Peptide

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một tetrapeptidee (ví dụ Val-Gly-Ser-Ala) với
xanh lá cây đánh dấu đầu cuối amino (L-Valine) và
xanh da trời đánh dấu đầu cuối carboxyl (L-Alanine).

Peptide (từ tiếng Hy Lạp πεπτός., "Tiêu hóa", xuất phát từ πέσσειν, "tiêu hóa") là những hợp chất chứa từ 2 đến 50 gốc α - aminoaxit liên kết với nhau bằng các liên kết peptide.

Các liên kết hóa học kết cộng hóa trị được hình thành khi các nhóm carboxyl của một amino axit phản ứng với các nhóm amin khác. Các peptide ngắn nhất là dipeptide, gồm 2 axit amin tham gia của một peptide duy nhất, tiếp theo là tripeptide, tetrapeptide, vv... Một polypeptide là một chuỗi peptide dài, liên tục, và không phân nhánh. Do đó, các peptide thuộc lớp hóa chất rộng của oligomer sinh học và polyme, cùng với axit nucleic, oligosaccharit và polysaccharit, vv...

Peptide được phân biệt với các protein trên cơ sở kích thước, và như một mốc chuẩn tùy ý có thể được hiểu là có chứa khoảng 50 hoặc ít axit amin[1][2]. Protein bao gồm một hoặc nhiều polypeptide sắp xếp một cách sinh học chức năng, thường bị ràng buộc để phối tử như coenzyme và đồng yếu tố, hoặc đến một protein hoặc đại phân tử khác (DNA, RNA, vv...), hoặc đối với các tổ hợp đại phân tử phức. Cuối cùng, trong khi các khía cạnh của các kỹ thuật phòng thí nghiệm áp dụng cho các peptide so với polypeptide và protein khác nhau (ví dụ, các chi tiết cụ thể của điện di, sắc ký, vv), ranh giới phân biệt kích thước đó peptide từ polypeptide và protein không phải là tuyệt đối: peptide dài như amyloid beta đã được gọi là protein và các protein nhỏ hơn như insulin đã được coi là peptide. Axit amin đã được tích hợp vào các peptide được gọi là "cặn bã" do việc phóng thích của cả một ion hydro từ cuối amin hoặc một ion hydroxyl từ cuối carboxyl, hoặc cả hai, như một phân tử nước được giải phóng trong quá trình hình thành của mỗi liên kết amide. Tất cả các peptide trừ peptide cyclic có một dư lượng đầu cuối N và đầu cuối C ở cuối các peptide (như được hiển thị cho các tetrapeptiy trong ảnh).

Phản ứng[sửa | sửa mã nguồn]

Khi thủy phân hoàn toàn tùy theo môi trường mà sản phẩm của phản ứng khác nhau:

Nếu trong môi trường trung tính: n-peptide + (n-1)H2O → aminoaxit.

Nếu trong môi trường axit HCl: n-peptide + (n-1)H2O + (n+x)HCl → muối amoniclorua của aminoaxit. Trong đó x là số mắt xích Lysin trong n - peptide

Trong môi trường bazơ NaOH: n-peptide + (n+y) NaOH → muối natri của aminoaxit + (y +1) H2O với y là số mắt xích Glutamic trong n-peptide.

Trường hợp thủy phân không hoàn toàn peptide thì chúng ta thu được hỗn hợp các aminoaxit và các oligopeptide. Khi gặp bài toán dạng này chúng ta có thể sử dụng bảo toàn số mắt xích của một loại aminoaxit nào đó kết hợp với bảo toàn khối lượng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ IUPAC. Compendium of Chemical Terminology, 2nd ed. (the "Gold Book"). Compiled by A. D. McNaught and A. Wilkinson. Blackwell Scientific Publications, Oxford (1997). XML on-line corrected version: http://goldbook.iupac.org (2006-) created by M. Nic, J. Jirat, B. Kosata; updates compiled by A. Jenkins. ISBN 0-9678550-9-8. doi:10.1351/goldbook.P04898.
  2. ^ “What are peptides”. Zealand Pharma A/S. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2014.