Park So-yeon (ca sĩ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Park So Yeon)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Park.
Park So-yeon
박소연
So @ SC showcase.jpg
So-yeon tại So Crazy Comeback Showcase, 3 tháng 8 năm 2015.
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Park In-jung (박인정)
Nghệ danh So-yeon (소연)
Sinh 5 tháng 10, 1987 (28 tuổi)
Andong, Gyeongsang Bắc,  Hàn Quốc
Nghề nghiệp Ca sĩ, Diễn viên
Thể loại K-pop, J-pop, C-pop, Electropop, Dance-pop, Ballad, R&B, EDM, Disco
Nhạc cụ Hát
Năm hoạt động 2009 (2009)–nay
Hãng đĩa MBK Entertainment
Hợp tác với T-ara, QBS
Website mbk-ent.com/main_tara
Park So-yeon
Hangul 박소연
Hanja 朴昭妍
Romaja quốc ngữ Bak So-yeon
McCune–Reischauer Pak So-yŏn
Hán-Việt Phác Tố Nghiên
Park In-jung
Hangul 박의정
Romaja quốc ngữ Bak In Jeong
McCune–Reischauer Pak Inchǒng
Hán-Việt Phác Nhân Tĩnh
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Hàn. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Park In-jung (tiếng Hàn: 박의정; sinh ngày 5 tháng 10 năm 1987) thường được biết đến với nghệ danh So-yeon (tiếng Hàn: 박소연; tiếng Nhật: ソヨン; tiếng Trung: 昭妍), là một nữ ca sĩdiễn viên người Hàn Quốc. Cô là thành viên của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc T-ara và ra mắt với vai trò là giọng ca chính, đại diện phát ngôn của nhóm từ năm 2009 cùng với thành viên Eunjung.[1]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Soyeon sinh ra tại Andong, Gyeongsang Bắc, Hàn Quốc. Năm 2005, cô tham gia và được trao giải thưởng vàng (1st Place) cho cuộc thi hát CMB Chin Chin.[2] Soyeon từng học ở trường Trung học nghệ thuật Anyang tại Anyang, Gyeonggi, Hàn Quốc.

Soyeon trước đây từng là một thực tập sinh thuộc SM Entertainment, chuẩn bị ra mắt với tư cách là một thành viên cũng như trưởng nhóm của nhóm nhạc nữ Girls' Generation.[3] Nhưng về sau, Soyeon đã rời khỏi SNSD vì lý do cá nhân.[4] Sau khi ra mắt cùng T-ara, Soyeon tiết lộ trên chương trình Taxi rằng cơ hội đến quá dể dàng và cô chưa chuẩn bị đầy đủ cho sự ra mắt.[5]

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 2013, có thông báo rằng Soyeon đã hẹn hò cùng Oh Jong-hyuk (Click B) được ba năm. Họ đã yêu nhau từ ngày 26 tháng 12 năm 2010. Theo một bài viết của Sports Seoul, DSP Media đã xác nhận mối quan hệ của họ: Oh Jong-hyuk và Soyeon có mối quan hệ rất tốt. Jong-hyuk là một chàng trai tốt bụng, cậu ấy yêu vẻ dễ thương của Soyeon. Core Contents Media cũng đã xác nhận: Gia đình hai bên đều biết về mối quan hệ này. Oh Jong-hyuk và Soyeon rất thận trọng trong chuyện tình cảm. CCM nói trên trang Xsportsnews: Oh Jong-hyuk và Soyeon tổ chức một bữa tiệc nhỏ kỷ niệm 1.000 ngày yêu cùng vài người bạn tại một quán cà phê ở Gangnam vào ngày 23 tháng 9. Họ đã gặp nhau trước khi Oh Jong-hyuk đi nhập ngũ trong 2 năm. Mặc dù T-ara có nhiều hoạt động nhưng Soyeon vẫn chờ đợi anh ấy.[6]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2009ㅡnay: T-ara[sửa | sửa mã nguồn]

Soyeon tại buổi hòa nhạc ở Hồng Kông vào ngày 10 tháng 8 năm 2013.

Soyeon là thành viên thứ 2 được thêm vào sau khi hai cựu thành viên T-ara Jiae và Jiwon rời nhóm vào giữa năm 2009.[7] T-ara là nhóm nhạc có nhiều vũ đạo sáng tạo, độc đáo và được biết đến qua các hit như "Bo Peep Bo Peep", "Roly Poly", "Cry Cry", "Lovey Dovey", "Day By Day", "Sexy Love", "Number 9", "Sugar Free", "Little Apple".[8][9][10][11][12][13][14][15] T-ara được xem là nhóm nhạc nữ K-pop nổi tiếng nhất tại Trung Quốc.[16][17] Cô được xuất hiện trên chương trình tập thể thao Invincible Baseball.

Năm 2010, Soyeon được đưa đến bệnh viện sau khi cô nói không được khỏe trong lúc quay vai diễn khách mời của mình ở bộ phim truyền hình Cao thủ học đường do Jiyeon thủ vai chính.[18]. Sau đó, cô được chẩn đoán mắc cúm H1N1 nên việc quảng bá đĩa đơn "Like The First Time" phải dừng lại.[19]

Soyeon cùng Hyomin, Jiyeon và Kang Min-kyung (Davichi), Jang Hye-jin, các cựu diễn viên nhạc kịch Han Ji-sub, Kim Jae-hee, Yoon Young-joon tham gia vở nhạc kịch mang tựa đề Our Youth, Roly Poly Musical.[20][21]

Ngày 23 tháng 12 năm 2011, T-ara và Davichi cho ra mắt bản ballad "We Were In Love" nhân dịp giáng sinh. Ca khúc giữ hạng nhất[22] trên bảng xếp hạng Gaon và hạng nhì trên Korea K-Pop Hot 100.[23] Soyeon thay thế Hyomin trở thành trưởng nhóm mới của T-ara từ ngày 7 tháng 12 năm 2011 trong lần quảng bá ca khúc "Lovey-Dovey". Cô là trưởng nhóm thứ 4 của T-ara sau Eunjung, BoramHyomin.[24][25][26]

Ngày 21 tháng 2 năm 2014, T-ara tung ra MV "First Love" của bộ ba Soyeon, HyominJiyeon, ca khúc được sáng tác bởi Cho Young-soo và nằm trong album All-Star của nhạc sĩ này.[27] "First Love" là một bản Tango pha với một chút rap của nữ rapper tân binh EB, rất phù hợp với chất nhạc đặc trưng của nhóm.[28][29] Video nhạc được thực hiện khá đơn giản như một số video nhạc của dự án khác với cảnh làm việc, ghi âm trong phòng thu mộc mạc.[30]

Ngày 7 tháng 2 năm 2015, Soyeon cùng Eunjung và Cho Seunghee, Minkyung (The SeeYa), Ki-o, Jongkook và Sejoon (SPEED). Sản phẩm mang tên "Don't Forget Me".

2013ㅡnay: QBS[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 2013, Soyeon thể hiện ca khúc solo tiếng Nhật "Love Poem" và "Sign" (song ca cùng Areum) - hai phiên bản của "Bunny Style!". Tháng 6 năm 2013, Soyeon cùng Boram và Qri cho ra mắt nhóm nhỏ QBS với đĩa đơn đầu tay "Like The Wind".[31][32]

2012ㅡnay: Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Soyeon tham gia diễn xuất trong bộ phim Haeundae Lovers[33] vai Lee Gwan-soon, được phát sóng vào ngày 13 tháng 8 năm 2012.[34]

Năm 2015, Soyeon trở lại màn ảnh diễn xuất qua Sweet Temptation Episode 1: Fantasy Girlfriend trong vai So Hee.

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Soyeon cũng tham gia hát nhạc phim cho phim Death Bell 2, Gisaeng Ryeong và Coffee House của đài SBS.

Ngày 16 tháng 11 năm 2013, ngày 15 tháng 11 năm 2014 và ngày 28 tháng 11 năm 2015, Soyeon cùng Lee Hwi-jae, Kim Sung-joo và Lee Hoon làm MC cho giải phim truyền hình APAN Star Awards.

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai trò Kênh
2010 Giants Khách mời SBS
Cao thủ học đường Khách mời KBS2
2012 Haeundae Love Vai Lee Gwan-soon KBS2

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai trò
2011 Gisaeng Ryung Khách mời
2015 Baby Good Girl So-hee

Đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Album Ca khúc Ghi chú
2009 Absolute First Album "Time To Love" Cùng Eunjung, Hyomin, Jiyeon và Kwangsu, Jihyuk, Geonil
Absolute First Album "TTL Listen 2" Cả T-araSupernova
2012 Funky Town "We Were In Love" Cùng Hyomin, Jiyeon, Hwayoung và Lee Hae-ri, Kang Min-kyung
2013 "Bunny Style!" "Sign" Cùng Areum
"Bunny Style!" "Love Poem" Hát đơn
"Like The Wind" (QBS) Cùng BoramQri
2014 "First Love" Cùng HyominJiyeon
2015 White Snow "Don't Forget Me" Cùng Hahm Eunjung và Song Minkyung, Cho Seunghee, Jongkook, Sejoon, Seungri

Ca khúc hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Album Ca khúc Ghi chú
2011 Ahn Young-min A-Family, Part 3 "Song For You" Cùng Ahn Young Min
2012 Together "I Know" Cùng Lee Bo-ram và Yangpa
2013 Tears Of Mind "Painkiller" Cùng Seong Yoo-jin, Seo Eun-kyo, Taewoon và Choi Sung-min

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu đề Năm Vị trí trên bảng xếp hạng Album
KOR Gaon
[35]
KOR Billboard
[36]
"Page One" (Part 2)
(với Ock Joo-hyun)
2010 Coffee House OST
"What Should We Finish?" (뭐라고 끝낼까) Death Bell 2 OST Part 1
"Until the End"
(với Lee Bo-ram)
2011 Gisaeng Ryeong OST
"Page One"
(với Ock Joo-hyunLee Seok-hun)
25 30 Coffee House OST
"—" Không có xếp hạng hoặc không phát hành tại bảng xếp hạng đó.

Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Nhạc kịch Vai trò Ghi chú
2012 Our Youth, Roly Poly Musical Oh Hyun-joo Cùng HyominJiyeon)

Chương trình tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Show Vai trò Kênh
2009 Radio Star Tham gia MBC
Star King Tham gia SBS
2009 - 2010 Invincible Baseball Cổ vũ KBS
2010 You Hee-yeol's Sketchbook Tham gia KBS
Taxi Tham gia tvN
Star King Tham gia SBS
Challenge 1000 Song Tham gia KBS2
Dream Girls Tham gia Mnet
Hello Baby Tham gia KBS
Bouquet Tham gia MBC
Idol Trot Wars Tham gia MBC
Star Golden Bell Tham gia KBS
2010 - 2011 100 Points Out Of 100 Tham gia KBS2
2011 Star King Tham gia SBS
Challenge 1000 Song Tham gia KBS2
Secret Tham gia KBS
Vitamin Tham gia KBS
Happy Together Tham gia KBS
Win Win Tham gia KBS2
Beatles Code Tham gia Mnet
2012 Weekly Idol Tham gia MBC Every
Naughty Boys Tham gia JTBC
2013 Challenge 1000 Song Tham gia KBS2
SimSimTaPa Tham gia MBC
2014 Moon Hee Jun's Pure Tham gia Mnet
Weekly Idol Tham gia MBC Every
Star King Tham gia SBS
Hidden Singer Tham gia JTBC
2015 A Song For You 4 Tham gia KBS2
Idol Star Athletic Championship 2015 Tham gia MBC

Hình ảnh khác[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kata, Redaksi Lingua. K10; The Best 10 Korean Boy Band & Girl Band. Lingua Kata. Truy cập 15 tháng 5 năm 2016. 
  2. ^ 함은정, "티아라' 소연, "소녀시대 탈퇴? 의지가 부족했다". (bằng tiếng Hàn). Nate. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2016.
  3. ^ “티아라 소연 "소녀시대는 과거일뿐, 선의의 경쟁 펼칠터"(단독 인터뷰)” (bằng tiếng Hàn). Newsen. 5 tháng 7 năm 2009. Truy cập 7 tháng 6 năm 2016. 
  4. ^ “Behind-the-stories of K-pop girl bands” (bằng tiếng Anh). The Korea Times. 23 tháng 2 năm 2016. Truy cập 16 tháng 5 năm 2016. 
  5. ^ 함은정, "티아라 소연 "소녀시대 탈퇴 후 가장 힘들었다"(인터뷰). (bằng tiếng Hàn). Starnews. April 13, 2010. Retrieved June 21, 2011.
  6. ^ Hồng Giang (26 tháng 9 năm 2013). “Soyeon (T-ara) bị phát hiện bí mật hẹn hò suốt 3 năm”. Zing News. Truy cập 12 tháng 6 năm 2016. 
  7. ^ “Behind-the-stories of K-pop girl bands” (bằng tiếng Anh). The Korea Times. 23 tháng 2 năm 2016. Truy cập 16 tháng 5 năm 2016. 
  8. ^ Mark, Russell. K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. Tuttle. Truy cập 15 tháng 5 năm 2016. 
  9. ^ jbarky (17 tháng 7 năm 2012). “T-ara to Do a Pantomime Robot Dance for “Sexy Love”” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 25 tháng 3 năm 2016. 
  10. ^ Phương Thảo (31 tháng 10 năm 2013). “Các MV đậm chất kinh dị xứ Hàn”. Zing News. Truy cập 25 tháng 3 năm 2016. 
  11. ^ Thu Trang (2 tháng 8 năm 2012). “5 bản hit làm nên tên tuổi T-ara”. VnExpress. Truy cập 23 tháng 3 năm 2016. 
  12. ^ An Bình (3 tháng 1 năm 2012). “T-ara tung hàng khủng Lovey Dovey đầy ám ảnh”. VnExpress. Truy cập 18 tháng 5 năm 2016. 
  13. ^ Hong, Grace Danbi (11 tháng 9 năm 2014). “T-ara Hits the Clubs for ‘Sugar Free’ with Two MVs”. CJ E&M enewsWorld (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2015. 
  14. ^ Lee Sung-eun (11 tháng 9 năm 2014). “T-ara unveils ‘Sugar Free’ vid” (bằng tiếng Anh). Korea JoongAng Daily. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  15. ^ Phúc Chi (24 tháng 11 năm 2014). “T-ara làm mới ca khúc Hoa ngữ đình đám”. Zing News. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  16. ^ “T-ara's China debut becoming a hot issue” (bằng tiếng Hàn). Korea Economic Daily (The Star News). Truy cập 6 tháng 6 năm 2016. 
  17. ^ “A detailed analysis of T-ara's immense popularity in China” (bằng tiếng Hàn). JoongAng Ilbo. 17 tháng 8 năm 2015. Truy cập 6 tháng 6 năm 2016. 
  18. ^ “티아라 불량소녀 변신 ‘공부의 신’ 특별 출연” (bằng tiếng Hàn). Newsen. 10 tháng 1 năm 2010. Truy cập 7 tháng 6 năm 2016. 
  19. ^ “티아라 소연 ‘공신’ 촬영 중 실신 응급실行 ‘신종플루 의심판정’ - 손에 잡히는 뉴스 눈에 보이는 뉴스 - 뉴스엔” (bằng tiếng Hàn). Newsen. 28 tháng 1 năm 2010. Truy cập 7 tháng 6 năm 2016. 
  20. ^ Sunwoo Carla (9 tháng 12 năm 2011). “T-ara the musical” (bằng tiếng Hàn). Korea JoongAng Daily. Truy cập 9 tháng 6 năm 2016. 
  21. ^ Lee Claire (5 tháng 1 năm 2012). “T-ara reel in the years in retro musical” (bằng tiếng Hàn). The Korea Herald. Truy cập 9 tháng 6 năm 2016. 
  22. ^ “2012년 01주차 Digital Chart” (bằng tiếng Hàn). Gaon Chart. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  23. ^ “Korea K-Pop Hot 100: January 14, 2012” (bằng tiếng Anh). Billboard. Truy cập 8 tháng 3 năm 2016. 
  24. ^ Kim, JiYeon (7 tháng 12 năm 2011). “Hyo Min No Longer T-ara′s Leader” (bằng tiếng Anh). Mwave. Truy cập 11 tháng 6 năm 2016. 
  25. ^ 티아라, 효민에서 소연으로 갑적스런 리더 교체 왜. (bằng tiếng Hàn). Nate. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2011.
  26. ^ An Bình (7 tháng 12 năm 2011). “T-ara thay trưởng nhóm, tung teaser 'bom tấn'. VnExpress. Truy cập 11 tháng 6 năm 2016. 
  27. ^ “조영수 All Star - 티아라” (bằng tiếng Hàn). Melon. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  28. ^ “T-ARA Releases New Song “First Love” Along With a Music Video” (bằng tiếng Anh). KpopStarz. 22 tháng 2 năm 2014. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  29. ^ kimpossible (18 tháng 2 năm 2014). “T-ara Gives Special Interview for Cho Young Soo’s “First Love”” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  30. ^ “T-ARA & Jo Youngsoo to Release “First Love” on the 21st” (bằng tiếng Anh). KpopStarz. 20 tháng 2 năm 2014. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  31. ^ “ナタリー - T-ARA内新ユニット「QBS」にキュリ、ボラム、ソヨン”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2013. 
  32. ^ “T-ARA内新ユニット「QBS」にキュリ、ボラム、ソヨン” [T-ara new sub unit, QBS with Qri, Boram and Soyeon.]. Natalie (bằng tiếng Nhật). Ngày 17 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2013. 
  33. ^ “T-ara's Soyeon Joins "Haeundae Lovers". Soompi. 26 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2012. 
  34. ^ “T-ara's Soyeon Joins "Haeundae Lovers" (bằng tiếng Anh). Soompi. 26 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2012. 
  35. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên gaondigital
  36. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên billboardkpop

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]