Paregoric

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chai Paregoric cũ. Khoảng những năm 1940. Chữ X lớn màu đỏ trên nhãn cho biết rằng nó được phân loại là "chất gây nghiện được miễn trừ", được bán mà không cần toa dù nó có chứa morphin.

Làm bớt đau, hoặc ướp long não cồn của thuốc phiện, hay còn gọi là tinctura camphorata opii, là một truyền thống khắc phục bằng sáng chế nổi tiếng của thuộc tính chống nôn, ho, và giảm đau.

Theo ấn bản năm 1969 của Goodman và Gilman, "Paregoric là một loại thuốc phiện 4% trong đó cũng có axit benzoic, long nãodầu hồi,... Paregoric theo truyền thống được sử dụng đặc biệt cho trẻ em. " [1]

Tên "paregoric" cũng đã được sử dụng cho một loại ngọt luộc, ban đầu (và theo một số báo cáo vẫn còn) có chứa paregoric - đặc biệt là nhãn hiệu ngọt của Army & Navy do hãng bánh kẹo Anh sản xuất.[2][3][4]

Tính chất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1944, hai bác sĩ lâm sàng đã đánh giá hành động của Paregoric, đã kết luận:

Sự tồn tại của paregoric qua nhiều thế kỷ, và đặc biệt qua các thập kỷ quan trọng gần đây, có lẽ là do quan sát lâm sàng nhạy bén và tuân thủ chặt chẽ với suy luận lâm sàng rằng paregoric hữu ích trong một số loại ho.[5]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đầu thế kỷ 18, Jakob Le Mort (1650 Ví1718),[6] một giáo sư hóa học tại Đại học Leiden, đã chuẩn bị một thuốc tiên cho bệnh hen suyễn và gọi nó là "paregoric".[7] Từ "paregoric" xuất phát từ tiếng Hy Lạp "paregoricon" ban đầu được áp dụng cho nhà nguyện - để nói, nhưng, chính xác hơn, nói qua, làm dịu,[8] và cuối cùng có cùng ý nghĩa là "anodyne".[5]

Thuốc tiên của Le Mort, bao gồm "mật ong, cam thảo, hoa của Benjamin, và thuốc phiện, long não, dầu hoa hồi, muối của cao răng và rượu mạnh", trở thành chính thức như "Elixir Asthmaticum" trong London Pharmacopoeia năm 1721. Các thành phần của nó được tập hợp từ triết lý hài hước lỗi thời và lý luận gần như khoa học của thời Phục hưng. Paregoric đã được sử dụng trong các công thức khác nhau trong hàng trăm năm.

Cuốn sách Đồng hành y tế, hoặc cuốn sách Bác sĩ gia đình từ năm 1827 [9] đã đưa ra công thức sau: "Paregoric Elixir - Lấy thuốc phiện tinh khiết, hoa Benzoin, long não và tinh dầu hạt annis, mỗi loại, hai loại rượu. Tiêu hóa trong tám hoặc mười ngày, thường xuyên lắc chai, và sau đó làm căng thuốc tiên. "

Sử dụng trong thế kỷ XX[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thế kỷ XX, việc sử dụng đã bị từ chối khi các chính phủ quy định thành phần của nó (thuốc phiện là một chất được kiểm soát ở nhiều quốc gia.)

Bắt đầu từ cuối năm 2011, có một giai đoạn mà paregoric không được sản xuất tại Hoa Kỳ. Tính đến tháng 8 năm 2012 tuy nhiên, việc sản xuất paregoric đã hoạt động trở lại.[10]

Quy định và sử dụng từ năm 1970[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến năm 1970, paregoric có thể được mua ở Hoa Kỳ tại một nhà thuốc mà không cần toa thuốc, theo luật liên bang. Luật liên bang đã ra lệnh rằng không quá hai (2) ounce paregoric sẽ được phân phối bởi bất kỳ nhà thuốc nào cho cùng một người mua trong vòng 48 giờ. Người mua cũng được yêu cầu ký vào sổ đăng ký hoặc nhật ký, và các hiệu thuốc được yêu cầu về mặt kỹ thuật để yêu cầu nhận dạng từ bất kỳ người mua nào không biết đến dược sĩ. Một số tiểu bang tiếp tục hạn chế việc bán paregoric, hoặc cấm bán hoàn toàn tại quầy. Ví dụ, luật Michigan cho phép bán paregoric không kê đơn (không kê đơn) cho đến tháng 4 năm 1964, nhưng vẫn cho phép bán OTC một số chế phẩm thuốc ho được miễn trừ có chứa 60 mg codein mỗi ounce chất lỏng." [7] Ngay cả khi luật pháp cho phép, việc bán paregoric của OTC vẫn phải tuân theo quyết định của từng dược sĩ.

Liều dùng[sửa | sửa mã nguồn]

Paregoric đôi khi bị nhầm lẫn với Laudanum, vì tên hóa học của chúng tương tự nhau: Tincture of Opium (Paregoric) vs. Rượu thuốc phiện (Laudanum). Tuy nhiên, Laudanum chứa 10 miligam morphin trên mililit, gấp 25 lần so với Paregoric. Sự nhầm lẫn giữa hai loại thuốc đã dẫn đến quá liều và tử vong ở bệnh nhân.[11]. Do đó, thuật ngữ "Paregoric" nên được sử dụng thay vì "Thuốc phiện long não", vì từ này có thể bị nhầm lẫn với Laudanum.[12]

Chỉ định[sửa | sửa mã nguồn]

Tác dụng chính của Paregoric là làm tăng trương lực cơ của ruột, ức chế nhu động bình thường và như một thuốc trừ sâu; một nghiên cứu lâm sàng được đánh giá ngang hàng vào năm 1944 đã báo cáo rằng "tất cả các thành phần [của nó] đã được tìm thấy để đóng góp cho hành động khai thác của paregoric, và, hơn nữa, một lợi thế được chứa trong sự kết hợp trên tổng tác động của từng cá nhân các thành phần, "rằng Paregoric" là tác nhân gây ra bởi phản xạ từ dạ dày "và" các chế phẩm của paregoric đã có tuổi từ hai hoặc ba năm là vượt trội so với các chế phẩm trong thời gian ngắn hơn.".[13] Dùng trong y tế chính của nó là để kiểm soát tối cấp tiêu chảy, và như một ho (ho ức chế). Các vấn đề với việc sử dụng nó bao gồm phụ thuộc thuốc phiện và giảm đau có thể che dấu các triệu chứng của các bệnh cần điều trị.

Tuy nhiên, Paregoric được mô tả là "một hỗn hợp dược lý phức tạp không cần thiết... của một ngày trước" bởi một nghiên cứu năm 1966.[7] Trong thế kỷ 21, hai công dụng chính của nó chủ yếu được thay thế bằng các thuốc ức chế ho thần kinh tối thiểu (như dextromethorphan) và thuốc chống tiêu chảy không gây tâm lý (như loperamid).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Goodman and Gilman, Pharmacological basis of therapeutics, Macmillan 1965, p. 261.
  2. ^ https://www.treasureislandsweets.co.uk/traditional-boiled-sweets/army-and-navy.html
  3. ^ http://cart.cranchs-sweetshop.co.uk/index.php?p=product&id=16&parent=0
  4. ^ http://sweetgreetingsshildon.co.uk/paynes-army-and-navy-sweets
  5. ^ a ă Boyd, EM; Maclachlan, ML (1944). “The Expectorant Action of Paregoric”. Can Med Assoc J 50: 338–44. PMC 1581631. PMID 20323061. 
  6. ^ Bibliotheca Chemica. Royal College of Science and Technology (Glasgow, Scotland), n.d., pages 24-25 2. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2010. 
  7. ^ a ă â A. Martin Lerner. “The abuse of paregoric in Detroit, Michigan (1956–1965)”. UNDOC Bulletin on Narcotics, 1966, Issue 3, pages 13-19. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2010. 
  8. ^ “paregoric” – qua The Free Dictionary. 
  9. ^ Ewell, James (1827). The Medical Companion, Or Family Physician; Treating of the Diseases of the United States, with Their Symptoms, Causes, Cure and Means of Prevention: Common Cases in Surgery, as Fractures, Dislocations, &c. The Management and Diseases of Women and Children. A Dispensatory, for Preparing Family Medicines, and a Glossary Explaining Technical Terms. To which are Added, A Brief Anatomy and Physiology of the Human Body, Shewing, on Rational Principles, the Cause and Cure of Diseases: An Essay on Hygiene, Or the Art of Preserving Health, Without the Aid of Medicine: An American Materia Medica, Pointing Out the Virtues and Doses of Our Medicinal Plants. Also, the Nurse's Guide, The Seventh Edition, Revised, Enlarged, and Very Considerably Improved. (ấn bản 7). 
  10. ^ “Current Drug Shortages - Paregoric”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  11. ^ Wharton, Francis (1855). A Treatise on the Law of Homicide: To Which is Appended A Series of Leading Cases on Homicide, Now Out of Print, or Existing Only as Manuscript. Philadelphia: Kay & Brother, 17 & 19 South Fifth Street, East Side. tr. 144. Upon an indictment for the manslaughter of a child, it appeared that the child being ill, the mother sent to a chemist for a pennyworth of paregoric; the chemist's apprentice delivered a phial, with a paregoric label on it, but with laudanum in it; and the mother, supposing it to be a paregoric, gave the child six or seven drops, which killed it. The laudanum bottle and the paregoric bottle stood side by side.  
  12. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2010. 
  13. ^ Boyd, Elden M.; MacLachan, Marian L. (1944). “The Expectorant Action of Paregoric” (PDF). Can. Med. Assoc. J. 50: 344. PMC 1581631. PMID 20323061. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 6 tháng 5 năm 2018.  The authors note: "Because of its marked expectorant action paregoric is superior to morphine, which has probably no expectorant action, and to tincture of opium which has very little expectorant action.