2)
Kế vị
"Sexy Bitch" của David Guetta hợp tác với Akon
"Hush Hush" của Pussycat Dolls
Tiền vị
"Million Dollar Bill" của Whitney Houston
Đĩa đơn quán quân ‘‘Billboard’’ Hot Dance Airplay (Mỹ)
Ngày 14 tháng 11 năm 2009 – Ngày 21 tháng 11 năm 2009
Kế vị
"Did You See Me Coming?" của Pet Shop Boys
Tiền vị
"Party in the U.S.A." của Miley Cyrus
Đĩa đơn quán quân ‘‘Billboard’’ Pop Songs (Mỹ)
Ngày 14 tháng 11 năm 2009 – Ngày 28 tháng 11 năm 2009
Kế vị
"Whatcha Say" của Jason DeRulo
Giải thưởng đề cử và đoạt giải
Tiền nhiệm:
Good Life của Kanye West
Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất
2009
Kế nhiệm:
Uprising của Muse
Tiền nhiệm:
Run của Gnarls Barkley
Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất
2009
Kế nhiệm:
Dog Days Are Over của Florence and the Machine

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Ngày
Ireland[76] 5 tháng 7, 2009 (2009-07-05)
Vương Quốc Anh[76] 6 tháng 7, 2009 (2009-07-06)
Australia[27] 10 tháng 7, 2009 (2009-07-10)
Ý[77] 17 tháng 7, 2009 (2009-07-17)
Hoa Kỳ[78] 8 tháng 9, 2009 (2009-09-08)
Đức[79] 11 tháng 9 năm 2009
Pháp[80] 7 tháng 12 năm 2009

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Lady GaGa gagged”. The Sun (bằng tiếng Anh) (News International). Ngày 11 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2009. 
  2. ^ Slomowicz, Ron (ngày 10 tháng 6 năm 2008). “Lady Gaga Interview”. About.com. The New York Times Company. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2009. 
  3. ^ a ă Pietroluongo, Silvio (ngày 8 tháng 10 năm 2009). “Jay Sean leads packed Hot 100 Top Five”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2009. 
  4. ^ Trust, Gary (ngày 24 tháng 9 năm 2009). “Chart Beat Thursday: Live-Blogging The Hot 100”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2009. 
  5. ^ Trust, Gary (ngày 3 tháng 11 năm 2009). “Lady Gaga Sets Latest Billboard Chart Record”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009. 
  6. ^ a ă Taylor, Chuck (ngày 2 tháng 11 năm 2009). “Chart Highlights: Adult Pop, Rock, Latin Songs & More”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2009.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “dance” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  7. ^ Grein, Paul (ngày 20 tháng 1 năm 2010). “Week Ending Jan. 17, 2010: 21 Million Lady Gaga Fans Can't Be Wrong”. Yahoo!. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2009. 
  8. ^ Grein, Paul (ngày 23 tháng 7 năm 2010). “Chart Watch Extra: Gaga's Nice Round Number”. Yahoo!. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2009. 
  9. ^ a ă “Canadian Hot 100”. Billboard. acharts.us. Ngày 12 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2009. 
  10. ^ “Canadian Hot 100”. Billboard. acharts.us. Ngày 27 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2009. 
  11. ^ “Canadian Hot 100”. Billboard. acharts.us. Ngày 20 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2009. 
  12. ^ “Australian Singles Chart”. Australian Recording Industry Association. acharts.us. Ngày 8 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  13. ^ a ă “Australia Singles Top 50”. Australian Recording Industry Association. acharts.us. Ngày 6 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2009. 
  14. ^ a ă “ARIA Charts - Accreditations - 2009 Singles”. Australian Recording Industry Association. Ngày 31 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2009. 
  15. ^ “New Zealand Top 40”. Recording Industry Association of New Zealand. acharts.us. Ngày 22 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2009. 
  16. ^ a ă “New Zealand Top 40”. Recording Industry Association of New Zealand. acharts.us. Ngày 17 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2009. 
  17. ^ a ă “ngày 13 tháng 9 năm 2009: New Zealand Gold Certification”. Recording Industry Association of New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2009. 
  18. ^ Sexton, Paul (ngày 15 tháng 6 năm 2009). “Kasabian, Pixie Lott Debut Atop U.K. Charts”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc.). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2009. 
  19. ^ Sexton, Paul (ngày 22 tháng 6 năm 2009). “Dave Guetta, Kelly Rowland Song 'Takes Over' U.K. Singles Chart”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  20. ^ a ă “Paparazzi UK Singles Chart peak position”. The Official Charts Company. Chartstats.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2009. 
  21. ^ “Irish Singles Chart”. Irish Recorded Music Association. acharts.us. Ngày 14 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2009. 
  22. ^ a ă “Irish Singles Chart”. Irish Recorded Music Association. acharts.us. Ngày 2 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2009. 
  23. ^ http://www.ladygaga.com/forum/default.aspx?tid=323446&cid=454
  24. ^ “AOL Radio Stations”. AOL Radio. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015. 
  25. ^ “Teenage Dream Katy Perry 2”. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2010. 
  26. ^ “UK CD Single - Paparazzi”. HMV. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2009. 
  27. ^ a ă “Australian release date”. Musicshop.com.au. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  28. ^ “Lady Gaga - Paparazzi - UK iTunes CD Single”. iTunes. Truy cập tháng 7 năm 2009.  Đã bỏ qua văn bản “06” (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  29. ^ “Lady Gaga - Paparazzi - Canadian iTunes Remix EP”. iTunes. Truy cập tháng 7 năm 2009.  Đã bỏ qua văn bản “01” (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  30. ^ “Lady Gaga - Paparazzi - Australian iTunes Remix EP”. iTunes. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2009. 
  31. ^ “Lady Gaga - Paparazzi - Ireland iTunes Remix EP”. iTunes. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2009. 
  32. ^ “Lady Gaga - Paparazzi - UK iTunes Remix EP”. iTunes. Truy cập tháng 7 năm 2009.  Đã bỏ qua văn bản “06” (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  33. ^ “Lady Gaga - US iTunes Remix EP”. iTunes. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2009. 
  34. ^ “US 'The Remixes' CD”. Interscope Records. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. 
  35. ^ “Lady Gaga - Paparazzi German iTunes Remix EP”. iTunes. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  36. ^ “Lady Gaga - Paparazzi French iTunes Remix EP”. iTunes. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  37. ^ “Lady Gaga - Paparazzi EU The Remixes CD single”. Hyangmusic.com. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2010. 
  38. ^ “Paparazzi (The Remixes Part Deux) - EP by Lady GaGa”. iTunes. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2010. 
  39. ^ a ă â b c d đ e “Lady Gaga - Paparazzi - European charts”. Ultratop 50. Hung Medien. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2009. 
  40. ^ “Brazil Hot 100 Airplay”. Billboard Brazil (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (Brazil: Nielsen Business Media, Inc) 79 (2). Ngày 1 tháng 3 năm 2010. ISSN 977-217605400-2 Kiểm tra giá trị |issn= (trợ giúp). 
  41. ^ “RADIO TOP100 Oficiální - Czech Airplay Chart”. International Federation of the Phonographic Industry. IFPIcr.cz. Ngày 5 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2009. 
  42. ^ “Paparazzi IN Dutch”. Mahasz. Ngày 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2010. 
  43. ^ “Lady GaGa Album & Song Chart History – European Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010. 
  44. ^ Reporter, SNEP (ngày 15 tháng 12 năm 2009). “Mylène Farmer entre en tête”. Syndicat National de l'Édition Phonographique (ChartsinFrance). Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2010. 
  45. ^ Reporter, MC (ngày 13 tháng 10 năm 2009). “Tokio Hotel katapultieren sich an die Spitze der Album-Charts”. Media Control Charts. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009. 
  46. ^ “Rádiós Top 40 játszási lista - Hungarian Airplay Chart”. Mahasz. Ngày 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2010. 
  47. ^ “Lady Gaga - Paparazzi”. Ultratop 50. Hung Medien. Ngày 27 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2009. 
  48. ^ “Russian Airplay Chart”. TopHit.ru. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2009. 
  49. ^ “RADIO TOP100 Oficiálna - Slovakian Airplay Chart”. International Federation of the Phonographic Industry. IFPIcr.cz. Ngày 2 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009. 
  50. ^ Trust, Gary (ngày 19 tháng 6 năm 2009). “Lady Gaga Makes Mainstream Top 40 History”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2009. 
  51. ^ “Delta Goodrem's talents top the charts”. BBC Online. Ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  52. ^ “Certificeringer marts – maj 2010”. International Federation of the Phonographic Industry (bằng tiếng Đan Mạch). Ngày 1 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2011. 
  53. ^ “Gold/Platinum datenbank”. International Federation of the Phonographic Industry Musikindustrie.de. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010. 
  54. ^ “Certificazioni Download FIMI” (PDF). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2011. 
  55. ^ “Swiss Certifications – Awards 2009”. International Federation of the Phonographic Industry. Hung Medien. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2010. 
  56. ^ “BPI - searchable datadase”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  57. ^ “Searchable Database - RIAA - Lady Gaga”. Recording Industry Association of America. Ngày 7 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010. 
  58. ^ “ARIA Charts - End Of Year Charts - Top 100 Singles 2009”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2010. 
  59. ^ “2009 Year End Austrian Singles Chart”. Ö3 Austria Top 40. 2009. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2010. 
  60. ^ “Jaaroverzichten 2009 (Flanders)” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. 2009. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010. 
  61. ^ “Rapports Annuels 2009 (Wallonia)” (bằng tiếng Pháp). Ultratop. 2009. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010. 
  62. ^ “Charts Year End: Canadian Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Ngày 31 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2010. 
  63. ^ “Dutch Top 40 Year End”. MegaCharts. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2010. 
  64. ^ “Lady GaGa Album & Song Chart History – European Hot 100”. Billboard. Nielsen Company. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010. 
  65. ^ http://proxy.siteo.com.s3.amazonaws.com/disqueenfrance.siteo.com/file/dossierdepresseecomidem2010.pdf
  66. ^ “Single Jahreschart 2009”. Media Control Charts. MTV. Ngày 31 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2009. 
  67. ^ “Éves összesített listák - MAHASZ Rádiós TOP 100 (súlyozott)”. Mahasz. Mahasz. 
  68. ^ “Classifiche annuali dei cd, dvd, compilation più venduti e digital download più scaricati online nel 2009” (bằng tiếng Italy). Federation of the Italian Music Industry. Ngày 19 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2010. 
  69. ^ http://www.rianz.org.nz/rianz/chart_annual.asp
  70. ^ “2009 Year End Swiss Singles Chart”. Swiss Music Charts. 2009. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2010. 
  71. ^ “Radio 1 to reveal best-selling singles and”. BBC (BBC Online). Ngày 31 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2010. 
  72. ^ “Charts Year End: The Billboard Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Ngày 31 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2010. 
  73. ^ “European Hot 100 Billboard.com”. archive.is. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015. 
  74. ^ “The Billboard Hot 100 2010 Year End”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Ngày 8 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2010. 
  75. ^ “Delta Goodrem's talents top the charts”. Australian Recording Industry Association (The Daily Telegraph). Ngày 7 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2010. 
  76. ^ a ă Sexton, Paul (ngày 28 tháng 5 năm 2009). “Green Day Rises To European Chart Summit”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2009. 
  77. ^ “Nova single”. Radio Web Italia. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2009. 
  78. ^ “Availabe For Airplay”. FMQB. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2009. 
  79. ^ “German CD single”. Bravado.de. Ngày 11 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010. 
  80. ^ “French CD single”. Musique.fnac.com. Ngày 7 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]