Pencak silat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Pencak Silat)
Silat (vietnamese).jpg

Pencak-Silat là một môn võ xuất phát từ Indonesia. Các kiểu đánh của môn võ này khác nhau tùy theo vùng và thường mô phỏng theo động tác của các con vật như loài hổ (Harimau), đại bàng (Garuda), v.v... Ngày nay, môn võ này có rất nhiều kiểu đánh khác nhau vì mỗi võ sĩ Pesilat đều có thể tự sáng tác ra các động tác cho riêng mình để làm phong phú cho môn phái.

Ngoài ra, cần phải phân biệt giữa hai loại Silat chính đó là Silat Seni (Silat Melayu) và Pencak Silat. Nếu nói Pencak Silat là môn võ Silat của Indonesia thì Silat Seni là một môn võ Silat của Malaysia có nguồn gốc từ vùng Mã Lai. Các kỹ thuật của Silat Seni xoay quanh các động tác "nhu" nên chuyển động với lối đánh thường rất mềm mại và uyển chuyển. Còn Pencak Silat là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các kỹ thuật "cương" và "nhu". Trong khi Pencak Silat được ví như một phiên bản thi đấu thể thao của Silat và dùng để tự vệ thì Silat Seni là một sự am hiểu sâu sắc nhiều hơn về bộ môn Silat cũng như khía cạnh nghệ thuật sinh tồn của môn võ này. Năm 2019, Pencak Silat được Unesco công bố là di sản văn hoá của Indonesia.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Bức phù điêu cảnh chiến đấu tại Đền Prambanan mô tả vũ khí thời đó như kiếm, khiên, gậy, cung và một con dao găm giống kris

Lịch sử truyền miệng của Indonesia bắt đầu với truyền thuyết thần thoại về sự xuất hiện của Aji Saka (vị vua nguyên thủy) từ Ấn Độ đến Java. Theo yêu cầu của người dân địa phương, anh ta đã giết thành công vua Dewata Cengkar của Medang Kamulan trong trận chiến và thay thế ông ta làm người cai trị. Câu chuyện này theo truyền thống đánh dấu sự trỗi dậy của Java và buổi bình minh của nền văn minh Pháp của nó. Câu chuyện cũng minh họa ảnh hưởng của Ấn Độ đối với văn hóa Indonesia và Đông Nam Á nói chung. Aji Saka được thể hiện là một chiến binh và kiếm sĩ, trong khi những người hầu của ông cũng được miêu tả là chiến đấu bằng dao găm. Phương pháp đấu dao của người Ấn Độ được các dân tộc Batak và Bugis - Makassar phỏng theo. Nghệ thuật Indonesia cổ đại từ thời kỳ này cũng mô tả các chiến binh cưỡi trên voi cầm vũ khí của Trung Quốc như kiếm jian hoặc kiếm hai cạnh thẳng, hiện vẫn được sử dụng ở Java.

Bằng chứng sớm nhất về việc pencak silat được dạy theo cách có cấu trúc đến từ thế kỷ thứ 6 ở Cao nguyên Minangkabau của Tây Sumatra. Minangkabau có một chính quyền phong kiến ​​dựa trên thị tộc. Các sĩ quan quân đội được gọi là hulubalang đóng vai trò như vệ sĩ cho nhà vua hoặc yam tuan. Các chiến binh Minang được phục vụ không lương. Việc cướp bóc được chia cho họ theo công trạng quân sự, vì vậy các chiến binh cố gắng vượt qua nhau. Họ là những kỵ sĩ lành nghề với ngựa bản địa và cũng là những thợ rèn lưỡi lão luyện, sản xuất vũ khí cho mục đích riêng của họ và để xuất khẩu sang Aceh. Xã hội Minang truyền thống dựa trên phong tục mẫu hệ, vì vậy pencak silat thường được phụ nữ thực hiện. Khi pencak silat trở nên phổ biến ở Srivijaya , đế chế đã bị đánh bại bởi Tamil Cholas ở miền nam Ấn Độ vào thế kỷ 13. Nghệ thuật chiến đấu bằng gậy Tamil của silambam vẫn là hệ thống chiến đấu phổ biến nhất của người Ấn Độ ở Đông Nam Á ngày nay.

Trong thế kỷ 13, Ken Arok , một tù trưởng đã trở thành một anh hùng tự lập và là người cai trị, tiếp quản quyền lực từ Vương quốc Kediri và thành lập Vương triều Rajasa . Điều này phản ánh khá nhiều nền văn hóa jago (nhà vô địch của nhân dân) của Java cổ đại, nơi một người đàn ông tinh ranh tự lập thành thạo võ thuật, có thể tập hợp ủng hộ và chiếm lấy vương quốc. Người kế vị ông, chiến binh-vua Kertanegara của Singhasari đã chinh phục Vương quốc Melayu , Quần đảo Maluku, Bali, và các khu vực lân cận khác. Từ 1280 đến 1289, Hốt Tất Liệt phái sứ giả yêu cầu Singhasari phục tùng Thành Cát Tư Hãn như Jambi và Melayu đã làm, nhưng Kertanegara đáp lại một cách thách thức bằng cách để lại sẹo trên khuôn mặt của sứ thần cuối cùng. Hốt Tất Liệt đã trả đũa bằng cách cử một đoàn thám hiểm trừng phạt gồm 1000 người tới Java, nhưng Kertanegara đã bị một chư hầu ở Kediri giết trước khi quân Nguyên đến. Con rể của ông là Raden Wijaya thay thế Kertanegara làm thủ lĩnh và liên minh với quân đội Mông Cổ đang đến. Với sự giúp đỡ của họ, Raden Wijaya đã có thể đánh bại lực lượng Kediri. Với những chiến binh được đào tạo bài bản của mình, Raden Wijaya sau đó đã đánh bật quân Mông Cổ để họ chạy về Trung Quốc. Ngôi làng do ông thành lập đã trở thành đế chế Majapahit. Đây là đế chế đầu tiên thống nhất toàn bộ Indonesiacác hòn đảo lớn của nó, và pencak silat đã đạt đến đỉnh cao về kỹ thuật trong thời kỳ này. Ở Majapahit, pencak silat trở thành tài sản chuyên biệt của giới quý tộc và những bí mật cao cấp của nó được giấu kín với dân thường.

Các hệ phái[sửa | sửa mã nguồn]

Silek harimau
Silek Harimau

Ngày nay người ta chia môn silat thành 7 hệ phái chính:

  • Hệ phái Hồi giáo, trong đó yêu cầu võ sinh phải theo Hồi giáo và biết đọc kinh Qur'an;
  • Hệ phái mở cho tất cả mọi người, đặc trưng bởi sự chuyên về các phương pháp tự vệ và xuất hiện trong những năm 1940 (silat hiện đại);
  • Các hệ phái thể thao dạy môn silat thi đấu gần giống môn đấm bốc có dùng chân;[cần dẫn nguồn]
  • Các hệ phái truyền thống dân gian chủ yếu dạy silat để biểu diễn trong các đám cưới hay để biểu diễn cho khách du lịch;
  • Các hệ phái kín trong đó người ta dạy các chiêu thức độc đáo nhất; chỉ dành cho những người được tin cẩn hay có được một sự tiến cử nào đó;
  • Các hệ phái đang trên đà biến mất (do các yếu tố dị giáo đối với đạo Hồi), tuy nhiên vẫn còn tồn tại tại một số vùng hẻo lánh của Sunda tại Indonesia;
  • Các hệ phái lai tạp chuyên dạy silat phù hợp với người phương Tây; các hệ này chủ yếu có tại Mỹ và châu Âu.

Ngày nay, rất nhiều nước đã chấp nhận silat là môn thể thao quốc gia và tổ chức các giải thi đấu như tại Bỉ, Áo, Hà Lan và tại các nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia và Việt Nam...

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

https://www.youtube.com/watch?v=_kLYB9dm-5A

https://www.youtube.com/watch?v=1LMwpE0QwbY